Nghiên cứu giá trị của siêu âm bơm dịch trong chẩn đoán bất thường tử cung - Vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh

Giới thiệu: Vô sinh do vòi tử cung là nguyên nhân rất thường gặp, chiếm tỷ lệ 30 - 40%

trường hợp vô sinh nữ. Khảo sát kinh điển độ thông vòi tử cung và buồng tử cung thường

được chỉ định là chụp phim có bơm thuốc cản quang vào buồng tử cung. Kỹ thuật này tiềm

ẩn nguy cơ dị ứng với thuốc cản quang, phơi nhiễm tia X và độ đặc hiệu không tối ưu. Đề

tài này nhằm mục đích đánh giá kết quả của việc ứng dụng siêu âm qua đường âm đạo kết

hợp bơm dịch muối sinh lý vào buồng tử cung để khảo sát hình ảnh tử cung – vòi tử cung

ở các trường hợp vô sinh. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang ở 115 trường hợp vô sinh

đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế thông qua khám lâm sàng, siêu âm

phụ khoa đường âm đạo, siêu âm bơm dịch vào buồng tử cung và chụp phim cản quang tử

cung – vòi tử cung

pdf 9 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu giá trị của siêu âm bơm dịch trong chẩn đoán bất thường tử cung - Vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu giá trị của siêu âm bơm dịch trong chẩn đoán bất thường tử cung - Vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh

Nghiên cứu giá trị của siêu âm bơm dịch trong chẩn đoán bất thường tử cung - Vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh
206 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM BƠM DỊCH 
TRONG CHẨN ĐOÁN BẤT THƯỜNG TỬ CUNG - VÒI 
TỬ CUNG Ở CÁC TRƯỜNG HỢP VÔ SINH
Lê Minh Tâm*, Lê Thị Hồng Vũ**
Tóm tắt
Giới thiệu: Vô sinh do vòi tử cung là nguyên nhân rất thường gặp, chiếm tỷ lệ 30 - 40% 
trường hợp vô sinh nữ. Khảo sát kinh điển độ thông vòi tử cung và buồng tử cung thường 
được chỉ định là chụp phim có bơm thuốc cản quang vào buồng tử cung. Kỹ thuật này tiềm 
ẩn nguy cơ dị ứng với thuốc cản quang, phơi nhiễm tia X và độ đặc hiệu không tối ưu. Đề 
tài này nhằm mục đích đánh giá kết quả của việc ứng dụng siêu âm qua đường âm đạo kết 
hợp bơm dịch muối sinh lý vào buồng tử cung để khảo sát hình ảnh tử cung – vòi tử cung 
ở các trường hợp vô sinh. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang ở 115 trường hợp vô sinh 
đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế thông qua khám lâm sàng, siêu âm 
phụ khoa đường âm đạo, siêu âm bơm dịch vào buồng tử cung và chụp phim cản quang tử 
cung – vòi tử cung. Kết quả: siêu âm bơm dịch phát hiện 30,4% (35/115) trường hợp vô sinh 
có bất thường buồng tử cung và vòi tử cung. Với 11 trường có bất thường buồng tử cung qua 
siêu âm, phim chụp cản quang chỉ phát hiện được 5 trường hợp. Tỷ lệ phát hiện bất thường 
độ thông vòi tử cung qua siêu âm bơm dịch khá tốt so với chụp phim (19,1% vs 17,4%). Tuy 
nhiên, siêu âm không xác định được vị trí tắc hay giãn vòi tử cung. Một số yếu tố như độ 
tuổi trên 35 (p=0,02; OR=2,87; CI95%: 1,11-7,48), cư dân vùng thành thị (p=0,01), vô sinh thứ 
phát (p=0,001; OR=4,21; CI95%: 1,82-9,76), nhiễm Chlamydia (p=0,01; OR=13,17; CI95%: ) và 
áp lực bơm dịch nặng tay (p=0,00; Ỏ 17,11) làm tăng tỷ lệ bất thường khi siêu âm bơm dịch. 
Tỷ lệ biến chứng do siêu âm thấp hơn chụp phim cản quang. Nhược điểm của phương pháp 
là không xác định được vị trí tắc khi không thấy dịch đi qua loa vòi tử cung. Kết luận: siêu 
âm bơm dịch muối sinh lý là một phương pháp đơn giản, ít tốn kém và rất hiệu quả để khảo 
sát tử cung – vòi tử cung ở những trường hợp vô sinh, có giá trị tương đương với phim chụp 
cản quang thường quy và đồng thời giúp phát hiện nhiều trường hợp bất thường sinh dục 
nhờ siêu âm mà qua chụp phim không thể đánh giá được.
Abstract: 
Assessment of uterine cavity and Fallopian tube patency by sonohysterography 
with saline solution
Introduction: Fallopian tube damage is a common cause, accounting for 30-40% of infertile 
women. Assessment of uterine cavity and Fallopian tube patency is a routine indication 
with hystero-salpingo graphy (HSG). This technique potentially has risk of allergy, X-ray 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 206-214, 2012
Lê Minh Tâm/Lê Thị Hồng Vũ l 207
exposure and specificity is not optimal. This research aims to evaluate the application 
of vaginal ultrasound combined pumping saline solution into the uterus to examine 
images of the uterus – fallopian tube in cases with infertility. Study design: cross-sectional 
descriptive study in 115 cases with infertility examined at Hue University Hospital through 
clinical examination, gynecological transvaginal ultrasound, pumping normal saline into 
the uterus and then did HSG at the same period. Results: The abnormalities detected in 
30.4% (35/115) cases of infertility. In 11 cases have abnormal uterine cavity diagnosed by 
ultrasound, HSG detected only 5 cases. The rate of abnormal sonohysterography results 
are quite good compared to HSG (19.1% vs 17.4%). However, ultrasound can not determine 
the position occlusion of tube. A number of factors such as age over 35 (p = 0.02; OR = 2.87; 
CI95%: 1.11 to 7.48), urban residents (p = 0.01), secondary infertility (p = 0.001; OR = 4.21; 
CI95%: 1.82 to 9.76), chlamydia infection (p = 0.01, OR = 13.17; CI95%:) and high pressure 
pumping (p = 0.00; OR=17.11) increased the rate of abnormal sonohysterography scan. 
The rate of complications caused by ultrasound is lower than by HSG. Disadvantages of 
sonohysterography with saline is impossible to identify the position of tubal occlusion if 
it does not pass through the end of tube. Conclusion: Hystero-salpingo sonography with 
saline is a simple method, inexpensive and very effective to assess the uterine cavity and 
tubal patency in cases with infertility, with similar results compare to HSG and even offer 
further detection of genital abnormalities which are missed by HSG.
*Trường Đại học Y Dược Huế; **Cao học Chẩn đoán hình ảnh
Đặt vấn đề
Bất thường vòi tử cung là nguyên nhân 
thường gặp thứ hai, chiếm tỉ lệ khoảng 30 
- 40 % các trường hợp vô sinh nữ [13]. Tổn 
thương vòi tử cung như tắc, chít hẹp, giãn, 
ứ dịch có thể do viêm nhiễm đường sinh 
dục, tiền sử phẫu thuật vùng chậu, vòi tử 
cung, bất thường bẩm sinh hay lạc nội mạc 
tử cung. Ngoài ra, bất thường tại tử cung 
cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến giảm 
khả năng thụ thai của người phụ nữ, với 
một số bệnh lý có thể gặp như polyp buồng 
tử cung, u xơ dưới niêm mạc, quá sản niêm 
mạc tử cung, dính buồng tử cung, các bất 
thường bẩm sinh buồng tử cung hay ung 
thư niêm mạc tử cung [15].
Cho đến nay, việc khảo sát đường sinh 
dục nữ ở các trường hợp vô sinh chủ yếu 
dựa vào các phương tiện chẩn đoán hình 
ảnh như siêu âm phụ khoa qua đường bụng 
hay đường âm đạo, chụp phim tử cung - vòi 
tử cung có thuốc cản quang, nội soi buồng tử 
cung và trong một số trường hợp nghi ngờ 
có thể chỉ định chụp cắt lớp vi tính, chụp 
cộng hưởng từ, sinh thiết buồng tử cung 
làm mô bệnh học[6][8][11]. Độ thông của 
vòi tử cung là một yếu tố bắt buộc để người 
phụ nữ có thể mang thai tự nhiên với trứng 
rụng từ buồng trứng. Trong thực hành, chụp 
phim tử cung - vòi tử cung có bơm thuốc cản 
quang được chỉ định một cách thường quy 
để khảo sát độ thông của vòi tử cung [8]. 
Tuy nhiên, phương pháp này có một số hạn 
chế nhất định như phơi nhiễm tia X đặc biệt 
cho mô buồng trứng, dị ứng chất cản quang, 
không khảo sát được một số bất thường 
liên quan đến tử cung và phần phụ [6]. Tiêu 
chuẩn vàng hiện nay vẫn là nội soi ổ bụng 
đánh giá hình thái và độ thông vòi. Với nội 
soi, đòi hỏi phải gây mê, có tính xâm nhập, 
tiền ẩn một số nguy cơ về tai biến và không 
thể xem là một phương pháp sàng lọc [8].
Từ nhiều năm trước đây, siêu âm đường 
âm đạo kết hợp bơm nước muối sinh lý vào 
buồng tử cung được sử dụng để chẩn đoán 
một số bệnh lý phụ khoa liên quan đến tử 
208 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
cung - vòi tử cung như polyp buồng tử cung, 
u xơ dưới niêm mạc, tắc vòi tử cung và được 
xem như một chỉ định thường quy khi siêu 
âm phụ khoa có nghi ngờ [1]. Đây là một 
phương pháp chẩn đoán ít xâm nhập, đơn 
giản, dễ thực hiện, ít tốn kém nhưng có độ 
nhạy và độ đặc hiệu khá cao, được chỉ định 
rộng rãi, có thể làm nhiều tuyến cơ sở y tế, 
phù hợp với kết quả sinh thiết buồng tử cung 
và cũng có thể thay thế nội soi buồng tử cung 
[6][14][15]. Đề tài nghiên cứu hình ảnh tử cung 
- vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh bằng siêu 
âm bơm dịch nhằm mục đích đánh giá hiệu 
quả của phương pháp trong việc chẩn đoán 
một số bất thường của tử cung phần phụ. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Tổng cộng 115 trường hợp được chẩn 
đoán là vô sinh theo tiêu chuẩn của Tổ chức 
Y tế thế giới, đến khám tại Bệnh viện Trường 
Đại học Y Dược Huế từ tháng 09/2011 đến 
tháng 06/2012 đủ điều kiện được nhận 
vào mẫu nghiên cứu. Loại khỏi nghiên 
cứu những trường hợp đang nhiễm trùng 
đường sinh dục, rong kinh rong huyết chưa 
điều trị ổn định, không đặt được catheter 
vào buồng tử cung, không có kết quả chụp 
phim tử cung – vòi tử cung và không đồng 
ý tham gia nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện theo phương 
pháp mô tả cắt ngang. Tất cả các đối tượng 
đến khám vào thời điểm bất kỳ trong chu kỳ 
được phỏng vấn theo bộ câu hỏi soạn sẵn 
về các thông tin hành chính, tiền sử sản phụ 
khoa, tiền sử kinh nguyệt và ngoại khoa, xét 
nghiệm dịch âm đạo loại trừ viêm nhiễm. 
Sau đó, bệnh nhân sẽ được hẹn đến sau khi 
sạch kinh 2 ngày để siêu âm phụ khoa với 
máy siêu âm Aloka SSD3500 đầu dò âm đạo 
7,5MHz và bơm dịch đánh giá tử cung và 
độ thông vòi tử cung. Dung dịch sử dụng 
là dịch muối đẳng trương Natri Clorid 0,9% 
của Công ty Fresenius Kabi Bidiphar, được 
bơm qua catheter Foley số 12 của hãng 
Thomson Medicare Co. Ltd., Thailand. Sau 
đó, bệnh nhân sẽ được chỉ định chụp phim 
tử cung – vòi tử cung trong cùng chu kỳ 
kinh.
Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm 
SPSS 19.0
Kết quả nghiên cứu
Bảng 1: Kết quả khảo sát siêu âm phụ khoa
Kết quả siêu âm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Tử cung
 Bình thường
 U xơ tử cung
 Lạc nội mạc tử cung
 Dị dạng tử cung
106
4
3
2
92,2
3,5
2,6
1,7
Tư thế tử cung
 Ngã trước
 Trung gian
 Ngã sau
51
39
25
44,4
33,9
21,7
Buồng trứng
 Bình thường
 Hình ảnh đa nang
 U nang
 U lạc nội mạc
84
24
5
2
73,1
20,9
4,3
1,7
Lê Minh Tâm/Lê Thị Hồng Vũ l 209
Bảng 2. Kết quả siêu âm đường âm đạo có bơm dịch và chụp phim tử cung – vòi tử cung
Kết quả khảo sát Siêu âm bơm dịch Chụp phim HSG
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Buồng tử cung
 Bình thường
 Polyp buồng tử cung
 U xơ dưới niêm mạc
 Dính buồng
 Dị dạng buồng tử cung
104
5
2
2
2
90,5
4,4
1,7
1,7
1,7
110
2
1
1
1
95,7
1,7
0,9
0,9
0,9
Vòi tử cung
 Thông tốt hai bên
 Thông 1 bên
 Không thông 2 bên
 Tắc gần 1 bên
 Tắc gần 2 bên
 Tắc xa 1 bên
 Tắc xa 2 bên
 Giãn ứ dịch 1 bên
93
17
5
-
-
-
-
-
80,9
14,8
4,3
-
-
-
-
-
95
11
3
4
1
1
82,6
9,6
2,6
3,5
0,9
0,9
Biến chứng
 Đau bụng
 Buồn nôn
 Nôn mửa
 Ngất
 Dị ứng
16
4
1
0
0
13,9
3,5
0,9
0,0
0,0
31
6
4
0
1
27,0
5,2
3,5
0,0
0,9
Bảng 3: So sánh kết quả của siêu âm bơm dịch và phim chụp tử cung – vòi tử cung
Phim chụp 
TC - VTC
Siêu âm bơm dịch Tổng
Thông tốt Không thông Thông 1 bên
n % n % n % n %
Thông tốt 92 98,9 0 0,0 3 17,6 95 82,6
Giãn ứ dịch 1 1,1 0 0,0 0 0,0 1 0,9
Tắc gần 1 
bên
0 0,0 0 0,0 11 64,8 11 9,6
Tắc gần 2 
bên
0 0,0 3 60,0 0 0,0 3 2,6
Tắc xa 1 bên 0 0,0 1 20,0 3 17,6 4 3,4
Tắc xa 2 bên 0 0,0 1 20,0 0 0,0 1 0,9
Tổng 93 80,9 5 4,3 17 14,8 115 100
210 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Tỷ lệ phát hiện bất thường vòi tử cung qua siêu âm là 19,1% (22/115) so với qua chụp phim 
cản quang là 17,4% (20/115).
Bảng 4. Liên quan giữa kết quả siêu âm bơm dịch với các đặc điểm của mẫu
Đặc điểm của mẫu Siêu âm bơm dịch Ý nghĩa
Bình thường Bất thường
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Phân bố theo tuổi
 < 35 tuổi
 ≥ 35 tuổi
69
11
86,3
13,7
24
11
68,6
31,4
(Test 
Fisher’s)
 p=0,02
OR=2,87
Nghề nghiệp
 Cán bộ
 Công nhân
 Buôn bán
 Làm nông
 Nội trợ
33
7
12
9
19
41,3
8,7
15,0
11,3
23,7
20
2
7
3
3
57,1
5,7
20,0
8,6
8,6
p>0,05
X2= 5,39
Địa dư
 Thành thị
 Nông thôn
 Miền núi
34
40
6
42,5
50,0
7,5
22
11
2
62,9
31,4
5,7
p=0,01
X2=11,16
Loại vô sinh
 Vô sinh I
 Vô sinh II
59
21
73,8
26,2
14
21
40,0
60,0
(Test 
Fisher’s)
p=0,001
OR=4,21
Tiền sử viêm âm đạo
 Có
 Không
65
15
81,3
18,7
25
10
71,4
28,6
(Test 
Fisher’s)
p > 0,05
Chlamydia
 Âm tính
 Dương tính
79
1
98,7
1,3
30
5
85,7
14,3
(Test 
Fisher’s)
p=0,01
OR=13,17
Soi tươi dịch âm đạo
 Bình thường
 Viêm âm đạo vi khuẩn
 Nấm
 Khác
56
14
6
4
70,0
17,5
7,5
5,0
27
5
2
1
77,1
14,3
5,7
2,9
p > 0,05
Áp lực bơm dịch
 Bình thường
 Nặng tay
77
3
96,2
3,8
21
14
60,0
40,0
(Test 
Fisher’s)
p=0,00
OR=17,11
Lê Minh Tâm/Lê Thị Hồng Vũ l 211
Bàn luận
Khảo sát buồng tử cung qua siêu âm 
bơm dịch là phương pháp được ứng dụng 
rộng rãi từ nhiều năm nay trong lĩnh vực 
phụ khoa giúp xác định chẩn đoán một số 
bất thường của tử cung như u xơ dưới 
niêm mạc, polyp buồng tử cung, dính 
buồng[1]. Việc thăm dò tử cung và vòi 
tử cung là rất cần thiết và quan trọng trong 
chẩn đoán nguyên nhân vô sinh. Phương 
pháp chụp phim tử cung vòi tử cung có bơm 
chất cản quang được chỉ định thường quy 
bộc lộ một số nhược điểm nhất định như 
phơi nhiễm tia X, dị ứng chất cản quang, tỷ 
lệ âm tính giả cao[6]. Đề tài ứng dụng siêu 
âm đầu dò âm đạo trong phụ khoa kết hợp 
với bơm dịch để khảo sát hình ảnh tử cung 
– vòi tử cung đối với những trường hợp vô 
sinh nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của 
phương pháp này so với chụp phim cản 
quang. Rõ ràng siêu âm là một phương tiện 
chẩn đoán rất phổ biến, không xâm lấn, ít 
tốn kém, độ tin cậy cao và không ảnh hưởng 
đến sức khỏe như chụp phim. Nhiều nghiên 
cứu khẳng định tính ưu việt của siêu âm, 
thậm chí phủ nhận vai trò của phim chụp 
cản quang như là chỉ định đầu tay thường 
quy [11]. Sử dụng siêu âm có thể phát hiện 
nhiều bất thường khác mà chụp phim 
không thực hiện được như u xơ tử cung, lạc 
nội mạc tử cung, khối u buồng trứng. Bảng 
1 cho thấy siêu âm phát hiện được 9 trường 
hợp bất thường tử cung (7,8%); 31 trường 
hợp bất thường buồng trứng (26,9%) trong 
đó đa số là do đa nang buồng trứng (20,9%). 
Các bất thường này được phát hiện qua siêu 
âm đều có thể là nguyên nhân gây vô sinh.
Khi thực hiện bơm dịch vào buồng tử 
cung và quan sát 2 vòi tử cung, siêu âm tiếp 
tục xác định các bất thường khác như polyp 
buồng (4,4%), u xơ dưới niêm mạc (1,7%), 
dính buồng (1,7%) và dị dạng buồng tử 
cung (1,7%). Điều đáng ghi nhận là các tỷ lệ 
này đều cao hơn so với khả năng chẩn đoán 
của phim chụp tử cung cản quang với tỷ lệ 
lần lượt 1,7%; 0,9%; 0,9% và 0,9% (Bảng 2). 
Siêu âm là một kỹ thuật quan sát động toàn 
bộ buồng tử cung trong quá trình bơm dịch 
vào, nhờ đó có thể thu được hình ảnh từ 
tất cả các góc độ của tử cung và buồng tử 
cung. Đây là ưu điểm của siêu âm vì chụp 
phim chỉ có thể ghi nhận ở một thời điểm 
và ở một góc độ nhất định và vì thế có thể 
bỏ sót tổn thương. Tuy nhiên, khi đánh giá 
vòi tử cung, siêu âm bơm dịch chỉ có thể xác 
định vòi tử cung có thông hay không dựa 
vào luồng dịch phun ra ở vị trí loa vòi cạnh 
buồng trứng hai bên mà không xác định 
được vị trí tắc gần hay tắc xa khi không 
thấy dịch đi ra. Biện pháp khắc phục nhược 
điểm này của siêu âm bơm dịch là dùng các 
dung dịch cản âm (Echovist®) để quan sát 
được dòng chảy đi qua vòi tử cung được đề 
cập trong nhiều nghiên cứu cũng như được 
ứng dụng rộng rãi trên thế giới [2][3] [10]. 
Nghiên cứu tại Hoa Kỳ khi sử dụng dịch 
cản âm so với tiêu chuẩn vàng nội soi có độ 
nhạy 85,2%; độ đặc hiệu 85,2%; giá trị dự 
báo dương 71,9% và giá trị dự báo âm 92,9% 
[14]. Khó khăn duy nhất là tốn kém cao do 
chi phí của dung dịch cản âm khá đắt khiến 
việc ứng dụng còn hạn chế. Nhiều tác giả 
khác ứng dụng hình ảnh 3 chiều để tăng khả 
năng chẩn đoán của siêu âm cũng đưa đến 
kết quả khả quan với tỷ lệ tương đương với 
phim chụp cản quang [9][17]
Bảng 2 còn thể hiện khác biệt về biến 
chứng của hai phương pháp siêu âm bơm 
dịch và chụp phim cản quang với ưu thế 
thuộc về siêu âm. Đau bụng là biến chứng 
thường gặp nhất do sự căng phồng tử cung 
gây căng phúc mạc khi bơm dịch hay chất 
cản quang vào buồng tử cung. Ayida G và 
cộng sự ghi nhận tỷ lệ van đau bụng khá 
cao, đến 56% trong siêu âm bơm dịch và 72% 
với chụp phim [2]. Khi tiến hành dưới siêu 
âm, việc bơm dịch có thể thay đổi phù hợp 
để vừa đạt được hình ảnh quan sát trên siêu 
âm và thay đổi áp lực dựa vào triệu chứng 
đau của bệnh nhân, nhờ đó bệnh nhân cảm 
212 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
giác ít khó chịu hơn. Đặc biệt có một trường 
hợp dị ứng sau chụp phim cản quang với 
sưng phù mặt và mắt trong 2 ngày. Đây là 
biến chứng đã được khẳng định theo y văn 
đối với chụp phim cản quang [6]. Dù mức 
độ biến chứng trong trường hợp này chưa 
nghiêm trọng nhưng cũng khiến bệnh nhân 
lo lắng rất nhiều. Ứng dụng siêu âm bơm 
dịch với nước muối sinh lý đẳng trương 
hoàn toàn có thể loại trừ nguy cơ này đối 
với những trường hợp dương tính với test 
iod trước chụp phim.
Khi so sánh kết quả của siêu âm bơm 
dịch và chụp phim cản quang (bảng 3), sự 
khác biệt là không đáng kể. Điều này đã 
được khẳng định trong nhiều nghiên cứu 
trên thế giới [10][11]. Mặc dù tiêu chuẩn 
vàng trong xác định bất thường vòi tử cung 
phải dựa vào nội soi ổ bụng, chúng tôi 
không thể tiến hành nội soi hàng loạt cho 
những trường hợp có kết quả siêu âm bơm 
dịch (80,9%) và chụp phim cản quang (80%) 
đều xác định thông tốt. Thật ra, chúng tôi 
gặp hai trường hợp có kết quả chụp phim 
trước khi đến viện ghi nhận tắc vòi tử cung 
hai bên, sau khi siêu âm bơm dịch kết quả 
thông tốt, chúng tôi đã chỉ định chụp lại 
phim cản quang và kết quả lần này là thông 
tốt hai bên. Nhiều nghiên cứu cũng ghi 
nhận tỷ lệ âm tính giả của phim chụp cản 
quang [10][11]. Đối với những trường hợp 
kết quả khảo sát bất thường trong nghiên 
cứu này, kết quả nội soi ổ bụng cũng khẳng 
định chẩn đoán. Các trường hợp còn lại, sự 
khác biệt nhờ vào khả năng định vị tắc gần – 
xa hay giãn vòi tử cung của phim chụp cản 
quang. Điều này khẳng định một lần nữa 
ưu điểm của phim chụp cản quang so với 
siêu âm bơm dịch muối sinh lý. Nói tóm lại, 
nếu kết hợp cả siêu âm bơm dịch và chụp 
phim cản quang sẽ có thể tăng khả năng 
chẩn đoán các trường hợp có tổn thương 
vòi tử cung, giảm tỷ lệ âm tính giả của phim 
chụp cản quang.
Khi khảo sát mối liên quan giữa kết 
quả siêu âm bơm dịch và các đặc điểm của 
mẫu (bảng 4), Nhóm siêu âm bơm dịch bất 
thường được tính là những trường hợp bất 
thường buồng tử cung được phát hiện khi 
bơm dịch vào (polyp, u xơ dưới niêm mạc, 
dính buồng) và bất thường vòi tử cung (tắc 
1 bên và tắc 2 bên) mà không tính các bất 
thường khi siêu âm phụ khoa thường quy. 
Sự khác biệt có ý nghĩa (p=0,02) ghi nhận 
trong phân bố theo độ tuổi dưới 35 và từ 35 
trở lên. Độ tuổi là một yếu tố tiên lượng khả 
năng sinh sản do hoạt động buồng trứng 
giảm dần khi tuổi cao. Ở đây nguy cơ bất 
thường hình ảnh buồng tử cung và vòi tử 
cung qua siêu âm bơm dịch ở độ tuổi sau 
35 tăng gấp 2,87 lần (OR=2,87; CI 95% = 
1,11 – 7,48) so với nhóm tuổi trước 35. Như 
vậy, tuổi tăng lên không chỉ làm giảm chức 
năng buồng trứng mà còn tăng nguy cơ bất 
thường giải phẫu học của cơ quan sinh dục 
nữ. Phân bố theo nghề nghiệp không có sự 
khác biệt về kết quả siêu âm bơm dịch. Về 
địa dư, nhóm đối tượng ở khu vực thành 
thị có tỷ lệ bất thường tử cung vòi tử cung 
(62,9%) cao hơn có ý nghĩa so với vùng nông 
thôn và miền núi (p=0,01). Sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê cũng ghi nhận giữa nhóm 
vô sinh I và vô sinh II về bất thường tử cung 
vòi tử cung (p=0,001 với OR=4,21; CI 95% = 
1,82 – 9,76). Điều này đồng nghĩa với sự cần 
thiết phải khảo sát kỹ cơ quan sinh dục nữ 
trong trường hợp vô sinh thứ phát, ít nhất 
với siêu âm bơm dịch có hay không kết hợp 
chụp phim tử cung – vòi tử cung. 
Tiền sử viêm nhiễm âm đạo tỏ ra không 
liên quan với nguy cơ bất thường tử cung 
– vòi tử cung (p > 0,05). Điều này có thể lý 
giải do nhiều nguyên nhân gây viêm nhiễm 
sinh dục thấp phổ biến lại không gây viêm 
nhiễm sinh dục cao. Vì thế, không phải tất cả 
các trường hợp viêm nhiễm phụ khoa đều 
làm tăng nguy cơ vô sinh. Kết quả soi tươi 
dịch âm đạo tại thời điểm đến khám cũng 
không liên quan có ý nghĩa đến kết quả siêu 
âm bơm dịch. Tuy nhiên, nhiễm Chlamydia 
Lê Minh Tâm/Lê Thị Hồng Vũ l 213
- một tác nhân có ái tính cao với niêm mạc 
tử cung – vòi tử cung, nguyên nhân chính 
gây tổn thương vòi tử cung – có liên quan 
chặt với kết quả bất thường qua siêu âm 
bơm dịch, tăng nguy cơ tổn thương phát 
hiện được lên đến 13 lần (p=0,01; OR=13,17).
Một thông số khá quan trọng chúng tôi 
nhận thấy trong quá trình tiến hành nghiên 
cứu là áp lực bơm dịch vào buồng tử cung 
với p=0,00, nguy cơ bất thường tăng 17,11 
lần khi áp lực bơm tăng lên. Đây mặc dù 
là một biến định tính, chúng tôi không có 
thiết bị để đo áp lực buồng tử cung khi bơm, 
nhưng dựa trên áp lực bơm nặng tay của 
người phụ, hình ảnh buồng tử cung giãn 
căng và thậm chí trong nhiều trường hợp, 
bóng catheter Foley bị đẩy bật ra khỏi ống 
cổ tử cung mà không quan sát được dòng 
chảy của dịch ra khỏi loa vòi. Chính vì vậy, 
áp lực bơm có thể xem là một yếu tố quan 
trọng trong đánh giá kết quả siêu âm bơm 
buồng. Lindborg và cộng sự ghi nhận trong 
một nghiên cứu rằng việc siêu âm bơm dịch 
có thể làm tăng khả năng có thai tự nhiên 
mặc dù sự khác biệt có ý nghĩa chưa được 
khẳng định [12].
Để kết luận qua nghiên cứu này, chúng 
tôi nhận thấy siêu âm bơm dịch muối sinh 
lý là một phương pháp đơn giản, ít tốn kém 
và rất hiệu quả để khảo sát tử cung – vòi 
tử cung ở những trường hợp vô sinh, có giá 
trị tương đương với phim chụp cản quang 
kinh điển và đồng thời giúp phát hiện nhiều 
trường hợp bất thường sinh dục nhờ siêu 
âm mà qua chụp phim không thể đánh giá 
được. Một số yếu tố như độ tuổi trên 35, cư 
dân vùng thành thị, vô sinh thứ phát, nhiễm 
Chlamydia và áp lực bơm dịch nặng tay làm 
tăng tỷ lệ bất thường khi siêu âm bơm dịch. 
Nhược điểm của phương pháp là không xác 
định được vị trí tắc khi không thấy dịch đi 
qua loa vòi tử cung. Việc sử dụng các dung 
dịch cản âm để bơm vào tử cung sẽ giúp 
khắc phục yếu điểm này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Arthur C. Fleischer, Heidi 
Shappell. W (2003), “Color Doppler 
sonohysterography of endometrial 
polyps and submucosal fibroids”, J 
Ultrasound Med, 22, P. 601 - 604. 
2. Ayida G, Kennedy S, Barlow D, 
Chamberlain P. (1996) A comparison of 
patient tolerance of hysterosalpingo-
contrast sonography (HyCoSy) 
with Echovist-200 and X-ray 
hysterosalpingography for outpatient 
investigation of infertile women. 
Ultrasound in obstetrics & gynecology. Vol 
7, (3): 201-204.
3. Boudghène F.P., Bazot M., Robert Y., 
et al. (2001). Assessment of Fallopian 
tube patency by HyCoSy: comparison 
of a positive contrast agent with saline 
solution. Ultrasound Obstet Gynecol; 18: 
525–530.
4. Dijkman AB, Mol BW, van der Veen F, 
Bossuyt PM, Hogerzeil HV. (2000).Can 
hysterosalpingocontrast-sonography 
replace hysterosalpingography in the 
assessment of tubal subfertility? European 
Journal of radiology. Vol 35 (1): 44-48.
5. Duel M. et al (2001), “Evaluation of 
uterine cavity with magnetic resonance 
imaging, transvaginal sonongraphy, 
hysterosonographic examination and 
diagnostic hysteroscopy”, Fertility and 
sterility, 76, pp. 350 - 357.
6. Eng C.W, Tang P.H, Ong C.L: 
Hysterosalpingography: Current 
applications. Singapore Med J 2007; 48 (4): 
P. 368 - 374.
7. Exacoustos C., Di Giovanni A., Szabolcs 
B. et al (2009). Automated sonographic 
tubal patency evaluation with three-
dimensional coded contrast imaging 
(CCI) during hysterosalpingo-contrast 
sonography (HyCoSy). Ultrasound Obstet 
214 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Gynecol. 34: 609–612.
8. Kamel Remah M. (2010) Management 
of the infertile couple: an evidencebased 
Protocol. Reproductive Biology and 
Endocrinology, 8:21.
9. Kiyokawa K., Matsuda H., T. Fuyuki 
et al. (2000). Three-dimensional 
hysterosalpingo-contrast sonography 
(3D-HyCoSy) as an outpatient procedure 
to assess infertile women: a pilot study. 
Ultrasound Obstet Gynecol. 16: 648-654.
10. Korell M, Seehaus D, Strowitzki T, 
Hepp H. (1997).Radiological versus 
sonographic hysterosalpingography 
for evaluation of tubal patency. Patient 
discomfort and diagnostic accuracy of 
HSG and HyCoSy with Echovist®200. 
Ultraschall in Der Medizin. 18 (1): 3-7.
11. Lim CP, Hasafa Z, Bhattacharya 
S, Maheshwari A. (2011).Should a 
hysterosalpingogram be a first-line 
investigation to diagnose female tubal 
subfertility in the modern subfertility 
workup? Hum Reprod. 26 (5) : 967-71
12. Lindborg L., Thorburn J., Bergh 
C., Strandell A. (2009).Influence of 
HyCoSy on spontaneous pregnancy: 
a randomized controlled trial. Human 
Reproduction, Vol.24, No.5 pp. 1075–1079.
13. Madhuri Patil (2009). Assessing tubal 
damage. Journal of Human Reproductive 
Sciences. 2(1): 2–11.
14. Marcos M. Reis, Sergio R. Soares, Marcelo 
L Cancado, Aroldo F. Camargos. (1998). 
Hysterosalpingo contrast sonography 
(HyCoSy) with SHU 454 (Echovist®) for 
the assessment of tubal patency. Human 
Reproduction. Vol 13 (11): 3049-3052. 
15. Masomeh Hajishafiha, Taher Zobairi 
et al (2009), “Diagnostic value of 
sonohysterography in the determination 
of Fallopian tube patency as an initial 
step of routine infertility assessment”, J 
Ultrasound Med, 28, P. 1671 - 1677.
16. Nick Raine-Fenning, Arthur C Fleischer. 
(2005). Clarifying the role of three-
dimensional transvaginal sonography 
in reproductive medicine: an evidenced-
based appraisal. Journal of Experimental 
& Clinical Assisted Reproduction, 2:10.
17. Sladkevicius P., Ojha K., Campell S., 
Nargund G. (2000). Three-dimensional 
power Doppler imaging in the 
assessment of Fallopian tube patency. 
Ultrasound Obstet Gynecol. 16: 644-647.
18. Steven R. Lindheim, Casey 
Sprague, Thomas C. Winter III: 
Hysterosalpingography and 
Sonohysterography: Lessons in 
Technique. AJR:186, 2006: P. 24 - 29
19. Viviane F. Connor (2011), “Clinical 
experience with contrast infusion 
sonography as an essure confirmation 
test”, J Ultrasound Med, 30, P. 803 - 808. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_gia_tri_cua_sieu_am_bom_dich_trong_chan_doan_bat.pdf