Nghiên cứu giá trị của nồng độ NT-ProBNP trong theo dõi bệnh cơ tim giãn ở trẻ em

Mục tiêu: Khảo sát nồng độ NT-proBNP huyết tương, mối tương quan giữa nồng độ

NT-proBNP với mức độ suy tim theo thang điểm PHFI và nhận xét mối liên quan của NTproBNP với mức độ giãn và chức năng tâm thu thất trái trên siêu âm tim trong theo dõi

bệnh cơ tim giãn ở trẻ em.

Phương pháp: mô tả tiến cứu.

Kết quả:32/33 bệnh nhân (97%) có nồng độ NT-proBNP cao hơn giá trị bách phân vị

thứ 97,5 theo tuổi. Giá trị log NT-proBNP có mối tương quan thuận chặt chẽ với mức độ

suy tim trên lâm sàng theo thang điểm PHFI (r = 0,84; p < 0,001),="" tương="" quan="" thuận="">

đường kính thất trái cuối tâm trương (r = 0,519; p < 0,001),="" tương="" quan="" nghịch="" với="">

suất tống máu thất trái (r = -0,736; p < 0,001)="" và="" phân="" suất="" co="" ngắn="" sợi="" cơ="" (r="-">

p < 0,001).="" tại="" thời="" điểm="" chẩn="" đoán,="" nồng="" độ="" nt-probnp="" của="" 3="" nhóm="" tiến="" triển="">

nghiên cứu không có sự khác biệt. Tuy nhiên sau 3 tháng chẩn đoán, nhóm tiến triển tốt

cải thiện rõ rệt, khác biệt có ý nghĩa so với nhóm tử vong/ghép tim và nhóm tiến triển xấu.

Kết luận: NT-proBNP là một dấu ấn sinh học nên được sử dụng trong chẩn đoán và

đánh giá mức độ suy tim khi theo dõi bệnh cơ tim giãn ở trẻ em.

pdf 10 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu giá trị của nồng độ NT-ProBNP trong theo dõi bệnh cơ tim giãn ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu giá trị của nồng độ NT-ProBNP trong theo dõi bệnh cơ tim giãn ở trẻ em

Nghiên cứu giá trị của nồng độ NT-ProBNP trong theo dõi bệnh cơ tim giãn ở trẻ em
 Vietnam National Children’s Hospital , Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
29 
Research Paper 
The Value of NT-proBNP the Follow - up of Children 
with Dilated Cardiomyopathy 
Dang Thi Hai Van1,*, Dang Phuong Thuy2, Nguyen Thi Hai Ha2 
1
Hanoi Medical Univercity, No.1 Ton That Tung, Kim Lien, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
2
Vietnam National Children's Hospital, 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 19 December 2020 
Revised 18 March 2020; Accepted 20 April 2020 
Abstract 
Objectives: To survery the plasma NT-proBNP concentration, the correlation between 
NT-proBNP concentration and the New York Pediatric Heart Failure Index (NYU PHFI) 
in children with dilated cardiomyopathy. Comment on the association of NT-proBNP with 
the level of left ventricular dilatation and systolic function in the follow - up of children 
with dilated cardiomyopathy. 
Method: Prospective, descriptive study. 
Results: At the time of diagnosis, 32 out of 33 patients (97%) had an NTproBNP level 
higher than 97,5
th
 percentile. The log NT-proBNP was significantly positively correlated 
with PHFI (r = 0.84; P <0.001). The log NT-proBNP wasalso positively correlated with 
LVED (r = 0.519; p <0.001), was negatively correlated with LVEF (r = -0.736; p <0.001) 
and LVFS (r = - 0.737; p <0.001. The initial levels of serum NT-proBNP were not 
different from three progressed groups. However, at 3 months after diagnosis, the 
NT-proBNP of the improved group was significantly different from each other. 
Conclusion: NT-proBNP is an excellentbiomarker used to diagnose and assess cardiac 
insufficiency inthe follow - up of children with dilated cardiomyopathy. 
Keywords: NT-proBNP, dilated cardiomyopathy. 
*
_______ 
*
 Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/ jprp.v4i2.196 
D.T.H. Van et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
30 
Nghiên cứu giá trị của nồng độ NT-proBNP 
trong theo dõi bệnh cơ tim giãn ở trẻ em 
Đặng Thị Hải Vân1,*, Đặng Phương Thúy2, Nguyễn Thị Hải Hà2 
1
 i h c H N i, n h t n , n a, H N i, Vi t Nam 
2
B nh vi n Nhi Trung ương, 18/879 La Th nh, n a, H N i, Vi t Nam 
Nhận ngày 19 tháng 02 năm 2019 
Chỉnh sửa ngày 17 tháng 3 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 3 năm 2020 
Tóm tắt 
Mục tiêu: Khảo sát nồng độ NT-proBNP huyết tương, mối tương quan giữa nồng độ 
NT-proBNP với mức độ suy tim theo thang điểm PHFI và nhận xét mối liên quan của NT-
proBNP với mức độ giãn và chức năng tâm thu thất trái trên siêu âm tim trong theo dõi 
bệnh cơ tim giãn ở trẻ em. 
Phương pháp: mô tả tiến cứu. 
Kết quả:32/33 bệnh nhân (97%) có nồng độ NT-proBNP cao hơn giá trị bách phân vị 
thứ 97,5 theo tuổi. Giá trị log NT-proBNP có mối tương quan thuận chặt chẽ với mức độ 
suy tim trên lâm sàng theo thang điểm PHFI (r = 0,84; p < 0,001), tương quan thuận với 
đường kính thất trái cuối tâm trương (r = 0,519; p < 0,001), tương quan nghịch với phân 
suất tống máu thất trái (r = -0,736; p < 0,001) và phân suất co ngắn sợi cơ (r = - 0,737; 
p < 0,001). Tại thời điểm chẩn đoán, nồng độ NT-proBNP của 3 nhóm tiến triển trong 
nghiên cứu không có sự khác biệt. Tuy nhiên sau 3 tháng chẩn đoán, nhóm tiến triển tốt 
cải thiện rõ rệt, khác biệt có ý nghĩa so với nhóm tử vong/ghép tim và nhóm tiến triển xấu. 
Kết luận: NT-proBNP là một dấu ấn sinh học nên được sử dụng trong chẩn đoán và 
đánh giá mức độ suy tim khi theo dõi bệnh cơ tim giãn ở trẻ em. 
 ừ khóa: NT-proBNP, bệnh cơ tim giãn. 
1. Đặt vấn đề* 
Bệnh cơ tim giãn là thể thường gặp nhất 
trong các bệnh cơ tim tiên phát ở trẻ em. 
Bệnh có tiến triển tương đối nặng nề, tiên 
lượng dè dặt nên cần những nỗ lực lớn hơn 
để chẩn đoán sớm và tối ưu hóa các chiến 
lược phân tầng nguy cơ. Một số nghiên cứu 
trên thế giới đã chứng minh nồng độ N-
Terminal pro-Brain Natriuretic Peptide 
(NT-proBNP) huyết tương tăng trong bệnh 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 ịa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/ jprp.v4i2.196 
cơ tim giãn là yếu tố có giá trị tiên lượng tỷ 
lệ tử vong, khả năng nhập viện và khả năng 
phải ghép tim ở người lớn. Tuy nhiên, các 
nghiên cứu trên trẻ em còn hạn chế. Vì vậy, 
chúng tôi chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề 
tài với 2 mục tiêu: 
 . Khảo sát nồn đ N -proBNP huyết 
tươn v m i tươn quan iữa nồn đ 
NT-proBNP huyết tươn với mức đ suy tim 
theo than điểm PHFI tron b nh cơ tim 
 iãn ở trẻ em. 
2. Nhận xét m i liên quan của 
NT-proBNP huyết tươn với mức đ iãn v 
chức năn tâm thu th t trái trên siêu âm tim 
tron theo dõi b nh cơ tim iãn ở trẻ em. 
D.T.H. Van et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
31 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
2. . i tượn , thời ian v địa điểm 
n hiên cứu 
Tất cả bệnh nhi bệnh cơ tim giãn được 
chẩn đoán, điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung 
ương từ 01/12/2015 đến 30/9/2017. 
2.1.1. Tiêu chuẩn xác định bệnh cơ tim 
giãn [1]: 
- Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa trên siêu 
âm tim: 
+ Thất trái giãn hình cầu, đường kính 
thất trái cuối tâm trương lớn hơn +2SD so 
với trẻ bình thường có cùng diện tích da. 
+ Chức năng tâm thu thất trái giảm: 
phân suất tống máu (EF) < 50% hoặc phân 
suất co ngắn sợi cơ (FS) < 28%. 
+ Không có dị tật tim bẩm sinh, không có 
bất thường mạch máu phối hợp. 
- Loại trừ các trường hợp cơ tim giãn thứ 
phát do các bệnh lí khác như tim bẩm sinh 
(bất thường xuất phát động mạch vành, hẹp 
eo động mạch chủ nặng), rối loạn nhịp 
tiên phát, tăng huyết áp, bệnh Kawasaki, tổn 
thương thiếu máu cục bộ do ngạt sơ sinh 
hoặc sau hồi sức tim phổi. 
2.2. Phươn pháp n hiên cứu 
Đề tài được thực hiện theo phương pháp 
mô tả tiến cứu. 
Sơ đồ nghiên cứu 
Đánh giá tiến triển 
Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia 
nghiên cứu 
Tại thời điểm chẩn đoán: 
điểm PHFI, siêu âm tim, NT-
proBNP 
Theo dõi định kì: sau X tháng chuẩn đoán 
(X=3, 6, 9, 12, 15) 
Điểm PHFI, siêu âm tim, NT-proBNP. Đánh 
giá tiến triển 
Kết thúc theo dõi 
Tiến triển tốt Tiến triển xấu Tử vong/ 
ghép tim 
D.T.H. Van et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
32 
K 
Trong đó: 
- Tiến triển tốt: Khi đáp ứng đủ 2 tiêu 
chuẩn như mức độ suy tim (theo điểm 
PHFI) giảm và chỉ số trên siêu âm tim cải 
thiện (EF và FS tăng, Dd giảm). 
- Xấu: Khi không đáp ứng đủ cả 2 tiêu 
chuẩn trên. 
2.3. Xử lý v phân tích s li u 
Sử dụng các thuật toán thống kê y học 
bằng phần mềm SPSS 16.0. 
3. Kết quả nghiên cứu 
Qua nghiên cứu 33 trường hợp bệnh cơ 
tim giãn được chẩn đoán, điều trị tại Bệnh 
viện Nhi Trung ương trong thời gian từ 
01/12/2015 đến 30/9/2017, thu được một số 
kết quả sau: 
3.1. Nồn đ N -proBNP v m i tươn 
quan với mức đ suy tim theo than điểm 
PHFI (Hình 1) 
Khi vẽ biểu đồ phân bố và thực hiện 
kiểm định Shapiro-wilk chúng tôi thấy nồng 
độ NT-proBNP của đối tượng nghiên cứu 
tại thời điểm chẩn đoán không chuẩn (p < 
0,05) với giá trị trung vị là 12348,1 pg/ml 
(IQR: 4938,8 pg/ml - 27412,4 pg/ml). Do 
đó, chúng tôi dùng phép biến đổi logarit cơ 
số 10 để thu được biến log NT-proBNP có 
phân bố chuẩn với X ± SD = 4,013 ± 0,621 
(Hình 2, Hình 3). 
3.2. NT-proBNP v các chỉ s siêu âm tim 
tron theo dõi b nh cơ tim iãn 
Khi kết thúc nghiên cứu, 33 bệnh nhân 
bệnh cơ tim giãn chia làm 3 nhóm tiến triển: 
16 bệnh nhân tử vong hoặc ghép tim (1 bệnh 
nhân ghép tim), 14 bệnh nhân tiến triển tốt, 3 
bệnh nhân tiến triển xấu (Hình 4, Hình 5, 
Hình 6). 
4. Bàn luận 
4. Nồn đ N -proBNP v m i tươn 
quan với mức đ suy tim theo điểm PHFI 
Tại thời điểm chẩn đoán, tất cả bệnh 
nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có 
nồng độ NT-proBNP trên bách phân vị thứ 
95 theo tuổi. 
Hình 1. Nồng độ NT-proBNP so với giới hạn bình thường theo tuổi. 
Nhận xét: Tại thời điểm chẩn đoán, có 32/33 (97%) bệnh nhân có nồng độ NT-proBNP 
trên bách phân vị thứ 97,5 theo tuổi. 
D.T.H. Van et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
33 
Hình 2. Phân bố nồng độ NT-proBNP và log NT-proBNP tại thời điểm chẩn đoán. 
Hình 3. Mối tương quan giữa log NT-proBNP và mức độ suy tim theo thang điểm PHFI. 
Nhận xét: Ở bệnh nhân bệnh cơ tim giãn có sự tương quan thuận giữa log NT-proBNP và mức độ suy 
tim theo điểm PHFI (p < 0,001; r = 0,840; Y= 0,166X + 1,643). 
Hình 4. Diễn biến giá trị log NT-proBNP của 3 nhóm tiến triển 
(n là số bệnh nhân của mỗi nhóm có số liệu tại thời điểm đánh giá) 
Nhận xét: Tại thời điểm chẩn đoán, giá trị log NT-proBNP của 3 nhóm tiến triển không có sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, nhóm tiến triển tốt cải thiện rõ rệt ngay từ sau khi điều trị, khác biệt có 
ý nghĩa so với 2 nhóm còn lại từ thời điểm 3 tháng sau chẩn đoán (p < 0,05). 
Nhóm tử vong cải thiện rất ít và gần như không thay đổi. 
D.T.H. Van et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
34 
Hình 5. Mối liên quan giữa log NT-proBNP và đường kính thất trái cuối tâm trương. 
Nhận xét: Có sự tương quan thuận giữa log NT-proBNP và đường kính thất trái cuối tâm trương 
(p < 0,001; r = 0,519; Y= 0,109X + 2,624). 
Hình 6. Mối liên quan giữa log NT-proBNP và chức năng tâm thu thất trái. 
Nhận xét: Có sự tương quan nghịch giữa log NT-proBNP và phân suất tống máu thất trái 
(p < 0,001; r = -0,736 ; Y= 5,139 - 0,047X), và phân suất co ngắn sợi cơ 
(p < 0,001; r = -0,737; Y= 4,943 - 0,086X).
Nồng độ NT-proBNP của đối tượng 
nghiên cứu tại thời điểm chẩn đoán phân bố 
không chuẩn nên chúng tôi dùng phép biến 
đổi logarit cơ số 10 để thu được biến log 
NT-proBNP có phân bố chuẩn với X ± SD 
= 4,013 ± 0,621. Kết quả nghiên cứu của 
D.T.H. Van et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
35 
chúng tôi tương tự với kết quả của Narin và 
cộng sự [2]. Hơn nữa, trong nghiên cứu của 
Narin còn cho thấy ngay cả ở những bệnh 
nhân có triệu chứng, hay không có triệu 
chứng sau khi điều trị, nồng độ NT-proBNP 
huyết thanh vẫn cao hơn nhóm chứng. Xét 
nghiệm NT-proBNP có thể được dùng để 
phân biệt trẻ khỏe mạnh với những bệnh 
nhân không có dấu hiệu lâm sàng và triệu 
chứng suy tim sau khi điều trị nhưng vẫn có 
rối loạn chức năng tâm thu thất trái trên siêu 
âm tim với điểm cắt là 174,3 pg/ml [2]. 
Triệu chứng lâm sàng của bệnh cơ tim 
giãn ở trẻ em không đặc hiệu. Suy tim là 
biểu hiện chủ yếu và cũng là nguyên nhân 
tử vong hàng đầu của bệnh nhưng thường 
tiến triển thầm lặng và không có xét nghiệm 
đơn lẻ, đặc hiệu để chẩn đoán. Việc chẩn 
đoán sớm và chính xác mức độ nặng của 
suy tim rất cần thiết để phân tầng nguy cơ 
trong điều trị, quản lý và tiên lượng bệnh. 
Nghiên cứu của chúng tôi đánh giá mức độ 
suy tim trên lâm sàng của đối tượng nghiên 
cứu theo thang điểm PHFI. Đây là một chỉ 
số có thể áp dụng cho trẻ em ở mọi lứa tuổi. 
Bên cạnh đó, nó còn giúp đánh giá một cách 
toàn diện (lâm sàng, xét nghiệm, điều trị) và 
chính xác mức độ nặng cũng như hiệu quả 
điều trị suy tim ở trẻ em. Kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi cho thấy có mối tương 
quan thuận rất chặt chẽ giữa điểm PHFI và 
giá trị log NT-proBNP (r = 0,84; p < 0,001). 
Kết quả nghiên cứu của Nasser và cộng sự 
cũng cho thấy mối tương quan này ở trẻ bị 
bệnh cơ tim giãn với r = 0,81; p = 0,01 [3]. 
Có thể thấy việc chẩn đoán và đánh giá mức 
độ nặng của suy tim luôn là một thách thức 
trong thực hành lâm sàng nhi khoa đặc biệt 
là đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Do khó 
khăn trong việc đánh giá khách quan về 
mức độ khó thở, mệt mỏi và đau ngực, đó 
lại là các yếu tố cơ sở của phân độ NYHA 
và Ross. Đối với thang điểm PHFI, tuy đây 
là một chỉ số mang tính khách quan và 
chính xác hơn các phân loại ra đời trước nó, 
nhưng lại phức tạp và khó đánh giá hơn, đặc 
biệt khó áp dụng trong các trường hợp cấp 
cứu. Khi đó, NT-proBNP có thể là một dấu 
ấn sinh học hữu ích, khách quan, dễ thực 
hiện, nhanh có kết quả và có thể tiến hành ở 
hầu hết các phòng thí nghiệm. Nó cho phép 
đánh giá thường xuyên, giúp chẩn đoán 
sớm, chính xác mức độ nặng của suy tim ở 
bệnh nhân bệnh cơ tim giãn. 
4.2 M i liên quan của N -proBNP với mức 
đ iãn v chức năn tâm thu th t trái trên 
siêu âm tim tron theo dõi b nh cơ tim iãn. 
Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, trong 
số 33 bệnh nhân của chúng tôi chỉ có 14 
bệnh nhân (42,4%) có tiến triển lâm sàng và 
siêu âm tim đều cải thiện tốt, 3 bệnh nhân 
(9,1%) không cải thiện, 16 bệnh nhân 
(48,5%) tử vong hoặc ghép tim. Những 
trường hợp tử vong hoặc cần đến ghép tim 
đều xảy ra trong vòng 6 tháng đầu sau chẩn 
đoán. Tỷ lệ sống sau 6 tháng chỉ 
đạt 51,5%. 
Việc định lượng nồng độ NT-proBNP 
lúc chẩn đoán là cần thiết để chẩn đoán xác 
định và đánh giá mức độ nặng của suy tim. 
Tuy nhiên, với duy nhất kết quả nồng độ 
NT-proBNP ban đầu không thể phản ánh 
toàn bộ triến triển trên lâm sàng và kết quả 
điều trị ở bệnh nhân suy tim nói chung. 
Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy cùng 
với siêu âm tim, việc theo dõi diễn biến 
nồng độ NT-proBNP có ý nghĩa rất quan 
trọng trong việc đánh giá đáp ứng điều trị 
và tiên lượng tử vong cũng như tái nhập 
viện ở bệnh nhân suy tim. Dựa trên cơ sở 
này, chúng tôi tiến hành kiểm tra nồng độ 
NT-proBNP của đối tượng nghiên cứu tại 
nhiều thời điểm: lúc chẩn đoán, 3 tháng, 
6 tháng sau chẩn đoán và cứ 3 tháng sau đó 
cho đến khi kết thúc theo dõi. Kết quả thu 
được cho thấy tại thời điểm chẩn đoán, giá 
trị log NT-proBNP của các nhóm tiến triển 
D.T.H. Van et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
36 
không có sự khác biệt. Tuy nhiên, đến thời 
điểm sau 3 tháng, nhóm tiến triển tốt có giá 
trị log NT-proBNP thấp hơn so với 2 nhóm 
còn lại và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. 
Đặc biệt, ở nhóm tiến triển tốt có sự cải 
thiện rõ rệt (3,936 ± 0,557 so với 3,083 ± 
0,529, p < 0,05). Trái lại, ở các nhóm tiến 
triển không tốt có giá trị log NT-proBNP 
sau 3 tháng gần như không thay đổi. Như 
vậy, theo dõi nồng độ NT-proBNP và sự 
thay đổi của nó trong 3 tháng đầu sau chẩn 
đoán phần nào có thể đánh giá được tiến 
triển của bệnh. Nhưng nồng độ NT-proBNP 
thay đổi bao nhiêu so với trị số ban đầu thì 
chúng tôi vẫn chưa có con số cụ thể do hạn 
chế cỡ mẫu của nghiên cứu làm ảnh hưởng 
đến độ mạnh của kiểm định thống kê. Do 
vậy, rất cần có những nghiên cứu với số 
lượng bệnh nhân lớn hơn để làm sáng tỏ 
vấn đề này. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
phù hợp với báo cáo của Kim và cộng sự 
năm 2013 [4]. Báo cáo này còn cho thấy giá 
trị log NT-proBNP tại thời điểm 3 tháng sau 
chẩn đoán cứ tăng 1 đơn vị (tức là nồng độ 
NT-proBNP tăng gấp 10 lần) thì bệnh nhân 
có nguy cơ tử vong hoặc ghép tim tăng gấp 
2,078 lần. Và để dự báo các biến cố tim 
mạch có thể xảy ra, giá trị điểm cắt của 
nồng độ NT-proBNP huyết thanh tại thời 
điểm 3 tháng sau chẩn đoán là 681 pg/ml 
với độ nhạy 100%; độ đặc hiệu 59,6%; diện 
tích dưới đường cong ROC là 0,846. Tác 
giả cũng cho rằng nồng độ NT-proBNP 
huyết thanh ban đầu không có ý nghĩa tiên 
lượng vì nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố 
như mức độ hoạt động của bệnh, nguyên 
nhân gây bệnh và thời gian khởi phát bệnh 
[4]. Có một số báo cáo lại chỉ ra rằng xét 
nghiệm NT-proBNP và theo dõi sự thay đổi 
của nồng độ NT-proBNP ở một số thời 
điểm khác với nghiên cứu của chúng tôi 
trong quá trình theo dõi có giá trị dự báo 
các biến cố tim mạch ở bệnh nhân bệnh cơ 
tim giãn. Susanna và cộng sự khi tiến hành 
theo dõi trên 115 bệnh nhân bệnh cơ tim 
giãn trong 7 năm (từ năm 2006 đến 2013) 
với thời gian theo dõi trung bình là 4,8 năm 
cho thấy giá trị nồng độ NT-proBNP tại 
thời điểm chẩn đoán cũng không có giá trị 
tiên lượng tử vong. Những nếu nồng độ 
NT-proBNP sau một năm chẩn đoán cao 
gấp đôi ban đầu thì sẽ tăng nguy cơ tử vong 
lên 2,9 lần [5]. Những khác biệt về kết quả 
giữa nghiên cứu của chúng tôi với các 
nghiên cứu khác trên trẻ em có thể do thời 
gian tiến hành, thời gian theo dõi trong 
nghiên cứu của chúng tôi ngắn, số lượng 
bệnh nhân ít mà tỷ lệ tử vong cao và nhiều 
bệnh nhân tử vong ngay trong đợt đầu 
điều trị. 
Đặc biệt, khi phân tích mối tương 
quan giữa giá trị log NT-proBNP với mức 
độ giãn và chức năng tâm thu thất trái trên 
siêu âm trong quá trình theo dõi, chúng tôi 
nhận thấy có mối tương quan chặt chẽ: Giá 
trị log NT-proBNP tỷ lệ thuận với đường 
kính thất trái cuối tâm trương (r = 0,519; 
p < 0,001), tỷ lệ nghịch với phân suất tống 
máu thất trái (r = -0,736; p < 0,001), và 
phân suất co ngắn sợi cơ (r = -0,737; 
p < 0,001). Điều này có nghĩa là nồng độ 
NT-proBNP ở bệnh nhân càng tăng, đồng 
thời thất trái càng giãn và chức năng tâm 
thu thất trái càng giảm. Tương tự với nghiên 
cứu của chúng tôi, các nghiên cứu trước đây 
cũng cho thấy mối tương quan này và 
khẳng định NT-proBNP có giá trị đánh giá 
chức năng tim trong quá trình theo dõi tiến 
triển bệnh. Trong một nghiên cứu khác ở 
những trẻ có tiền sử viêm cơ tim và bị bệnh 
cơ tim giãn cũng cho thấy log NT-proBNP 
tương quan nghịch với phân suất co ngắn 
sợi cơ (r = -0,57; p = 0,004), tương quan 
thuận với đường kính thất trái cuối tâm 
trương (r = 0,58; p = 0,004). Ngoài ra nó còn 
có giá trị chẩn đoán và tiên lượng những 
trường hợp có tình trạng rối loạn chức năng 
D.T.H. Van et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
37 
thất trái kéo dài trên siêu âm tim [3]. Nghiên 
cứu của Zoair cũng chứng minh có sự tương 
quan nghịch giữa nồng độ NT-proBNP huyết 
tương với các thông số đánh giá chức năng 
tâm thu thất trái trên siêu âm tim như EF và 
FS, tương quan thuận với đường kính thất trái 
cuối tâm trương, và mối tương quan này ở 
nhóm bệnh đặc hiệu hơn so với nhóm chứng 
[6]. Đánh giá ý nghĩa của xét nghiệm 
NT-proBNP và siêu âm tim trong theo dõi 
và tiên lượng bệnh cơ tim giãn, một số 
nghiên cứu cho rằng xét nghiệm 
NT-proBNP có giá trị hơn là siêu âm tim. 
Năm 2013, nghiên cứu của Kim và cộng sự 
trên 68 trẻ bị bệnh cơ tim giãn tại Hàn Quốc 
cho thấy khi đưa vào phân tích đa biến thấy 
nồng độ NT-proBNP tại thời điểm sau 3 
tháng, 6 tháng và mức độ thay đổi 
NT-proBNP sau 6 tháng điều trị có giá trị 
dự báo nguy cơ tử vong còn các chỉ số trên 
siêu âm tim lại không có ý nghĩa [4]. 
Nghiên cứu của Medar và cộng sự cũng cho 
thấy sự thay đổi về nồng độ NT-proBNP 
trong quá trình điều trị liên quan đến các 
biến cố tim mạch có thể xảy ra trong một 
năm sau đó (r = 0,616; p = 0,01) mạnh hơn 
là sự thay đổi về chỉ số EF trên siêu âm tim 
(r = -0,42; p = 0,15) [7]. Tác giả này nhấn 
mạnh rằng NT-proBNP có thể được sử dụng 
như là chỉ số độc lập, khách quan trong việc 
đánh giá đáp ứng điều trị hơn là siêu âm tim. 
Do xét nghiệm chính xác, nhanh có kết quả, 
có thể thực hiện ở hầu hết các phòng xét 
nghiệm. Trong khi để đánh giá trên siêu âm 
tim cần phải có bác sĩ chuyên khoa tim 
mạch, tốn nhiều thời gian, đòi hỏi phải an 
thần ở trẻ và mang tính chủ quan của người 
làm siêu âm tim. 
5. Kết luận 
Qua nghiên cứu nồng độ NT-proBNP ở 
33 trẻ bị bệnh cơ tim giãn tại Bệnh viện Nhi 
Trung ương từ tháng 12 năm 2015 đến 
tháng 9 năm 2017 chúng tôi rút ra một số 
kết luận: 
5. . Nồn đ N -proBNP v m i tươn 
quan với mức đ suy tim theo than điểm 
PHFI tron b nh cơ tim iãn ở trẻ em 
- Tại thời điểm chẩn đoán, 32/33 bệnh 
nhân (97%) có nồng độ NT-proBNP cao 
hơn giá trị bách phân vị thứ 97,5 theo tuổi. 
Phân bố nồng độ NT-proBNP của đối tượng 
nghiên cứu có giá trị trung vị là 12348,1 
pg/ml; bách phân vị thứ 25 và 75 là: 4938,8 
pg/ml và 27412,4 pg/ml. 
- NT-proBNP có mối tương quan thuận 
chặt chẽ với mức độ suy tim trên lâm sàng 
theo thang điểm PHFI (r = 0,84; p < 0,001). 
5.2. M i liên quan của N -proBNP với mức 
đ iãn v chức năn tâm thu th t trái trên 
siêu âm tim tron theo dõi b nh cơ tim iãn 
ở trẻ em 
- Tại thời điểm chẩn đoán, nồng độ 
NT-proBNP của 3 nhóm tiến triển trong 
nghiên cứu không có sự khác biệt. Tuy 
nhiên sau 3 tháng chẩn đoán, nhóm tiến 
triển tốt cải thiện rõ rệt, khác biệt có ý nghĩa 
so với nhóm tử vong/ghép tim và nhóm tiến 
triển xấu (p < 0,05). 
- Giá trị log NT-proBNP có mối tương 
quan thuận với đường kính thất trái cuối 
tâm trương (r = 0,519; p < 0,001), tương 
quan nghịch với phân suất tống máu thất 
trái (r = -0,736; p < 0,001) và phân suất co 
ngắn sợi cơ (r = -0,737; p < 0,001). 
Tài liệu tham khảo 
[1] Molina K.M, Shrader P, Colan S. D et al. 
Predictors of disease progression in pediatric 
dilated cardiomyopathy. Circ Heart Fail 
2013; 6(6): 1214-1222. 
D.T.H. Van et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 29-38 
38 
[2] Narin N, Hekimoglu B, Baykan A et al. The 
role of N-terminal proBNP in the clinic 
scoring of heart failure due to dilated 
cardiomyopathy in children. Clin Lab 2014 ; 
60(4):563-570. 
[3] Nasser N, Perles Z, Rein A.J et al. NT-
proBNP as a marker for persistent cardiac 
disease in children with history of dilated 
cardiomyopathy and myocarditis. Pediatr 
Cardio 2006;27(1):87-90. 
[4] Kim G, Lee O.J, Kang I.S et al. Clinical 
implications of serial serum N-terminal 
prohormone brain natriuretic peptide levels in 
the prediction of outcome in children with 
dilated cardiomyopathy. Am J Cardiol 2013; 
112(9):1455-1460. 
[5] Susanna B.S, Rizopoulos D, Marchie S.G et 
al. Usefulness of Serial N-terminal Pro-B-
type Natriuretic Peptide Measurements to 
Predict Cardiac Death in Acute and Chronic 
Dilated Cardiomyopathy in Children. Am J 
Cardiol 2016;118(11):1723-1729. 
[6] Zoair A, Mawlana W, El-Bendary A et al. 
Serum levels of amino terminal of probrain 
natriuretic peptide (NT-Pro BNP) as a 
diagnostic and prognostic biomarker in 
children with dilated cardiomyopathy. Tanta 
Medical Journal 2014; 42(2):53-57. 
[7] Medar S, Hsu D.T, Ushay H.M et al. Serial 
measurement of NT-proBNP predicts adverse 
cardiovascular outcome in children with 
primary myocardial dysfunction and acute 
decompensated heart failure (ADHF). Pediatr 
Crit Care Med 2015;16(6):529-534. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_gia_tri_cua_nong_do_nt_probnp_trong_theo_doi_benh.pdf