Nghiên cứu giá trị của HE4, CA125, thuật toán nguy cơ ác tính buồng trứng (roma) trong chẩn đoán trước mổ ung thư buồng trứng

Mục tiêu: Nghiên cứu giá trị của HE4, CA125 và ROMA trong dự báo

ung thư buồng trứng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, tiến cứu 277 bệnh

nhân có khối u buồng trứng được khám và điều trị tại Khoa Phụ Sản, Bệnh

viện Trung Ương Huế từ 1/2016 đến 11/2017. Tất cả các bệnh nhân được

thu thập thông tin cá nhân, xét nghiệm nồng độ CA 125 và HE4 huyết thanh

sử dụng kit HE4 của hãng ARCHITECT, tính chỉ số ROMA và ước tính nguy

cơ ác tính trước mổ. Sau khi bệnh nhân được phẫu thuật, các trị số này được

đối chiếu với kết quả mô bệnh học để tính toán giá trị chẩn đoán trước mổ.

Kết quả: Có 30 trường hợp ung thư buồng trứng, chiếm tỷ lệ 10,83%.

Giá trị trung vị của CA 125, HE4, ROMA của nhóm ung thư buồng trứng

và nhóm không ung thư lần lượt là: 214,20 U/ml và 17,45 U/ml; 90,00 pM

và 38,50 pM; 55,20% và 4,47. Độ nhạy và độ đặc hiệu của CA 125, HE4,

ROMA trong chẩn đoán ung thư buồng trứng lần lượt là: 83,33% và 78,14%;

50% và 98,38%; 80% và 84,62%. Diện tích dưới đường cong ROC của CA

125, HE4, ROMA lần lượt là: 0,872; 0,894; 0,912. Với điểm cắt tối ưu 9,35%

của chỉ số ROMA, độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 86,7% và 88,7%.

Kết luận: Ba chỉ số CA 125, HE4, ROMA đều có giá trị dự báo ung

thư buồng trứng được đánh giá là tốt đến rất tốt với diện tích dưới đường

cong ROC tương ứng là 0,872; 0,894 và 0,912, trong đó ROMA cho kết

quả cao nhất. Chỉ số ROMA nên được triển khai ứng dụng rộng rãi trong

thực hành lâm sàng để giúp đánh giá, xử trí và tiên lượng bệnh nhân có

khối u buồng trứng nghi ngờ ung thư.

pdf 7 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu giá trị của HE4, CA125, thuật toán nguy cơ ác tính buồng trứng (roma) trong chẩn đoán trước mổ ung thư buồng trứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu giá trị của HE4, CA125, thuật toán nguy cơ ác tính buồng trứng (roma) trong chẩn đoán trước mổ ung thư buồng trứng

Nghiên cứu giá trị của HE4, CA125, thuật toán nguy cơ ác tính buồng trứng (roma) trong chẩn đoán trước mổ ung thư buồng trứng
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
79
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 79 - 85, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Võ Văn Khoa, Nguyễn Vũ Quốc Huy 
Đại học Y Dược Huế
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA HE4, CA125,
THUẬT TOÁN NGUY CƠ ÁC TÍNH BUỒNG TRỨNG 
(ROMA) TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC MỔ
UNG THƯ BUỒNG TRỨNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Võ Văn Khoa, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Từ khóa: Ung thư buồng trứng, 
CA 125, HE4, ROMA.
Keys word: Ovarian cancer, 
CA 125, HE4, ROMA.
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu giá trị của HE4, CA125 và ROMA trong dự báo 
ung thư buồng trứng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, tiến cứu 277 bệnh 
nhân có khối u buồng trứng được khám và điều trị tại Khoa Phụ Sản, Bệnh 
viện Trung Ương Huế từ 1/2016 đến 11/2017. Tất cả các bệnh nhân được 
thu thập thông tin cá nhân, xét nghiệm nồng độ CA 125 và HE4 huyết thanh 
sử dụng kit HE4 của hãng ARCHITECT, tính chỉ số ROMA và ước tính nguy 
cơ ác tính trước mổ. Sau khi bệnh nhân được phẫu thuật, các trị số này được 
đối chiếu với kết quả mô bệnh học để tính toán giá trị chẩn đoán trước mổ. 
Kết quả: Có 30 trường hợp ung thư buồng trứng, chiếm tỷ lệ 10,83%. 
Giá trị trung vị của CA 125, HE4, ROMA của nhóm ung thư buồng trứng 
và nhóm không ung thư lần lượt là: 214,20 U/ml và 17,45 U/ml; 90,00 pM 
và 38,50 pM; 55,20% và 4,47. Độ nhạy và độ đặc hiệu của CA 125, HE4, 
ROMA trong chẩn đoán ung thư buồng trứng lần lượt là: 83,33% và 78,14%; 
50% và 98,38%; 80% và 84,62%. Diện tích dưới đường cong ROC của CA 
125, HE4, ROMA lần lượt là: 0,872; 0,894; 0,912. Với điểm cắt tối ưu 9,35% 
của chỉ số ROMA, độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 86,7% và 88,7%.
Kết luận: Ba chỉ số CA 125, HE4, ROMA đều có giá trị dự báo ung 
thư buồng trứng được đánh giá là tốt đến rất tốt với diện tích dưới đường 
cong ROC tương ứng là 0,872; 0,894 và 0,912, trong đó ROMA cho kết 
quả cao nhất. Chỉ số ROMA nên được triển khai ứng dụng rộng rãi trong 
thực hành lâm sàng để giúp đánh giá, xử trí và tiên lượng bệnh nhân có 
khối u buồng trứng nghi ngờ ung thư.
Từ khoá: Ung thư buồng trứng, CA 125, HE4, ROMA.
Abstract 
VALIDITY OF SERUM CA-125, HE4 AND ROMA IN 
PREOPERATIVE PREDICTION OF OVARIAN CANCER
Objectives: To evaluate the validity of serum CA-125, HE4 and 
ROMA in preoperative prediction of ovarian cancer.
VÕ VĂN KHOA, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY 
80
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Materials and Methods: cross-sectional, descriptive study on 277 patients hospitalized at the OBGYN 
Department, Hue Central Hospital from Jan 2016 to November 2017. All patients have completed history 
taking, measurements of serum CA-125 and HE4 using ARCHITECT HE4 kits; ROMA calculated, 
and risk of preoperative malignancy estimated. These values were matched postoperatively to the 
histopathological results to calculate the preoperative prediction values.
Results: There were 30 (10,8%) cases of ovarian cancer. Median values of CA 125, HE4, and ROMA 
of ovarian cancer and benign ovarian were 214,20 U/ml and 17,45 U/ml; 90,00 pM and 38,50 pM; 55,20% 
and 4,47%, respectively. The sensitivities and specificity associated with the ability of CA125, HE4, 
ROMA, to distinguish between malignant versus benign ovarian masses were 83,33% and 78,14%; 50% 
and 98,38%; 80% and 84,62%, respectively. Areas under the ROC curve of CA-125, HE4, ROMA were 
0,872; 0,894; and 0,912 respectively. With optimal cutoff values 9,35% for ROMA, the sensitivity and 
specificity were 86.7% and 88.7%, respectively.
Conclusion: All three of CA 125, HE4, and ROMA have good validity in the diagnosis of ovarian cancer. 
Areas under the ROC curve of CA-125, HE4, ROMA were 0,872; 0,894; and 0,912 respectively, of which 
ROMA gives the highest results. The ROMA index should be widely applied in clinical practice to help 
assess, manage and predict patients with suspected ovarian cancer.
Keywords: Ovarian cancer, CA 125, HE4, ROMA.
1. Đặt vấn đề
Ung thư buồng trứng (UTBT) là bệnh lý ác tính 
xếp thứ 7 của phụ nữ trên toàn thế giới, xảy ra với 
tần suất 5-15/100.000 phụ nữ/năm ở các nước 
phương Tây. Tại Việt Nam, số liệu của Globocan 
năm 2012 cho thấy tần suất mắc mới khoảng 3 – 
4,5/100.000 phụ nữ/năm, tỷ lệ lưu hành khoảng 
8 – 10 trường hợp/100.000 phụ nữ/năm [8]. 
Khoảng 70% các trường hợp ung thư buồng trứng 
không được chẩn đoán trước khi đạt đến giai đoạn 
tiến triển. Tỷ lệ sống sót 5 năm liên quan đến ung 
thư buồng trứng là <30% [7]. Chẩn đoán sớm khối 
u ác tính buồng trứng trở thành yếu tố chính trong 
việc cải thiện tỷ lệ sống sót của bệnh nhân. Các 
công cụ hiện đang được sử dụng để phân biệt bệnh 
nhân có nguy cơ thấp và nguy cơ cao mắc ung thư 
buồng trứng là chất chỉ điểm CA125, HE4 cũng 
như chỉ số nguy cơ Thuật toán ác tính buồng trứng 
(ROMA) [12].
CA125 là chất chỉ điểm sinh học được sử dụng 
rộng rãi nhất trong ung thư buồng trứng. Tuy nhiên, 
độ nhạy và độ đặc hiệu của CA125 chỉ phát hiện 
khoảng 80% bệnh nhân bị ung thư buồng trứng 
nhưng chỉ trong 50% phụ nữ bị bệnh ở giai đoạn 
sớm. Độ nhạy, độ đặc hiệu CA125 có giới hạn, vì 
nó có thể được tăng cao trong một loạt các bệnh 
lành tính phổ biến như lạc nội mạc tử cung và 
viêm nhiễm vùng chậu [14]... Trong những năm 
gần đây, đã có một tìm kiếm cho dấu ấn sinh học 
mới và HE4 là một trong những dấu hiệu đầy hứa 
hẹn hơn. HE4 đã được tìm thấy trong hơn một nửa 
trong số các khối u buồng trứng mà không thể hiện 
CA125 [14]. Sự kết hợp HE4 và CA125 rất tiềm 
năng, đem lại độ nhạy và độ đặc hiệu cao giúp 
phát hiện sớm ung thư buồng trứng, việc kết hợp 
này được tính trong một thuật toán để đánh giá khả 
năng ác tính của buồng trứng gọi là ROMA [15]. 
Nghiên cứu HE4 và ROMA trong chẩn đoán sớm 
ung thư buồng trứng đã được thực hiện khắp nơi 
trên thế giới. 
Tại Việt Nam hiện chỉ có rất ít đề tài khảo sát 
riêng lẻ về giá trị của HE4 và ROMA trong chẩn 
đoán ung thư buồng trứng trên cỡ mẫu nhỏ. Do 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
81
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 79 - 85, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
đó, chúng tôi thực hiện đề tài với mục tiêu: Nghiên 
cứu giá trị của HE4, CA125 và ROMA trong chẩn 
đoán trước mổ ung thư buồng trứng. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Gồm 277 bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng 
là khối u buồng trứng, bao gồm u buồng trứng lành 
tính và ung thư buồng trứng nhập viện Khoa Phụ 
Sản bệnh viện Trung Ương Huế từ tháng 1 năm 
2016 đến tháng 11 năm 2017.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân có đủ 
thông tin cá nhân, các triệu chứng lâm sàng, 
nồng độ CA125 và HE4 huyết thanh, có kết quả 
giải phẫu bệnh sau mổ, hoặc xét nghiệm tế bào 
học màng bụng dương tính (đối với những bệnh 
nhân ung thư buồng trứng vượt quá giai đoạn 
phẫu thuật).
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân đang mang 
thai; Bệnh nhân có tiền sử UTBT hoặc ung thư phúc 
mạc tiên phát hoặc có bất kỳ bệnh ung thư nào 
kèm theo.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả 
cắt ngang, tiến cứu. 
2.2.1. Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện trong thời 
gian nghiên cứu.
2.2.2. Quy trình nghiên cứu:
- Khám, phỏng vấn các bệnh nhân có u buồng 
trứng để thu thập các số liệu về tuổi, tình trạng kinh 
nguyệt, số con.
- Thu thập chỉ số nồng độ CA125, HE4: Lấy 
2ml máu tĩnh mạch bệnh nhân, quay ly tâm lấy 
huyết tương, làm xét nghiệm CA 125, HE4 theo 
tiêu chuẩn kỹ thuật của Khoa Hoá Sinh Bệnh viện 
Trung Ương Huế, kết quả trả về trong ngày.
+ CA 125: Thực hiện trên máy xét nghiệm miễn 
dịch Elecsys 2010. CA125 được gọi là dương tính 
khi [CA125] > 35U/ml; âm tính khi [CA125] ≤ 
35U/ml.[5]
+ HE4: Thực hiện trên máy xét nghiệm miễn 
dịch Architect i1000. 
Với phụ nữ trước mãn kinh, HE4 dương tính: 
[HE4] > 70pmol/l và âm tính: [HE4] ≤ 70pmol/l. 
Với phụ nữ mãn kinh, HE4 dương tính: [HE4] > 
140 pmol/l và âm tính: [HE4] ≤ 140pmol/l.
- Tính chỉ số ROMA [16]
+ Phụ nữ trước mãn kinh 
PI= -12,0 + 2,38*LN[HE4] + 0,0626*LN[CA125]
ROMA = exp(PI) / [1 + exp(PI)] * 100
Nếu ROMA ≥ 7,4%, nguy cơ ác tính cao. 
Nếu ROMA < 7,4%, nguy cơ ác tính thấp
+ Phụ nữ sau mãn kinh:
PI= -8,09 + 1,04*LN[HE4] + 0,732LN[CA125]
ROMA = exp(PI) / [1 + exp(PI)] * 100
Nếu ROMA ≥ 25,3%, nguy cơ ác tính cao. 
Nếu ROMA < 25,3%, nguy cơ ác tính thấp
- Điều trị và xét nghiệm mô bệnh học khối u 
buồng trứng. Phân loại mô bệnh học khối u theo 
WHO. Các trường hợp ung thư buồng trứng vượt 
quá giai đoạn phẫu thuật và có kết quả tế bào dịch 
báng dương tính được xem là có “tiêu chuẩn vàng” 
dương tính.
- Phân tích và tính toán giá trị chẩn đoán của 
các trị số và chỉ số dựa trên tiêu chuẩn vàng mô 
bệnh học.
2.2.3. Xử lý số liệu
Số liệu được nhập và xử lý trên phần mềm SPSS 
20.0 theo phương pháp thống kê y học. Kiểm định 
Chi bình phương: cho 2 biến phân loại. Kiểm định 
Mann-Whitney để so sánh sự khác nhau giữa 2 
nhóm không phải phân phối chuẩn. Kiểm định 
Hanley – McNeil để so sánh 2 AUC.
3. Kết quả nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 277 bệnh nhân, 
trong đó nhóm u buồng trứng lành tính gồm 247 
UTBT
Đặc điểm
Không ung thư Ung thư
p
n (247) % n (30) %
Nhóm tuổi
<20 16 6,5 0 0
<0,01a
20 – 29 76 30,8 3 10,0
30 – 39 66 26,7 2 6,7
40 – 49 52 21,1 6 20,0
≥ 50 37 15,0 19 63,3
Kinh nguyệt
Còn kinh 217 87,9 13 43,3
<0,01a
Mãn kinh 30 12,1 17 56,7
Số con
Chưa có con 70 28,3 7 23,3
0,220a
1 con 48 19,4 4 13,3
2 con 52 21,1 4 13,3
> 2 con 77 31,2 15 50,0
a: Kiểm định Chi bình phương
Bảng 1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
VÕ VĂN KHOA, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY 
82
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
bệnh nhân chiếm 89,2%, nhóm u buồng trứng ác 
tính gồm 30 bệnh nhân chiếm 10,8%, trong đó có 
25 bệnh nhân ung thư biểu mô, 3 bệnh nhân u tế 
bào hạt, 1 u tế bào mầm, 1 u carcinoid. 
Có sự khác biệt về phân bố nhóm tuổi và tình 
trạng kinh nguyệt với bênh ung thư buồng trứng, 
cụ thể trong nhóm bệnh nhân ung thư buồng trứng: 
63,3% bệnh nhân ≥ 50 tuổi, 56,7% bệnh nhân 
mãn kinh. (p< 0,01)
Không có sự khác biệt về số con của bệnh nhân 
và bệnh ung thư buồng trứng. (p= 0,220).
Trung vị của HE4, CA125 và ROMA của nhóm 
ung thư cao hơn nhóm không ung thư, sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê.
Trong nhóm nghiên cứu chung, diện tích dưới 
đường cong ROC (AUC) của ROMA cao hơn HE4 
và CA 125.
Diện tích dưới đường cong (AUC) của ROMA 
cao hơn so với HE4 và CA 125. Tuy nhiên khi 
sử dụng test Hanley-McNeil để so sánh AUC 
của ROMA với 2 chỉ số HE4 và CA 125 thì sự 
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Cụ 
Giá trị
(Trung vị
Q25%-Q75%)
Nhóm nghiên cứu
(n=277)
Không ung thư
(n=247)
Ung thư
(n=30)
Đơn 
vị lệch 
chuẩn Z
p
CA125(U/ml) 18,91(12,20 - 39,04)
17,45
(11,88 - 28,70)
214,20
(60,56 - 764,42) -6,647 <0,01
b
HE4(pmol/l) 39,80(30,50 - 50,10)
38,50
(30,10 - 45,90)
90,00
(57,47 - 447,97) -7,040 < 0,01 
b
ROMA(%) 4,80(2,53 - 8,47)
4,47
(2,44 - 7,02)
55,20
(11,89 - 95,00) -7,373 < 0,01 
b
b: Kiểm định Mann-Whitney
Bảng 2. Giá trị của CA125, HE4, ROMA của mẫu nghiên cứu
Tham số
Diện 
tích dưới 
đường 
ROC
Điểm cắt tối ưu Điểm cắt chuẩn
Điểm cắt Độ nhạy (%)
Độ đặc 
hiệu (%) Điểm cắt
Độ nhạy 
(%)
Độ đặc 
hiệu (%)
Nhóm nghiên cứu
CA125 0,872 48,5 U/ml 83,3 86,64 35 U/ml 83,3 78,14
HE4 0,894 55,3 pM 80,0 91,5 ---------- 50,0 98,38
ROMA 0,912 9,35 % 86,7 88,7 ---------- 80,0 84,62
Trước mãn kinh
CA125 0,931 48,5 U/ml 92,3 85,7 35 U/ml 92,31 76,5
HE4 0,835 55,3 pM 76,9 94,0 70 pM 61,54 98,16
ROMA 0,844 9,74 % 76,9 92,6 7,4 % 76,92 82,95
Sau mãn kinh
CA125 0,900 39,86 U/ml 76,47 93,3 35 U/ml 76,47 90,0
HE4 0,894 58,2 pM 76,5 86,7 140pM 41,18 100,0
ROMA 0,924 23,99 % 82,4 96,7 25,3 % 82,35 96,67
Bảng 3. Giá trị chẩn đoán ung thư buồng trứng của CA 125, HE4, ROMA tại điểm cắt chuẩn 
và điểm cắt tối ưu.
Biểu đồ 1: Đường cong ROC của CA125, HE4, ROMA
thể: ROMA và CA125 (Z = 0,869; p=0,3851); 
ROMA và HE4 (Z = 1,090, p = 0,27).
4. Bàn luận
4.1. Giá trị của CA 125
Biến số liên tục CA 125 trong nghiên cứu của 
chúng tôi có dạng phân phối không chuẩn. Do 
đó các số liệu về thống kê của CA 125 sẽ được 
báo cáo là số trung vị với độ phân tán số liệu là 
các bách phân vị.
Khi khảo sát giá trị trung vị của CA 125 trong 
quần thể nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận kết 
quả: 18,91 (12,20 - 39,04) U/ml và giá trị trung 
vị này trong nhóm UTBT là 214,20 U/ml (60,56 
- 764,42) U/ml cao hơn so với nhóm không 
UTBT 17,45 (11,88 - 28,70) U/ml. Sự khác biệt 
này có ý nghĩa thống kê (p < 0,01). Điều này cho 
thấy nồng độ CA 125 trong máu có mối tương 
quan với tình trạng có hay không UTBT.
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên quần 
thể phụ nữ có khối u buồng trứng nhập viện để 
phẫu thuật, dùng kết quả giải phẫu bệnh là tiêu 
chuẩn vàng cho quyết định có hay không có 
UTBT, với điểm cắt được chọn cho CA 125 được 
gọi là dương tính khi giá trị CA125 > 35 U/ml.
Có nhiều nguyên nhân lành tính có thể làm 
tăng CA 125, bao gồm mang thai, lạc nội mạc 
tử cung, u xơ tử cung (u lành), viêm tụy, kinh 
nguyệt, bệnh viêm nhiễm vùng chậu, và bệnh 
gan. Tuy nhiên khoảng gần 20% phụ nữ có ung 
thư buồng trứng không có tăng CA 125, phần 
lớn trường hợp có tăng CA 125 đơn thuần lại 
không mắc bệnh ung thư [5]. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi có các trường hợp u lạc nội mạc tử 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
83
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 79 - 85, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
cung, u buồng trứng kèm viêm nhiễm tiểu khung 
cho kết quả CA 125 rất cao, bên cạnh đó có 3 
trường hợp ung thư tế bào hạt và 1 trường hợp u 
carcinoid có kết quả CA 125 và HE4 hoàn toàn 
bình thường.
Kết quả ghi nhận, nếu tính theo tiêu chuẩn 
điểm cắt 35 U/ml thì độ nhạy của CA 125 trong 
nghiên cứu của chúng tôi là 83,3% và độ đặc 
hiệu là 78,14%. Diện tích dưới đường cong ROC 
của CA 125 là 0,872 với điểm cắt tối ưu là 
48,5U/ml thì độ nhạy là 83,3% và độ đặc hiệu 
là 86,64%. Do đó để tăng độ đặc hiệu của CA 
125 kiến nghị nên tăng điểm cắt lên khoảng 
48,5 là phù hợp.
4.2. Giá trị của HE4
Biến số liên tục HE4 trong nghiên cứu của 
chúng tôi có dạng phân phối không chuẩn. Do 
đó các số liệu về thống kê của HE4 sẽ được báo 
cáo là số trung vị với độ phân tán số liệu là các 
bách phân vị.
Khi khảo sát giá trị trung vị của HE4 trong 
quần thể nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận kết 
quả: 39,80 (30,50 - 50,10) pmol/l và giá trị 
trung vị này trong nhóm UTBT là 90,00 pmol/l 
(57,47 – 447,97 ) pmol/l cao hơn so với nhóm 
không UTBT 38,50 pmol/l (30,10 - 45,90) 
pmol/l. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p 
< 0,01). Điều này cho thấy nồng độ HE4 trong 
máu có mối tương quan với tình trạng có hay 
không UTBT. Các quan sát này cũng được ghi 
nhận tương tự với CA125 và ROMA. Hai biến số 
này cũng có dạng phân phối không chuẩn và có 
mối tương quan với tình trạng UTBT.
Kết quả giá trị HE4 của chúng tôi gần giống 
với kết quả của Tô Thị Thục Trang [3] năm 2014 
về số trung vị của HE4 44,7 pmol/l (36,7-55,2) 
pmol/l, thấp hơn kết quả của Francis Jacob 
(2011) [11] với số trung vị trong nhóm lành tính 
là 50 (42- 62) pmol/l, trong nhóm ung thư là 
128 (79 - 572) pmol/l. Sự khác biệt này có thể 
là do cỡ mẫu nghiên cứu khác nhau và thực hiện 
trên quần thể không phải là người Châu Á.
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên quần 
thể phụ nữ có khối u buồng trứng nhập viện để 
phẫu thuật, dùng kết quả giải phẫu bệnh là tiêu 
chuẩn vàng cho quyết định có hay không có 
UTBT, với điểm cắt được chọn cho HE4 được gọi 
là dương tính khi giá trị HE4 >140 pmol/l ở phụ 
nữ mãn kinh hoặc > 70 pmol/l ở phụ nữ chưa 
mãn kinh.
Kết quả ghi nhận độ nhạy của HE4 trong 
nghiên cứu của chúng tôi là 50% và độ đặc hiệu 
là 98,38%. So sánh với độ nhạy dao động khoản 
56,9%-80,8% từ các nghiên cứu trước đây ở nước 
ngoài, kết quả của chúng tôi có thấp hơn. Độ đặc 
hiệu trong nghiên cứu của chúng tôi là 98,38% 
và tương đồng với các nghiên cứu trong nước và 
ngoài nước, hầu hết đều ≥ 90%. Tác giả Tô Thị 
Thục Trang (2014) cho kết quả là 97,3% [3]. Gorp 
năm 2011 và Chan K. K. năm 2013 cũng cho kết 
quả là 96,9%, gần giống với kết quả của chúng 
tôi [9], [6]. Chỉ có nghiên cứu Francis Jacob năm 
2011 trên 160 bệnh nhân cho kết quả tương đối 
thấp hơn là 84,6% [11], sự khác biệt này có lẽ 
do quần thể nghiên cứu của tác giả bao gồm cả 
những người khỏe mạnh (không có khối u buồng 
trứng) và khảo sát trên cỡ mẫu nhỏ.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 
diện tích dưới dưới đường cong ROC của HE4 là 
0,894. Ghi nhận này của chúng tôi tương đồng 
với nghiên cứ của Tô Thị Thục Trang (2014) 
là 0,92.Theo nghiên cứu của hai tác giả nước 
ngoài Su Wei năm 2016: AUC/ROC = 0,99 và 
của Gorp năm 2011: AUC/ROC = 0,86. Như 
vậy giá trị AUC/ROC của HE4 hầu hết qua các 
nghiên cứu > 0,86, điều này nói lên HE4 là một 
xét nghiệm có giá trị cao trong chẩn đoán UTBT.
Trong nghiên cứu này, khi khảo sát đường 
cong ROC, chúng tôi nhận thấy điểm cắt tối ưu 
của HE4 là 55,4 pM, tại điểm cắt này ta có độ 
nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 80% và 91,5%, 
kết quả này có giá trị tốt hơn hẳn khi dùng điểm 
cắt theo chuẩn. 
4.3. Giá trị của ROMA
Biến số liên tục ROMA trong nghiên cứu 
Tác giả n Độ nhạy (%) Độ đặc hiệu (%) ROC
Gorp (2011) [9] 389 74,5 96,9 0,86
Francis Jacob (2011) [11] 160 83,3 84,6 0,89
Karlsen (2012) [12] 1218 63,2 90
Chan K. K. (2013) [6] 414 56,9 96,9
Vũ Bá Quyết (2014) [2] 85 63,6 94,7
Tô T Th Trang (2014) [3] 1290 80,8 97,3 0,92
Su Wei (2016) [17] 158 75 97,87 0,990
Chúng tôi (2016) 277 50 98,38 0,894
Bảng 4. So sánh giá trị chẩn đoán của HE4 với các tác giả khác
VÕ VĂN KHOA, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY 
84
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
chúng tôi cũng có dạng là một phân phối không 
chuẩn. Do đó các số liệu thống kê của ROMA 
sẽ được báo cáo qua số trung vị. Trung vị của 
ROMA là 4,80% (2,53 - 8,47%) , trong đó giá 
trị trung vị trong nhóm không ung thư buồng 
trứng 4,47% (2,44- 7,02%) và nhóm ung thư 
buồng trứng là 55,20% (11,89- 95,0%), sự khác 
biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,01). Theo 
tác giả Katarzyna M. Terlikowska và cộng sự 
(2016) [18] ghi nhận trung vị của ROMA nhóm 
không ung thư và nhóm ung thư buồng trứng: 
12,4% và 50,4%. Theo Aneta Cymbaluk-Płoska 
(2016) [8] ghi nhận trung vị của ROMA nhóm 
không ung thư và nhóm ung thư buồng trứng: 
11,3%, 96,12%. Giá trị này cao hơn chúng tôi 
vì nhóm nghiên cứu số lượng khác với chúng tôi, 
Nhóm không ung thư và ung thư buồng trứng: 
35 và 25 bệnh nhân.
ROMA là kết quả của 1 thuật toán sau khi 
kết hợp giữa kết quả của HE4 và CA125 từ đó 
tính toán khả năng ác tính của 1 khối u buồng 
trứng hay khối u vùng hạ vị ở phụ nữ còn kinh 
hay đã mãn kinh. Độ nhạy và độ đặc hiệu của 
ROMA trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi: 
80,0% và 84,62%. So sánh với các kết quả với 
giá trị độ nhạy và độ đặc hiệu với CA 125 và 
HE4, nghiên cứu của chúng tôi thấy ROMA cho 
độ nhạy cao hơn nhưng độ đặc hiệu thấp hơn 
HE4, nhưng lại cho độ nhạy thấp hơn và độ đặc 
hiệu cao hơn CA125. 
Theo Võ Thành Nhân [1] nghiên cứu với n 
= 31 năm 2010, độ nhạy của ROMA là 88,2% 
và độ đặc hiệu 64,3%. Theo Dr Jaganathan, 
độ nhạy của ROMA là 91,4%. Nghiên cứu của 
Cristina Anton (2016) [4], với n = 128 cho 
thấy ROMA có độ nhạy là 74,1% và độ đặc 
hiệu là 75,8%. Nghiên cứu Su Wei và cộng sự 
năm 2016 [17], n = 158 thu được độ nhạy của 
ROMA là 93,75%; độ đặc hiệu là 92,55. Theo 
Vũ Bá Quyết (2014) [2] độ nhạy của ROMA 
là 63,6% và độ đặc hiệu là 86,7%, nghiên cứu 
của chúng tôi có độ nhạy và độ đặc hiệu tương 
đương các nghiên cứu khác. 
Theo Karlsen M. A. [13], trong chẩn đoán 
ung thư buồng trứng, để có dự đoán chính xác 
khả năng lành tính hay ác tính của khối u buồng 
trứng, với từng nhóm còn kinh hay mãn kinh nên 
sử dụng ROMA khác nhau. Ở nhóm mãn kinh, 
nên sử dụng ROMA, dự đoán kết quả sẽ chính 
xác hơn. Ở nhóm còn kinh, nên sử dụng riêng lẻ 
nồng độ HE4, sẽ cho kết quả tốt hơn. HE4 đặc 
hiệu hơn CA125 trong các bệnh u buồng trứng. 
HE4 và CA125 hay ROMA làm tăng độ nhạy 
trong chẩn đoán phân biệt khối u buồng trứng, 
tuy nhiên HE4 có độ đặc hiệu hơn. Nghiên cứu 
của chúng tôi nhận thấy trong nhóm trước mãn 
kinh thì CA125 cho độ nhạy cao nhất, sau mãn 
kinh thì ROMA cho độ nhạy cao, HE4 có độ đặc 
hiệu cao nhất trong các thời điểm.
Đường cong ROC và diện tích dưới đường 
cong (AUC) của ROMA: 0,912, có giá trị rất tốt 
trong vấn đề chẩn đoán bệnh, với điểm cắt tối 
ưu là 9,52% giá trị độ nhạy và độ đặc hiệu lần 
lượt là 86,7% và 88,7%. Theo Su Wei (2016), 
AUC/ROC = 0,994, theo Cristina Anton (2016), 
AUC/ROC = 0,824.
5. Kết luận
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy cả 
ba chỉ số là CA 125, HE4, ROMA đều có giá trị dự 
báo ung thư buồng trứng được đánh giá là tốt đến 
rất tốt với diện tích dưới đường cong ROC tương 
ứng là 0,872; 0,894 và 0,912, trong đó ROMA 
cho kết quả cao nhất. Chỉ số ROMA nên được triển 
khai ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng 
để giúp đánh giá, xử trí và tiên lượng bệnh nhân có 
khối u buồng trứng nghi ngờ ung thư.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
85
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 79 - 85, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Tài liệu tham khảo
1. Vũ Thanh Nhân và cs. Vai trò của HE4 trong chẩn đoán UTBT. Tạp 
chí Y học thành phố Hồ Chí Minh 2010;14 (phụ bản 4):495 - 499.
2. Vũ Bá Quyết, Đặng Quang Hùng. Nghiên cứu giá trị của nồng 
độ HE4 huyết thanh trong chẩn đoán u buồng trứng. Tạp chí phụ sản 
2014;12(2):35-39.
3. Tô Thị Thục Trang. Giá trị của HE4 trong chẩn đoán ung thư biểu 
mô buồng trứng tại Bệnh viện Từ Dũ, Luận án chuyên khoa II, Đại Học 
Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh 2014.
4. Anton C, Carvalho FM, Oliveira EI, Maciel GA, Baracat EC, Carvalho 
JP. A comparison of CA125, HE4, risk ovarian malignancy algorithm 
(ROMA), and risk malignancy index (RMI) for the classification of ovarian 
masses. Clinics. 2012;67(5):437-441.
5. Bast RCJr, Xu FJ, Yu YH, Barnhill S, Zhang Z, Mills GB. CA 125: the 
past and the future. Int J Biol Markers. 1998;13(4):179-87.
6. Chan K. K., et al.The use of HE4 in the prediction of ovarian cancer 
in Asian women with a pelvic mass.Gynecol Oncol 2013;128(2):239-44.
7. Creasman WT, Ngan HY, Pecorelli S and Beller U: Carcinoma of the 
fallopian tube. FIGO 26th Annual Report on the Results of Treatment 
in Gynecological Cancer. Int J Gynaecol Obstet 2006; 95 (Suppl 
1):S145-S160.
8. Cymbaluk-Płoska1 Aneta, Anita Chudecka-Głaz1, Anna Surowiec. 
MMP3 in Comparison to CA 125, HE4 and the ROMA Algorithm in 
Differentiation of Ovarian Tumors, Asian Pacific Journal of Cancer 
Prevention 2016; 17:2597-2603.
9. Gorp Van T., Cadron I., Despierre E., et al. HE4 and CA125 as a 
diagnostic test in ovarian cancer: prospective validation of the Risk of 
Ovarian Malignancy Algorithm, Br J Cance 2011; Mar 1;104(5):863-70.
10. Ferlay J, et al. GLOBOCAN. Cancer Incidence and Mortality 
Worldwide: IARC CancerBase No. 11 [Internet]. Lyon, France: IARC 
2013. Available from:  accessed on 04/Feb/2015.
11. Jacob F., et al. No benefit from combining HE4 and CA125 as ovarian 
tumor markers in a clinical setting”, Gynecol Oncol 2011; 121(3): 487-91.
12. Karlsen M. A., et al. Evaluation of HE4, CA125, risk of ovarian 
malignancy algorithm (ROMA) and risk of malignancy index (RMI) as 
diagnostic tools of epithelial ovarian cancer in patients with a pelvic mass”, 
Gynecol Oncol 2012;127(2):379-83.
13. Karlsen M. A., Høgdall E.V., Christensen I.J., et al. A novel diagnostic 
index combining HE4, CA125 and age may improve triage of women with 
suspected ovarian cancer - An international multicenter study in women 
with an ovarian mass. Gynecol Oncol. 2015 Sep;138(3):640-6.
14. Montagnana M., et al. HE4 in ovarian cancer: from discovery to 
clinical application.Adv Clin Chem 2011;55:1-20.
15. Moore RG, McMeekin DS, Brown AK, DiSilvestro P, Miller MC, Allard 
WJ, et al. A novel multiple marker bioassay utilizing HE4 and CA125 for 
the prediction of ovarian cancer in patients with a pelvic mass. Gynecol 
Oncol. 2009;112:40–6.
16. Moore RG, Jabre-Raughley M, Brown AK, Robison KM, Miller MC, 
Allard WJ, et al. Comparison of a novel multiple marker assay vs. the 
Risk of Malignancy Index for the prediction of epithelial ovarian cancer 
in patients with a pelvic mass. Am J Obstet Gynecol. 2010;203(3):228-6
17. Su Wei, Hui Li, Bei Zhang. The diagnostic value of serum HE4 and 
CA-125 and ROMA index in ovarian cancer. Biomedical reports 2016; 
5:41 – 44.
18. Terlikowska Katarzyna M., et al. Preoperative HE4, CA125 and 
ROMA in the differential diagnosis of benign and malignant adnexal 
masses. Journal of Ovarian Research 2016.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_gia_tri_cua_he4_ca125_thuat_toan_nguy_co_ac_tinh.pdf