Nghiên cứu giá trị của βhCG huyết thanh và siêu âm đường âm đạo trong theo dõi chửa ngoài tử cung
Mục tiêu: Xác định giá trị của mức độ tăng βhCG 48 giờ và siêu âm
đường âm đạo ở bệnh nhân theo dõi chửa ngoài tử cung.
Đối tượng và phương pháp: mô tả, tiến cứu 160 bệnh nhân được nhập
viện theo dõi chửa ngoài tử cung tại Khoa Phụ 1- Bệnh viện Phụ Sản
Trung ương từ 9/2017 đến 01/2018, xử lý số liệu bằng chương trình
SPSS 16.0. Tính giá trị trung bình, so sánh hai giá trị trung bình, độ
nhậy, độ đặc hiệu và xây dựng đường cong ROC.
Kết quả: 160 bệnh nhân theo dõi chửa ngoài tử cung có 112 bệnh
nhân chửa ngoài tử cung (CNTC), 21 bệnh nhân chửa trong tử cung
(CTTC), 27 bệnh nhân sẩy thai tự nhiên/thai tự tiêu. Nồng độ trung bình
của βhCG nhóm CNTC sau 48 giờ (778,43, 95%CI:601,85-955,02)
thấp hơn so với nhóm CTTC (3119,04; 95%CI:1221,36-5016,72) có ý
nghĩa thống kê với p <0.0001. theo="" dõi="" sau="" 48h:="" tỉ="" lệ="" βhcg="" tăng="">0.0001.>
53%, chẩn đoán CNTC với độ nhạy 83,0%, độ đặc hiệu 39,5%, giá trị
tiên đoán dương 76,2%, giá trị tiên đoán âm 50,0%. Siêu âm có khối
hỗn hợp âm cạnh tử cung (TC) tiên lượng chẩn đoán CNTC với độ nhạy
84,8%, độ đặc hiệu 64,6%, diện tích dưới đường cong 74,7%.
Kết luận: Mức độ tăng của βhCG trên 53% tiên lượng CTTC; dưới
53% tiên lượng CNTC hoặc sẩy thai sớm. Siêu âm sau 48 giờ có khối
hỗn hợp âm cạnh tử cung, tiên lượng CNTC
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu giá trị của βhCG huyết thanh và siêu âm đường âm đạo trong theo dõi chửa ngoài tử cung
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 69 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 69 - 73, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Đào Nguyên Hùng(1), Trương Văn Vũ(2), Ngô Minh Thắng(3), Trần Văn Khoa(1), Phạm Thị Thanh Hiền(3) (1) Học viện Quân Y, (2) Đại học Y Thái Nguyên, (3) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA βHCG HUYẾT THANH VÀ SIÊU ÂM ĐƯỜNG ÂM ĐẠO TRONG THEO DÕI CHỬA NGOÀI TỬ CUNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Đào Nguyên Hùng, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 08/06/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 25/06/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 29/06/2018 Từ khóa: chửa ngoài tử cung, chửa trong tử cung, sẩy thai sớm, theo dõi chửa ngoài tử cung. Keys word: ectopic pregnancy (EP), intrauterine pregnancy (IUP), spontaneous abortion (SAB), pregnancy unknown location (PUL). Tóm tắt Mục tiêu: Xác định giá trị của mức độ tăng βhCG 48 giờ và siêu âm đường âm đạo ở bệnh nhân theo dõi chửa ngoài tử cung. Đối tượng và phương pháp: mô tả, tiến cứu 160 bệnh nhân được nhập viện theo dõi chửa ngoài tử cung tại Khoa Phụ 1- Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ 9/2017 đến 01/2018, xử lý số liệu bằng chương trình SPSS 16.0. Tính giá trị trung bình, so sánh hai giá trị trung bình, độ nhậy, độ đặc hiệu và xây dựng đường cong ROC. Kết quả: 160 bệnh nhân theo dõi chửa ngoài tử cung có 112 bệnh nhân chửa ngoài tử cung (CNTC), 21 bệnh nhân chửa trong tử cung (CTTC), 27 bệnh nhân sẩy thai tự nhiên/thai tự tiêu. Nồng độ trung bình của βhCG nhóm CNTC sau 48 giờ (778,43, 95%CI:601,85-955,02) thấp hơn so với nhóm CTTC (3119,04; 95%CI:1221,36-5016,72) có ý nghĩa thống kê với p <0.0001. Theo dõi sau 48h: tỉ lệ βhCG tăng dưới 53%, chẩn đoán CNTC với độ nhạy 83,0%, độ đặc hiệu 39,5%, giá trị tiên đoán dương 76,2%, giá trị tiên đoán âm 50,0%. Siêu âm có khối hỗn hợp âm cạnh tử cung (TC) tiên lượng chẩn đoán CNTC với độ nhạy 84,8%, độ đặc hiệu 64,6%, diện tích dưới đường cong 74,7%. Kết luận: Mức độ tăng của βhCG trên 53% tiên lượng CTTC; dưới 53% tiên lượng CNTC hoặc sẩy thai sớm. Siêu âm sau 48 giờ có khối hỗn hợp âm cạnh tử cung, tiên lượng CNTC. Từ khóa: chửa ngoài tử cung, chửa trong tử cung, sẩy thai sớm, theo dõi chửa ngoài tử cung. Abstract STUDY ON THE VALUE OF SERUM β-HCG AND TRANSVAGINAL ULTRASOUND IN FOLLOWING ECTOPIC PREGNANCY Objective: Evaluate of the validity rising β-hCG 48hrs and transvaginal ultrasound in patients with pregnancy unknown location. Materials and Methods: This is a cross-sectional study conducted ĐÀO NGUYÊN HÙNG, TRƯƠNG VĂN VŨ, NGÔ MINH THẮNG, TRẦN VĂN KHOA, PHẠM THỊ THANH HIỀN 70 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H on 160 women with a diagnosis of pregnancy unknown location who were followed up at National Hospital of Obstetrics and Gynecology from September 2017 to January 2018. Statistical analysis was conducted by SPSS 16 for mean, percen ratio, ROC (Receiver Operating Characsteristic); Areae Under ROC( AUROC); Sensitivity (Se); Specificity(Sp); Positive Predictive Value(PPV); Negative Predictive Value(NPV); cut-off point. Results: A total of 160 cases of pregnancy unknown location (PUL) were recorded during the study period. 112 cases (70.0%) were ectopic pregnancy (EP) and 21 patients (13.1 %) were intrauterine pregnancy (IUP), 27 patients (16.9 %) were miscarriage or spontaneous abortion (SAB). The mean concentrations of βhCG in the EP group after 48 hours (778.43, 95% CI: 601.85-955.02) were lower than in IUP group (3119.04, 95% CI: 1221.36-5016.72), statistically significant with p <0.0001. Follow-up after 48 hours: βHCG rate increased below 53%, diagnosis EP with Se 83.0%, Sp 39.5%, PPV 76.2%, NPV 50.0%. Complex pelvic mass suspicious on transvaginal ultrasound for predicting diagnosis EP with Se 84.8%, Sp 64.6%, AUROC 74.7%. Conclusion: The level hCG48 hours increased more than 53% to predict IUP; less than 53% to predict EP/SAB. An extraovarian adnexal mass on transvaginal ultrasound after 48h, predict diagnosis EP. Keys word: ectopic pregnancy (EP), intrauterine pregnancy (IUP), spontaneous abortion (SAB), pregnancy unknown location (PUL). 1. Đặt vấn đề Chửa ngoài tử cung (CNTC) là một cấp cứu sản phụ khoa trong 3 tháng đầu thai kỳ [1,2]. Tỷ lệ CNTC ở Việt Nam và trên thế giới dao động từ 1-2%. Tỷ lệ tử vong 0,5-1/100000 phụ nữ có thai [3]. Việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời CNTC góp phần giảm tỉ lệ biến chứng và tử vong do CNTC. Trong giai đoạn đầu của bệnh, các triệu chứng lâm sàng thường chưa rõ, bệnh nhân có thể chỉ ra máu âm đạo đơn thuần, không có đau bụng, siêu âm chưa thấy túi ối...gây khó khăn trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh. Đánh giá sự thay đổi của nồng độ βhCG máu và siêu âm qua đường âm đạo sau 48 giờ đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, giúp tiên lượng và chẩn đoán sơm CNTC. Để xác định được giá trị của βhCG máu và siêu âm qua đường âm đạo trong chẩn đoán và tiên lượng CNTC chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu giá trị của βhCG huyết thanh và siêu âm đường âm đạo trong theo dõi chửa ngoài tử cung”, nhằm mục tiêu: Xác định giá trị của mức độ tăng βhCG 48 giờ và siêu âm đường âm đạo ở bệnh nhân theo dõi chửa ngoài tử cung. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Gồm 160 bệnh nhân được nhập viên tại Khoa Phụ I - Bệnh viện Phụ sản Trung ương với chẩn đoán theo dõi CNTC từ tháng 9/2017 đến tháng 01/2018. - Tiêu chuẩn lựa chọn: Các bệnh nhân nhập viện Khoa Phụ I, có thai quý I. + Có chậm kinh hoặc ra máu âm đạo trước kỳ kinh. + Được làm xét nghiệm βhCG máu ít nhất 2 lần cách nhau 48 giờ, trước điều trị. + Siêu âm qua đường âm đạo chưa thấy hình ảnh của túi thai trong và ngoài tử cung trong lần khám thai đầu tiên. + Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 71 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 69 - 73, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 - Tiêu chuẩn loại trừ: đa thai, thai bệnh lý, CNTC hai bên, chửa sừng tử cung, chửa sẹo mổ cũ, chửa ống cổ tử cung, bệnh nguyên bào nuôi, vừa CTTC vừa CNTC. Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu. 2.2. Phương pháp nghiên cứu - Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu. - Các định nghĩa trong nghiên cứu: chẩn đoán CNTC được xác nhận bằng các bằng chứng về sản phẩm thụ thai trong vòi TC hoặc khi hút buồng TC không có sản phẩm của thụ thai. Chẩn đoán sẩy thai sớm được định nghĩa là sự giảm mức hCG tự phát xuống dưới 5mIU/mL khi không có can thiệp phẫu thuật hoặc thuốc nội khoa, hoặc như sự hiện diện của các sản phẩm của thai khi hút buồng tử cung. CTTC là khi siêu âm có hình ảnh túi ối trong buồng TC, có túi noãn hoàng và hoạt động tim thai. - Các đặc điểm lầm sàng, giá trị βhCG, siêu âm đường âm đạo được phân tích tại thời điểm bệnh nhân vào viện, sau 48 giờ theo dõi, sau điều trị và ra viện. - Bệnh nhân được ra viện khi có chẩn đoán xác định (CTTC, CNTC, thai tự tiêu/sẩy thai sớm), toàn thân ổn định. Xử lý số liệu: bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0 và Medcalc v12.3.0. So sánh 2 giá trị trung bình (mean) bằng t-test. Sử dụng đường cong ROC (Receiver Operating Characsteristic); diện tích dưới đường cong ROC (Areae Under ROC – AUROC); Độ nhạy (Sensitivity - Se); Độ đặc hiệu (Specificity - Sp); Giá trị dự đoán dương tính (Positive Predictive Value - PPV); Giá trị dự đoán âm tính (Negative Predictive Value - NPV); để xác định điểm cắt (cut-off point) tối ưu của tỉ lệ βhCG 48giờ/βhCG 00h cho chẩn đoán phân biệt CNTC, CTTC và thai tự tiêu. Kết quả được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05. 3. Kết quả và bàn luận Phân tích dữ liệu từ kết quả theo dõi và điều trị của 160 bệnh nhân được nhập viện điều trị với chẩn đoán theo dõi CNTC tại Khoa Phụ I, Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 9/2017 đến 01/2018, chúng tôi thu được kết quả: 3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với nghiên cứu của Samantha F Butts [6] và cộng sự về tuổi (trung bình 28,8±7,8), ra máu âm đạo (82,4%), đau bụng dưới (62,3%). 3.2. Giá trị của hCG tại thời điểm vào viện và sau 48 giờ theo dõi. Kết quả theo dõi nồng độ hCG tại thời điểm vào viện và sau 48 giờ theo dõi được trình bày ở bảng 2. Nồng độ hCG trung bình của bệnh nhân lúc vào viện ở nhóm CNTC (742,24mUI/ml) thấp hơn nhóm CTTC (2167mUI/ml) và nhóm sẩy thai tự nhiên (1064,63mUI/ml), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001 và p=0,004). Sau theo dõi 48 giờ, nồng độ hCG trung bình của nhóm CNTC tăng lên rất chậm so với nhóm CTTC, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,0001). Nồng độ hCG của nhóm sẩy thai tự nhiên giảm hơn lúc vào viện, không có sự khác biệt với nhóm CNTC. Hình 1. Kết quả ra viện của bệnh nhân theo dõi chửa ngoài tử cung trong nghiên cứu Đặc điểm lâm sàng EP(1)112(70%) IUP(2) 21(13,1%) SAB(3) 27(16,9%) Tổng 160(100%) p(1,2) Tuổi (mean) 29,3±6,1 27,8±7,01 33,6±7,9 29,8±6,7 0,368 Số con 0,97±0,98 0,81±0,92 1,07±1,03 0,96±0,98 0,717 Tiền sử phá thai 0,98±1,4 1,5±2,78 1,11±1,34 1,07±1,6 0,007 Tiền sử mổ cũ ổ bụng 28,5% 9,5% 25,9% 25,6% 0,025 Tiền sử viêm sinh dục 36,6% 33,3% 25,9% 34,4% 0,694 Ra máu âm đạo 94,6% 38,1% 81,5% 85% 0,018 Chậm kinh 64,3% 66,7% 70,4% 65,6% 0,523 Đau bụng 72,6% 9,7% 17,7% 70,6% 0,02 EP(ectopic pregnancy): chửa ngoài tử cung, IUP (Intrauterine Pregnancy): chửa trong tử cung, SAB (spontaneous abortion): sẩy thai sớm. Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Đối tượng (n) SD 95% CI Min Max P hCG 00 giờ mlUI/ ml EP(112)(1) 742,24 817,18 589,23-895,24 34,84 5441,0 (1,2) < 0,001 (1,3) = 0,004 IUP(21)(2) 2167,99 4014,6 340,57-3995,42 44,26 18906,0 SAB(27)(3) 1064,63 1600,22 431,60-1697,65 95,11 6516,0 Tổng (160) 983,77 1771,9 707,11-1260,43 34,84 18906,0 hCG 48 giờ mlUI/ ml EP(112)(1) 778,43 943,08 601,85-955,02 15,30 6812,0 (1,2) < 0,0001 (1,3) = 0,885 IUP(21)(2) 3119,04 4168,94 1221,36-5016,72 123,36 19404,0 SAB(27)(3) 711,34 901,90 354,56-1068,12 40,15 3728,00 Tổng (160) 1074,32 1891,12 779,04-1369,59 15,30 19404,0 Bảng 2. Giá trị hCG tại thời điểm vào viện và sau 48 giờ theo dõi ĐÀO NGUYÊN HÙNG, TRƯƠNG VĂN VŨ, NGÔ MINH THẮNG, TRẦN VĂN KHOA, PHẠM THỊ THANH HIỀN 72 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H 3.3. Tiên lượng chửa trong tử cung và chửa ngoài tử cung dựa vào tỷ lệ tăng của nồng độ hCG máu sau theo dõi 48 giờ - Tính % tăng hCG theo công thức của Kardar [5] Tiên lượng chửa trong tử cung theo mức độ tăng của hCG sau 48 giờ (n=21) Kết quả bảng 3, mức độ tăng hCG sau 48 giờ trên 53% có độ nhạy 80,9%, độ đặc hiệu 83,5%, giá trị tiên đoán dương 42,5%, giá trị tiên đoán âm 96,7%. Chúng tôi nhận thấy một thai kỳ bình thường thì nồng độ hCG sau 24 giờ theo dõi phải tăng tối thiểu 53%. Theo nghiên cứu Christopher B. Morse [3] khi nồng độ hCG tăng trên 53% chẩn đoán chửa trong tử cung với độ nhạy là 82,6% và độ đặc hiệu là 97,2%. Pittaway [4] đã phát hiện được hCG trong máu mẹ sau khi phóng noãn từ 7 đến 10 ngày. Thai phát triển bình thường sau 48 giờ nồng độ βhCG tăng từ 1,4 đến 2 lần so với nồng độ lúc ban đầu nghĩa là ≥ 66%. Dùng chỉ số Youden (J = Youden index) để xác định ngưỡng của phần trăm tăng hCG sao cho tổng độ nhạy (Se) và độ đặc hiệu (Sp) cao nhất (J = max(Se+Sp-1) = 0,53 hay 53,0%) (Diện tích dưới đường cong = 0,866 (95% CI = 0,78-0,95); p < 0,0001). Tại điểm cắt này có độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng là 80,9% và 83,5%. Mức độ tăng Se Sp PPV NPV 35% 85,7% 78,4% 37,5% 89,3% 53% 80,9% 83,5% 42,5% 96,7% 71% 66,7% 91,4% 53,8% 94,8% Bảng 3. Tiên lượng chửa trong tử cung theo mức độ tăng của hCG sau 48 giờ Biểu đồ 1. Đường cong ROC chẩn đoán phân biệt chửa trong tử cung với chửa ngoài tử cung dựa vào mức độ tăng của hCG sau 48 giờ. Tiên lượng chửa ngoài tử cung theo mức độ tăng của hCG sau 48 giờ (n=112). Dựa vào kết quả của bảng 4, tỉ lệ tăng hCG sau 48 giờ dưới 35%, có độ nhạy 77,6% và độ đặc hiệu là 43,8%, giá trị tiên đoán dương 77%, giá trị tiên đoán âm 46,8%. So sánh với kết quả của Christopher B. Morse [3] có độ nhạy 83,2%, độ đặc hiệu 70,8%, giá trị tiên đoán dương 38,2%, giá trị tiên đoán âm 95,1%. Kết quả của chúng tối có độ nhạy thấp hơn, nhưng có giá trị tiên đoán dương cao hơn. 3.4. Kết quả siêu âm qua đường âm đạo sau 48 giờ Kết quả siêu âm qua đường âm đạo sau 48 giờ Có 100% bệnh nhân siêu âm lúc vào viện không có hình ảnh khối hỗn hợp âm trong và ngoài TC. Bệnh nhân được theo dõi và siêu âm sau 48 giờ, chẩn đoán phân biệt CNTC và CTTC trên siêu âm có khối cạnh tử cung hoặc trong buồng tử cung sự khác biệt có ý nghĩa, có dịch Douglas không có ý nghĩa. Giá trị chẩn đoán CNTC khi có khối hỗn hợp âm cạnh tử cung và dịch Douglas được tính như sau: Mức độ tăng Se Sp PPV NPV 35% 77,6% 43,8% 77,0% 46,8% 53% 83,0% 39,5% 76,2% 50,0% 71% 91,1% 33,3% 76,1% 69,6% Bảng 4. Tiên lượng chửa ngoài tử cung theo mức độ tăng của hCG sau 48 giờ Siêu âm đường âm đạo EP(1) IUP(2) SAB(3) p(1,2) Khối trong buồng TC(%) 13,4 100 25,9 0,001 Khối cạnh TC (%) 84,8 9,5 55,5 0,001 Độ dày niêm mạc TC(mm) 9,93±4,44 14,67±4,49 12,08±4,34 0,001 Dịch Douglas (%) 45,5 42,8 22,1 0,823 Bảng 5. Kết quả siêu âm qua đường âm đạo sau 48 giờ Biểu đồ 2. Đường cong ROC chẩn đoán phân biệt chửa trong tử cung với chửa ngoài tử cung dựa vào siêu âm qua đường âm đạo sau 48 giờ TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 73 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 69 - 73, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Siêu âm có khối hỗn hợp âm cạnh tử cung sau 48 giờ theo dõi tiên lượng chẩn đoán CNTC với độ nhạy 84,8%, độ đặc hiệu 64,6%, diện tích dưới đường cong 74,7% (95%CI = 0,66-0,84; p = 0,0001). Murray và cộng sự [7] kết hợp siêu âm đầu dò âm đạo và định lượng βhCG huyết thanh. Nếu sau 48 giờ, nồng độ βhCG huyết thanh tăng dưới 66%, hoặc không tăng hay tăng ít hoặc giảm ít và siêu âm đường âm đạo không thấy túi thai trong buồng tử cung, có hoặc không có hình ảnh khối hỗn hợp âm cạnh tử TC thì phải nghĩ tới CNTC. Siêu âm đường âm đạo Se Sp AUROC Khối cạnh TC 84,8% 64,6% 74,7% Dịch Douglas 45,5% 68,7% 57,1% Bảng 6. Tiên lượng chửa ngoài tử cung theo kết quả siêu âm sau 48 giờ 4. Kết luận Nồng độ βhCG sau 48 giờ tăng trên 53%, tiên lượng CTTC với độ nhạy 80,9%, độ đặc hiệu 83,5%, giá trị tiên đoán dương 42,5%, giá trị tiên đoán âm 96,7%. Nồng độ βhCG sau 48 giờ tăng dưới 53%, tiên lượng CNTC với độ nhạy 83,0%, độ đặc hiệu 39,5%, giá trị tiên đoán dương (GTTĐD) 76,2%, giá trị tiên đoán âm (GTTĐÂ) 50,0%. Siêu âm có khối hỗn hợp âm cạnh TC sau 48 giờ, tiên lượng CNTC với độ nhạy 84,8%, độ đặc hiệu 64,6%, diện tích dưới đường cong 74,7% (95%CI=0,66-0,84; p=0,0001). Tài liệu tham khảo 1. Dương Thị Cương, Chửa ngoài tử cung. Bách khoa thư bệnh học tập 1. 2000: Trung tâm quốc gia biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam. 119 - 121. 2. Vương Tiến Hòa, Các hormon và một số thăm dò trong chẩn đoán chửa ngoài tử cung. Chẩn đoán và xử trí chửa ngoài tử cung. 2012: NXB Y học, Hà Nội. 55 - 78. 3. Christopher B. Morse, BAa, Mary D. Sammel, ScDb, Alka Shaunik, MDa, Lynne Allen-Taylor,et al. Performance of hCG curves in women at risk for ectopic pregnancy: exceptions to the rules. American Society for Reproductive Medicine. 2012 January ; 97(1): 101–106.e2. 4. Pittaway, D.E. and A.C. Wentz, Evaluation of early pregnancy by serial chorionic gonadotropin determinations: a comparison of methods by receiver operating characteristic curve analysis. Fertility and sterility, 1985. 43(4): p. 529-533. 5. Kadar, N. and R. Romero, Further observations on serial human chorionic gonadotropin patterns in ectopic pregnancies and spontaneous abortions. Fertility and sterility, 1988. 50(2): p. 367-370. 6. Samantha F Butts, MD, MSCE1,2, Wensheng Guo, PhD2, Mark S Cary, et al. Predicting the Decline in Human Chorionic Gonadotropin in a Resolving Pregnancy of Unknown Location. Obstet Gynecol. 2013 August ; 122(2 01): 337–343. doi:10.1097/AOG.0b013e31829c6ed6. 7. Murray, H., et al., Diagnosis and treatment of ectopic pregnancy. Cmaj, 2005. 173(8): p. 905-12.
File đính kèm:
nghien_cuu_gia_tri_cua_hcg_huyet_thanh_va_sieu_am_duong_am_d.pdf

