Nghiên cứu giá trị Beta-hCG trong tiên lượng kết cục thai kỳ sau thụ tinh ống nghiệm
Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá giá trị β
hCG và mối liên quan đến kết cục thai kỳ sau chuyển phôi thụ tinh
trong ống nghiệm, đồng thời tìm hiểu một số yếu tố liên quan.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu
hồi cứu. Các trường hợp vô sinh điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh
sản và Vô sinh – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế có chỉ định
điều trị thụ tinh trong ống nghiệm và tiến hành chuyển phôi. Sau 2
tuần kết quả β hCG dương tính sẽ được nhận vào mẫu nghiên cứu
với sự đồng ý của bệnh nhân. Tiếp tục tiến hành theo dõi diễn tiến
thai. Thông tin hành chính, tiền sử, bệnh sử, chu kỳ chuyển phôi, kết
quả β hCG, số lượng thai, diễn tiến thai kỳ, dọa sẩy thai – sẩy thai,
sinh non, tiền sản giật-sản giật, đái tháo đường thai kỳ, trọng lượng
thai lúc sinh, tuổi thai lúc sinh, giới tính. Biến số nghiên cứu là giá
trị βhCG và các kết quả thai kỳ, đồng thời trọng lượng thai lúc sinh
là biến số tham khảo.
Kết quả: Nồng độ β hCG huyết thanh vào ngày thứ 14 sau chuyển
phôi >769.50 mIU/mL có độ nhạy 51.5% và độ đặc hiệu 91.7%
trong dự đoán khả năng đa thai. Nồng độ β hCG ≥102.50 mIU/mL có
giá trị tiên lượng thai tiến triển vào lúc 6 tuần, 8 tuần, 12 tuần và thai
đủ tháng với độ nhạy tương ứng 93.5%, 94.6%, 96.3% và 91.1%,
độ đặc hiệu tương ứng 84.8%, 79.2%, 78.4% và 72.3% (p <>
Nồng độ β hCG cũng thể hiện mối liên quan đến giới tính của thai
nhi, β hCG ≥ 194 mIU/mL thai nhi có xu hướng mang giới tính nữ với
độ nhạy 82.8% và độ đặc hiệu 65.7% (p <>
Kết luận: Nồng độ β hCG huyết thanh ngày thứ 14 sau chuyển
phôi là một yếu tố giúp tiên lượng các kết cục của thai kỳ với độ nhạy
và độ đặc hiệu cao.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu giá trị Beta-hCG trong tiên lượng kết cục thai kỳ sau thụ tinh ống nghiệm
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 103 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 103 - 107, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Trần Thị Như Quỳnh, Lê Minh Tâm, Cao Ngọc Thành Bệnh viện Đại học Y Dược Huế NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ BETA-HCG TRONG TIÊN LƯỢNG KẾT CỤC THAI KỲ SAU THỤ TINH ỐNG NGHIỆM Tác giả liên hệ (Corresponding author): Trần Thị Như Quỳnh, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 08/06/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 25/06/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 29/06/2018 Từ khóa: βhCG, chuyển phôi, thụ tinh trong ống nghiệm, kết quả, thai kỳ. Tóm tắt Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá giá trị β hCG và mối liên quan đến kết cục thai kỳ sau chuyển phôi thụ tinh trong ống nghiệm, đồng thời tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu hồi cứu. Các trường hợp vô sinh điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế có chỉ định điều trị thụ tinh trong ống nghiệm và tiến hành chuyển phôi. Sau 2 tuần kết quả β hCG dương tính sẽ được nhận vào mẫu nghiên cứu với sự đồng ý của bệnh nhân. Tiếp tục tiến hành theo dõi diễn tiến thai. Thông tin hành chính, tiền sử, bệnh sử, chu kỳ chuyển phôi, kết quả β hCG, số lượng thai, diễn tiến thai kỳ, dọa sẩy thai – sẩy thai, sinh non, tiền sản giật-sản giật, đái tháo đường thai kỳ, trọng lượng thai lúc sinh, tuổi thai lúc sinh, giới tính. Biến số nghiên cứu là giá trị βhCG và các kết quả thai kỳ, đồng thời trọng lượng thai lúc sinh là biến số tham khảo. Kết quả: Nồng độ β hCG huyết thanh vào ngày thứ 14 sau chuyển phôi >769.50 mIU/mL có độ nhạy 51.5% và độ đặc hiệu 91.7% trong dự đoán khả năng đa thai. Nồng độ β hCG ≥102.50 mIU/mL có giá trị tiên lượng thai tiến triển vào lúc 6 tuần, 8 tuần, 12 tuần và thai đủ tháng với độ nhạy tương ứng 93.5%, 94.6%, 96.3% và 91.1%, độ đặc hiệu tương ứng 84.8%, 79.2%, 78.4% và 72.3% (p < 0.001). Nồng độ β hCG cũng thể hiện mối liên quan đến giới tính của thai nhi, β hCG ≥ 194 mIU/mL thai nhi có xu hướng mang giới tính nữ với độ nhạy 82.8% và độ đặc hiệu 65.7% (p < 0.001). Kết luận: Nồng độ β hCG huyết thanh ngày thứ 14 sau chuyển phôi là một yếu tố giúp tiên lượng các kết cục của thai kỳ với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Từ khóa: βhCG, chuyển phôi, thụ tinh trong ống nghiệm, kết quả, thai kỳ. TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, LÊ MINH TÂM. CAO NGỌC THÀNH 104 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H 1. Đặt vấn đề Kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm trong điều trị vô sinh đang là lựa chọn hiệu quả và ngày càng được xem là phương pháp chính thống. Tuy nhiên, tỷ lệ các trường hợp mang thai có kết cục xấu và mang thai có nguy cơ cao sau điều trị thụ tinh ống nghiệm vẫn còn cao [1,2]. Dự đoán kết cục của thai kỳ sớm nhất sau điều trị thụ tinh ống nghiệm trở thành một yếu tố rất quan trọng trong thực hành lâm sàng. Một số loại hormone như progesterone, estradiol, relaxin và các hormone khác được sử dụng để dự đoán kết cục thai kỳ [3,4], tuy nhiên, vai trò chính xác của các dấu hiệu này và tiện ích lâm sàng của chúng vẫn chưa được chứng minh. Các nghiên cứu trước đây đã báo cáo tính hữu dụng của việc đo nồng độ β hCG huyết thanh. Beta-human chorionic gonadotropin (β hCG ) là hormone xuất hiện sớm nhất trong thai kỳ do nhau thai tiết ra, giúp duy trì hoàng thể và đảm nhận chức năng điều chỉnh cận tiết và tự tiết của nội mạc tử cung, lá phôi, hình thành bánh nhau, cấy ghép phôi thai và các chức năng khác [5-7]. Ban đầu, phát hiện hCG trong nước tiểu hoặc huyết thanh là một chỉ số chung của mang thai và đo lường nồng độ hCG thường được sử dụng để phân biệt những bất thường tiến triển từ thai ngoài tử cung hoặc sẩy thai tự phát. Sau các chu kỳ TTTON chuyển phôi, việc xác định mang thai sớm được thông qua đo nồng độ hCG huyết thanh từ 10-12 ngày sau chuyển phôi hoặc 12-14 ngày sau chuyển phôi giai đoạn phân cắt [8,9]. Nhờ khả năng xâm nhập vào niêm mạc tử cung của bánh nhau [10], nồng độ hCG trong suốt giai đoạn đầu của thai kỳ có thể phản ảnh sớm sự phát triển và kết cục của thai kỳ [11]. Trong nhiều trường hợp, chỉ số β hCG thấp hơn giá trị trung bình hoặc nằm gần cận dưới của khoảng β hCG có kết cục thai kỳ không tốt, có thể thai ngưng tiến triển, sẩy thai sớm, hoặc thai ngoài tử cung. Sự xuất hiện muộn hCG trong nước tiểu có liên quan đến sẩy thai tự phát [12]. Nồng độ hCG ở ngày 14-16 sau khi chuyển phôi có độ nhạy 91.2% và độ đặc hiệu 91.3% trong dự đoán thai đang diễn ra ở tuần thứ 10 thai kỳ [13]. Dù đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến chỉ số βhCG và kết cục thai kỳ, cho đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận về ngưỡng an toàn ở giai đoạn sớm liên quan đến sự phát triển bình thường của thai. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát được mối liên quan giữa giá trị βhCG với diễn tiến của thai kỳ, qua đó tiên lượng được kết cục thai kỳ sớm hơn để có những phương pháp can thiệp phù hợp. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện cho tất cả các chu kỳ chuyển phôi ngày 2 tại Trung tâm Nội tiết sinh sản & Vô sinh – Bệnh viện Đại học Y Dược Huế. Trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 3 năm 2018, 565 chu kỳ chuyển phôi thỏa mãn điều kiện được nhận vào mẫu nghiên cứu. Các chu kỳ chuyển phôi được thu thập số liệu theo một quy trình chung dựa trên ý định nghiên cứu và cơ sở lâm sàng. Những người phụ nữ được điều trị thụ tinh trong ống nghiệm với phác đồ antagonist ngắn ngày, nuôi phôi ngày 2 và chuyển phôi bằng một kỹ thuật như nhau. Nồng độ βhCG huyết thanh sẽ được định lượng vào ngày thứ 14 sau chuyển phôi. Nồng độ βhCG huyết thanh được đo bằng xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang. Khoảng nồng độ cho phép là 0.0 – 15,000mIU/ mL và sử dụng cùng một hệ thống đo trong suốt quá trình nghiên cứu. Những trường hợp kết quả βhCG ≥25mUI/ml được xem là dương tính và sẽ được đưa vào mẫu nghiên cứu. Sau đó, vào tuần thứ 6 của thai kỳ sẽ tiến hành siêu âm đánh giá thai lâm sàng dựa vào số lượng túi thai, phôi và tim thai. Tiếp tục theo dõi và ghi nhận thai diễn tiến vào tuần thứ 12 của tuổi thai. Thai kỳ được gọi là tiến triển khi vẫn còn hình ảnh túi thai và tim thai trên siêu âm. Thai kỳ được gọi là dừng tiến triển là những trường hợp không có túi thai trong buồng tử cung hoặc một túi thai trống hoặc không có hoạt động tim thai trên siêu âm. Đồng thời, có nhiều thai kỳ có lớn hơn một phôi có hoạt động tim thai. Các thuật ngữ khác: thai lâm sàng (một mang thai được xác nhận vào lúc ≥5 tuần), thai sinh sống (sinh con lúc mang thai TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 105 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 103 - 107, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 ≥22 tuần) và thai ngoài tử cung (GEU – được xác định bởi sự gia tăng nồng độ β hCG huyết thanh tạm thời mà không thấy túi thai trong lòng tử cung). Những thay đổi các thông số ở người mẹ được ghi nhận trong thai kỳ như huyết áp, glucose máu qua nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 2 bước để xác định bệnh lý sản giật/ tiền sản giật hoặc đái tháo đường thai kỳ. Thêm vào đó cũng theo dõi các thông số của trẻ sơ sinh như giới tính, cân nặng, tuổi thai lúc sinh. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20 và phần mềm MEDCALC. Các biến liên tục được kiểm định bằng cách trình bày phân bố chuẩn qua các thử nghiệm. Theo đó, thử nghiệm Mann- Whitney U cho dữ liệu tham số và biến số được áp dụng. Dữ liệu lâm sàng được trình bày dưới dạng giá trị trung bình (SD) để đơn giản. Độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp) và điểm cắt được khảo sát ở mỗi nồng độ β hCG huyết thanh, tương ứng với các kết cục thai kỳ, được phân tích bởi đường cong ROC. Giá trị P < 0.05 được coi là có ý nghĩa thống kê. 3. Kết quả Tính từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 3 năm 2018, kết quả mang thai được theo dõi trong tổng số 565 chu kỳ chuyển phôi, trên 154 người phụ nữ có độ tuổi trung bình 34.25±5. Có 166 thai kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm trong giai đoạn này được xác định giá trị β hCG dương tính vào ngày thứ 14 sau chuyển phôi. Trong đó có 53 chu kỳ chuyển phôi tươi (31.9%) và 113 chu kỳ chuyển phôi trữ (68.1%). Trong tổng số 166 trường hợp, có 128 trường hợp đơn thai với nồng độ β hCG trung bình là 402.21±778.31 mIU/mL, có 33 trường hợp đa thai với nồng độ β hCG trung bình là 857.68±614.70 mIU/mL và 5 trường hợp thai ngoài tử cung. Kết quả hiển thị trong Bảng 1 và Biểu đồ 1. So sánh giữa 2 giá trị trung bình của các trường hợp đơn thai và song thai, nhận thấy rằng 2 giá trị này không bằng nhau với p=0.001. Sau khi phân tích các trường hợp đa thai dựa trên nồng độ β hCG huyết thanh ngày thứ 14 sau chuyển phôi, quan sát được có một mối tương quan dương giữa 2 giá trị này. Ở mức nồng độ β hCG >769.50 mIU/mL, đa thai có độ nhạy 51.52%, độ đặc hiệu 91.73% và có ý nghĩa thống kê p <0.0001. Trong khi đó, không cho thấy có một mối liên hệ nào giữa nồng độ β hCG và thai ngoài tử cung (p = 0.362). Để đánh giá các kết cục thai kỳ, sau khi loại bỏ các trường hợp đa thai và thai ngoài tử cung, có 128 trường hợp được đưa vào mẫu nghiên cứu. Kết quả của các đường cong ROC cho mỗi giai đoạn theo dõi diễn tiến thai kỳ cho thấy độ nhạy cao để xác định thai lâm sàng, thai 6 tuần, 8 tuần, 12 tuần tiến triển, đẻ non, thai đủ tháng (tương ứng 91.7%, 93.5%, 94.6%, 96.3%, 88.9% và 91.1%). Kết quả sẩy/ lưu thai dưới 20 tuần có độ nhạy cao 94,4% song lại không có ý nghĩa thống kê (p = 0.176). Không có mối liên quan nào giữa nồng độ β hCG huyết thanh với cân nặng của thai nhi song lại có mối quan hệ với giới tính của thai (p < 0.001) (Bảng 2). Giá trị tham khảo β hCG mean SD (mIU/mL) AUC (%) Giá trị β hCG tại điểm cắt (mIU/mL) Se (%) Sp (%) p Đa thai 857.68 ± 614.70 82.2 769.50 51.5 91.7 < 0.001* GEU 130.4 ± 47.46 38.0 110.50 80 37.9 0.362 Bảng 1 – Mối liên quan giữa nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi với đa thai và thai ngoài tử cung (GEU) Biểu đồ 1 – Tương quan giữa nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi với đa thai 0 20 40 60 80 100 bhCG - Dathai 0 20 40 60 80 100 100-Specificity Se ns iti vi ty AUC = 0.822 P < 0.001 Diễn tiến thai kỳ Số trường hợp AUC (%) Giá trị β hCG tại điểm cắt Se (%) Sp (%) Giá trị P Thai lâm sàng 72/128 93.4 79.90 91.7 83.9 < 0.001* Sẩy/lưu thai <12 tuần 18/128 60.0 34.9 94.4 37.3 0.176 Thai 6 tuần tiến triển 62/128 88.9 102.50 93.5 84.8 <0.001* Thai 8 tuần tiến triển 56/128 88.3 102.50 94.6 79.2 <0.001* Thai 12 tuần tiến triển 54/128 88.9 102.50 96.3 78.4 <0.001* Đẻ non 9/128 76.3 238.85 88.9 63 0.009* Thai đủ tháng 45/128 84.0 139.90 91.1 72.3 <0.001* Thai quá cân 1 52 165.15 100 52 0.946 Thai nhẹ cân 3 62.1 139.90 100 51.2 0.474 Giới tính NAM 22 78.1 165.15 90.9 60.4 <0.001* Giới tính NỮ 29 76.8 194.00 82.8 65.7 <0.001* Bảng 2 – Mối liên quan giữa nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi và các kết cục thai kỳ TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, LÊ MINH TÂM. CAO NGỌC THÀNH 106 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H Tương quan giữa nồng độ β hCG ngày 14 sau chuyển phôi với bệnh lý trong thai kỳ Bệnh lý sản giật, tiền sản giật và đái tháo đường thai kỳ là những yếu tố liên quan đến kết cục của quá trình mang thai. Liệu rằng có mối quan hệ nào giữa các bệnh lý này với nồng độ β hCG ngày 14 sau chuyển phôi hay không. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận được 6 trường hợp mắc bệnh lý Tiền sản giật/ Sản giật và 2 trường hợp mắc bệnh lý Đái tháo đường thai kỳ riêng biệt trên tổng số 128 trường hợp theo dõi. Kết quả cho thấy không có mối quan hệ nào giữa nồng độ β hCG huyết thanh và bệnh lý Tiền sản giật/ Sản giật (p = 0.236). Vì cỡ mẫu quá nhỏ nên chúng tôi chưa thể đề cập đến mối liên quan giữa bệnh lý đái tháo đường với nồng độ β hCG huyết thanh vào ngày thứ 14 sau chuyển phôi được. 4. Bàn luận Một số báo cáo trước đây nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ β hCG ngày thứ 16 sau chuyển phôi, nồng độ progesterone và inhibin A với các kết quả điều trị TTON [14]. Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng, nồng độ β hCG huyết thanh ngày thứ 14 sau chuyển phôi là một yếu tố quan trọng có thể giúp các bác sĩ lâm sàng tiên lượng các kết cục thai kỳ. Chúng tôi trình bày những dữ liệu của mình trong dân số của Việt Nam. Đây là một nghiên cứu hồi cứu trên 154 phụ nữ được điều trị bằng TTON với 166 chu kỳ chuyển phôi ngày 2 có kết quả β hCG dương tính. Chúng tôi đã chứng minh được rằng nồng độ β hCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi có thể dự đoán chính xác người phụ nữ có mang đa thai hay không, khả năng diễn tiến đến khi sinh ra của thai kỳ. Chỉ số Youden cho nhóm hCG dương tính cho thấy ở nồng độ 769.5 mIU/mL là giá trị ngưỡng dưới để dự đoán đa thai (AUC= 82.2%, Se= 51.5%, Sp= 91.7%, p< 0.001). Các diễn tiến của thai kỳ tại các thời điểm 6 tuần, 8 tuần, 12 tuần lại có chỉ số Youden như nhau. Với nồng độ β hCG ≥ 102.5 mIU/mL, khả năng diễn biến tích cực khi mang thai cao với độ nhạy 96.3% và độ đặc hiệu 78.4% (p<0.001). Các nghiên cứu trước đó đã lấy giá trị β hCG ngưỡng 50 mIU/ mL với độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng là 75% và 81% [15]. Các báo cáo trước đã lấy mức nồng độ βhCG để dự đoán kết cục thai kỳ trong tam cá nguyệt đầu, nghiên cứu này của chúng tôi tiếp tục thực hiện đến khi mang thai thành công. Chúng tôi ghi nhận ở mức nồng độ β hCG ngày 14 sau chuyển phôi cao hơn 139.9 mIU/mL, khả năng sinh con đủ tháng cao (AUC= 84%, Se= 91.1%, Sp= 72.3%, p< 0.001). Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa sinh non với nồng độ β hCG (p = 0.009). Đặc biệt hơn, nồng độ β hCG ≥ 194 mIU/mL lại cho thấy xu hướng giới tính nữ của thai nhi với độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 82.8% và 65.7% (AUC= 76.8%, p< 0.001). Chúng tôi cũng khảo sát yếu tố bệnh lý trong thai kỳ như đái tháo đường hay sản giật/ tiền sản giật. Các tác giả chỉ ra rằng, ở những thai phụ mắc bệnh lý tiền sản giật/ sản giật có mức β hCG huyết thanh cao hơn so với người bình thường [16]. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này lại không thấy có mối liên hệ nào giữa nồng độ β hCG sớm với bệnh lý trên (AUC= 35%, p= 0.236). Mặc dù có ghi nhận các trường hợp mắc đái tháo đường thai kỳ song vì cỡ mẫu nhỏ nên chúng tôi không đề cập đến. Tóm lại, trong quá trình điều trị thụ tinh trong ống nghiệm, có rất nhiều vấn đề cần quan tâm gây ra lo lắng cho các cặp vợ chồng. Giai đoạn sau lần thử thai đầu tiên và trước siêu âm cho thấy thai kỳ diễn biến tích cực hay không cũng là một yếu tố dẫn đến căng thẳng. Các bác sĩ điều trị muốn có một dấu hiệu huyết thanh nào đó có thể dự đoán được kết quả thai kỳ sớm nhằm giảm căng thẳng cho các cặp vợ chồng, đồng thời có một hiệu quả điều trị cao hơn. Nghiên cứu này của chúng tôi đã chỉ ra rằng, nồng độ β hCG huyết thanh ngày thứ 14 sau chuyển phôi là một dấu hiệu quan trọng và có ích trong việc tiên lượng diễn tiến thai kỳ không chỉ ở giai đoạn sớm của mang thai mà còn ở giai đoạn muộn hoặc kết quả sinh con với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Ngoài ra, nồng độ β hCG cũng giúp việc dự đoán giới tính thai nhi ở giai đoạn sớm. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 107 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 103 - 107, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Tài liệu tham khảo 1. Bergh, T., Ericson, A., Hillensjo, T., et al., 1999. Deliveries and children born after in-vitro fertilization in Sweden 1982-95: q retrospective cohort study. Lancet 354, 1579-1585. 2. Macklon, N.S., Geraedts, J.P., Fauser, B.C., 2002. Conception to ongoing pregnancy: the ‘black box’ of early pregnancy loss. Hum. Reprod. Update 8, 333-343. 3. Hahlin M, Sjoblom P, Lindblom B. Combined use of progesterone and human chorionic gonadotropin determinations for differential diagnosis of very pregnancy. Fertil Steril. 1991;55:492-6. 4. Witt BR, Wolf GC, Wainwright CJ, Johnston PD, Thorneycroft IH. Relaxin, CA-125, progesterone, estradiol, Schwangerschaft protein, and human chorionic gonadotropin as predictors of outcome in threatened and nonthreatened pregnancies. Fertil Steril. 1990;53:1029-36. 5. Cole, L.A., 2010. Biological functions of hCG and hCG-related molecules. Reprod. Biol. Endocrinol. 24, 102. 6. Licht, P., Fluhr, H., Nruwinger, J., Wallwiener, D., Wildt, L., 2007. Is human chorionic gonadotropin directly involved in the regulation of human implantation? Mol. Cell Endocrinol. 269, 85-92. 7. Ticoni, C., Zicari, A., Belmonte, A., Realacci, M., Rao, Ch.V., Piccione, E., 2007. Pregnancy-promoting actions of hCG in human myometrium and fetal membranes. Placenta 28, S137-S143. 8. Poikkeus, P., Hiilesmaa, V., Tiitinen, A., 2002. Serum HCG 12 days after embryo transfer in predicting pregnancy outcome. Hum. Reprod. 17, 1901-1905. 9. Tong, S., Rombauts, L., Onwude, J., Marjono, B., Wallace, E.M., 2007. Highly specific and sensitive rise in Days 14-17 pro-alphaC inhibin with clinical pregnancy after frozen embryo transfer with ovulatory cycles. Hum. Reprod. 22, 2249-2253. 10. Norwitz, E.R., Schust, D.J., Fisher, S.J., 2001. Implantation and the survival of early pregnancy. N. Engl. J. Med. 345, 1400-1408. 11. Lohstroh, P.N., Overstreet, J.W., Stewart, D.R., Nakajima, S.T., Cragun, J.R., Boyers, S.P., Lasley, B.L., 2007. Hourly human chorionic gonadotropin secretion profiles during the peri-implantation period of successful pregnancies. Fertil. Steril. 87, 1413-1418. 12. Wilcox, A.J., Baird, D.D., Weinberg, C.R., 1999. Time of implantation of the conceptus and loss of pregnancy. N. Engl. J. Med. 10, 1796-1799. 13. Lambers, M.J., van Weering, H.G., van’t Grunewold, M.S., Lambalk, C.B., Homburg, R., Schats, R., Hompes, P.G., 2006. Optimizing hCG cut-off values: a single determination on day 14 or 15 is sufficient for a reliable prediction of pregnancy outcome. Eur. J. Obstet. Gynecol. Reprod. Biol, 127, 94. 14. Kim JH, Shin MS, Yi G, Jee BC, Lee JR, Suh CS, et al. Serum biomarkers for predicting pregnancy outcome in women undergoing IVF: Human chorionic gonadotropin, progesterone, and inhibin A level at 11 days post-ET. Clin Exp Reprod Med. 2012; 39:28-32. 15. Urbancsek J, Hauzman E, Fedorcsák P, Halmos A, Dévényi N, Papp Z. Serum human chorionic gonadotropin measurements may predict pregnancy outcome and multiple gestation after in vitro fertilization. Fertil Steril. 2002;78:540-2. 16. Basirat Z, Barat S, Hajiahmadi M. Serum beta human chorionic gonadotropin levels and preeclampsia. Saudi Med J. 2006;27(7):1001-4.
File đính kèm:
nghien_cuu_gia_tri_beta_hcg_trong_tien_luong_ket_cuc_thai_ky.pdf

