Nghiên cứu độ dài cổ tử cung của phụ nữ mang thai dọa đẻ non từ 28-32 tuần bằng siêu âm qua tầng sinh môn
mục tiêu; Bước đầu nhận định và đánh giá kết
quả đo độ dài cổ tử cung ở nhũng thai phụ dọa đẻ
non. Đối tượng và phương pháp: Phương pháp
mô tả cắt ngang tiến cứu, mẫu không xác xuất bằng
cách lấy tất cả những thai phụ có dấu hiệu dọa đẻ non
trong thời gian nghiên cứu, tổng số có 150 thai phụ.
Tiến hành đo chiều dài cổ tử cung bằng phương pháp
siêu âm qua âm hộ sử dụng đầu dò siêu âm đường
bụng 3,5 MHz. Kết quả: Tất cả các thai phụ đều chấp
nhận thực hiện siêu âm qua âm hộ, 100% số trường
hợp nhận rõ hình ảnh của cổ tử cung và đo được chiều
dài của nó. Phương pháp này không can thiệp trực
tiếp vào cổ tử cung tránh được tâm lý lo sợ khi thực
hiện siêu âm qua âm đạo, chiều dài cổ tử cung trung
bình 29,7mm, tỷ lệ đẻ trước 37 tuần cao hơn ở nhóm
có chiều dài cổ tử cung dưới 30mm. Kết luận; Sử dụng
phương pháp siêu âm qua âm hộ hoàn toàn có thể
quan sát và đo độ dài của cổ tử cung để tiên đoán và
điều trị dọa đẻ non thay thế cho phương pháp siêu âm
qua âm đạo và qua đường bụng
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu độ dài cổ tử cung của phụ nữ mang thai dọa đẻ non từ 28-32 tuần bằng siêu âm qua tầng sinh môn
Tập 11, số 02 Tháng 5-2013 Tạp chí Phụ Sản 09 Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 09 - 12, 2013 NGHIÊN CỨU ĐỘ DÀI CỔ TỬ CUNG CỦA PHỤ NỮ MANG THAI DỌA ĐẺ NON TỪ 28-32 TUẦN BẰNG SIÊU ÂM QUA TẦNG SINH MÔN Trần Danh Cường(1), phan Thành nam(2), nguyễn Thị huế(2), phạm Thị Mai anh(3) (1) Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (3) Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng tóm tắt mục tiêu; Bước đầu nhận định và đánh giá kết quả đo độ dài cổ tử cung ở nhũng thai phụ dọa đẻ non. Đối tượng và phương pháp: Phương pháp mô tả cắt ngang tiến cứu, mẫu không xác xuất bằng cách lấy tất cả những thai phụ có dấu hiệu dọa đẻ non trong thời gian nghiên cứu, tổng số có 150 thai phụ. Tiến hành đo chiều dài cổ tử cung bằng phương pháp siêu âm qua âm hộ sử dụng đầu dò siêu âm đường bụng 3,5 MHz. Kết quả: Tất cả các thai phụ đều chấp nhận thực hiện siêu âm qua âm hộ, 100% số trường hợp nhận rõ hình ảnh của cổ tử cung và đo được chiều dài của nó. Phương pháp này không can thiệp trực tiếp vào cổ tử cung tránh được tâm lý lo sợ khi thực hiện siêu âm qua âm đạo, chiều dài cổ tử cung trung bình 29,7mm, tỷ lệ đẻ trước 37 tuần cao hơn ở nhóm có chiều dài cổ tử cung dưới 30mm. Kết luận; Sử dụng phương pháp siêu âm qua âm hộ hoàn toàn có thể quan sát và đo độ dài của cổ tử cung để tiên đoán và điều trị dọa đẻ non thay thế cho phương pháp siêu âm qua âm đạo và qua đường bụng từ khóa: siêu âm đường âm đạo, siêu âm đường tầng sinh môn, chiếu dài cổ tử cung, dọa đẻ non ABStRACt Objective: initial assessment and evaluation of cervical length measured by perineal ultrasound in women with threatened preterm labor signs. materials and methods: cross-sectional descriptive methods, probability sample taken all women with threatened preterm labor signs during the study period, a total of 150 pregnant women, measured the cervical length by ultrasound method vaginal ultrasound probe using transabdominal 3.5 MHz. Results: 100% of cases recognize and measure the length of the cervix easily, this method does not directly intervene in the cervix avoid psychological fear as measured by ultrasound cervical vaginal probe. Cervical length was 29.7 mm on average, the rate of delivery before 37 weeks was significantly higher when the cervix is less than 30mm. Conclusion: Using the method of perineal ultrasound can fully assess and measure the length of the cervix to predict preterm labor and treating threatened, it replaces Ultrasonic measurement methods vaginal and the abdomen Keywords: perineal ultrasound, cervical length measurement, threatened preterm labor, ultrasound, vaginal ultrasound 1. Đặt vấn Đề Dọa đẻ non và đẻ non hiện vẫn là thách thức lớn của sản khoa hiện đại và là nguyên nhân chính của hơn 75 % tử vong sơ sinh không do bệnh tật. Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới, hàng năm có khoảng 130 triệu sơ sinh ra đời, 1/10 số đó là sơ sinh non tháng, 1/4 số này tử vong. Tỷ lệ đẻ non tại nước Pháp là 6,3% và tại Mỹ là 12,5 % [3],[10]. Theo thống kê của Việt Nam, năm 2002 có khoảng 180 nghìn sơ sinh non tháng trên tổng số gần 1,6 triệu sơ sinh chào đời [2]. 1/5 số sơ sinh non tháng này tử vong. Tỷ lệ tử vong của nhóm sơ sinh non tháng cao gấp 20 lần nhóm sơ sinh đủ tháng. Việc ứng dụng các phương pháp thăm dò tình trạng CTC, một trong những phương pháp đó là đo độ dài CTC. Nó luôn là một triệu chứng thực thể quan trọng nhất, vừa có giá trị chẩn đoán, vừa có giá trị tiên lượng nguy cơ đẻ non. Cổ tử cung ngắn là một dấu hiệu gợi ý cho một đẻ non tiềm tàng. Các phương pháp siêu âm đo độ dài CTC thực hiện qua thành bụng, qua đường âm đạo đã được thực hiện từ khá lâu và rất có giá trị [1] [2] [5]. Gần đây, chúng tôi đã tiến hành đo độ dài CTC bằng phương pháp qua đường âm hộ cũng có thể quan sát được toàn bộ CTC với giá trị như các phương pháp khác. Phương pháp siêu âm qua đường âm hộ đã được tiến hành tại nước ngoài nhưng chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chưa có nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam đánh giá về giá trị Hình ảnh ống cổ tử cung hiện rõ trên hình ảnh siêu âm là một đường âm vang đậm đặc, nối từ lỗ trong đến lỗ ngoài cổ tử cung. Lỗ trong cổ tử cung: bình thường đóng, hoặc mở theo hình phễu một cách tự nhiên, hoặc dưới tác động của lực nén, theo hình chữ Y, chữ U hoặc chữ V. Sơ đồ hình ảnh lỗ trong cổ tử cung Các số liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0. Các phép tính thống kê Y học thông thường 3. Kết quả nghiên Cứu Tổng số thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi là 150 thai phụ, 3.1. Đặc Điểm Đối Tượng nghiên cứu Bảng 3.1. Tuổi thai phụ trong nhóm nghiên cứu Nhận xét: Tuổi thai phụ không có gì đặc trưng 3.2. Triệu chứng lâm sàng của dọa Đẻ non Bảng 3.2. phân bố triệu chứng cơ năng Nhận xét: Triệu chứng đau bụng chiếm phần lớn Bảng 3.3. phân bố triệu chứng thực thể Nhận xét: 40 % thai phụ có cơn co tử cung, 47,67% có thay đổi ở cổ tử cung Trần Danh Cường, phan Thành naM, nguyễn Thị huế, phạM Thị Mai anhSẢN KHOA VÀ SƠ SINH Tập 11, số 02 Tháng 5-2013 Tạp chí Phụ Sản 10 của phương pháp này. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này nhằm mục tiêu: Bước đầu nhận định về kết quả đo độ dài cổ tử cung bằng siêu âm qua tầng sinh môn ở những thai phụ dọa đẻ non. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên Cứu Nghiên cứu tiến hành tại Khoa Sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung Ương. 2.1. Đối Tượng nghiên cứu Tổng số 150 thai phụ được chẩn đoán là dọa đẻ non vào điều trị tại khoa Sản Bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung Ương có tuổi thai 28 - 32 tuần. Một thai, từ 28 tuần đến 32 tuần, có triệu chứng của dọa đẻ non: đau bụng, ra máu, ra nhầy hồng âm đạo. Không lấy vào nghiên cứu những trường hợp đa thai, tuổi thai không phù hợp. mẹ có bệnh lý, có bất thường về thai hoặc phần phụ, bất thường về tử cung và cổ tử cung 2.2. Phương PháP nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, áp dụng mẫu không xác suất, lấy tất cả bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn trong thời gian nghiên cứu. 2.3. Kỹ ThuậT Tiến hành Thai phụ nằm ngửa, hai chân chống vuông góc với mặt bàn siêu âm. Bộc lộ vùng tầng sinh môn, sử dụng đầu dò siêu âm đường bụng 3,5 MHz,bôi gel vào đầu dò siêu âm, bọc lại bằng bao cao su, đặt đầu dò vào giữa hai môi bé, thai phụ không cần nhịn tiểu. Chiều dài cổ tử cung tính từ lỗ trong CTC đến lỗ ngoài cổ tử cung. [2] [4] [9] Sơ đồ và hình ảnh siêu âm qua đường tầng sinh môn - 3 - 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu tiến hành tại Khoa Sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung Ương. 2.1. Đối tượng nghiên cứu Tổng số 150 thai phụ được chẩn đoán là dọa đẻ non vào điều trị tại khoa Sản Bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung Ương có tuổi thai 28 - 32 tuần. Một thai, từ 28 tuần đến 32 tuần, có triệu chứng của dọa đẻ non: đau bụng, ra máu, ra nhầy hồng âm đạo. Không lấy vào nghiên cứu những trường hợp đa thai, tuổi thai không phù hợp. mẹ có bệnh lý, có bất thường về thai hoặc phần phụ, bất thường về tử cung và cổ tử cung 2.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, áp dụng mẫu không xác suất, lấy tất cả bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn trong thời gian nghiên cứu. 2.3. Kỹ thuật tiến hành Thai phụ nằm ngửa, hai chân chống vuông góc với mặt bàn siêu âm. Bộc lộ vùng tầng sinh môn, sử dụng đầu dò siêu âm đường bụng 3,5 MHz,bôi gel vào đầu dò siêu âm, bọc lại bằng bao cao su, đặt đầu dò vào giữa hai môi bé, thai phụ không cần nhịn tiểu. Chiều dài cổ tử cung tính từ lỗ trong CTC đến lỗ ngoài cổ tử cung. [2] [4] [9] - 4 - Sơ đồ và hình ảnh siêu âm qua đường tầng sin môn Hình ảnh ống cổ tử cung hiện rõ trên hình ảnh siêu âm là một đường âm vang đậm đặc, nối từ lỗ trong đến lỗ ngoài cổ tử cung. Lỗ trong cổ tử cung: bình thường đóng, hoặc mở theo hình phễu một cách tự nhiên, hoặc dưới tác động của lực nén, theo hình chữ Y, chữ U hoặc chữ V. Sơ đồ hình ảnh lỗ trong cổ tử cung Các số liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0. Các phép tính thống kê Y học thông thường 3. Kết quả nghiên cứu Tổng số thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi là 150 thai phụ, 3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Bảng 3.1. Tuổi thai phụ trong nhóm nghiên cứu Tuổi N % ≤ 19 tuổi 7 4.7 20 -‐ 24 tuổi 42 28.0 25 -‐ 29 tuổi 57 38.0 30 -‐ 34 tuổi 32 21.3 Tuổi n % ≤ 19 tuổi 7 4.7 20 - 24 tuổi 42 28.0 25 - 29 tuổi 57 38.0 30 - 34 tuổi 32 21.3 ≥ 35 tuổi 12 8.0 Tổng 150 100.0 Triệu chứng cơ năng n Tỷ lệ % Đau bụng 78 52.0 ra máu hoặc ra nhày hồng ÂĐ 58 35.3 Đau bụng và ra máu ÂĐ 19 12.7 Tổng 150 100.0 Triệu chứng thực thể Cơn co tử cung Biến đổi cổ tử cung Có Không có Không có Có n 60 90 80 70 Tỷ lệ % 40 60 53.33 47.67 3.3. KếT quả siêu âm Đo Độ dài cổ Tử cung Biểu đồ 3.1: Mối liên quan giữa độ dài CTC và tuổi thai Nhận xét: Độ dài CTC trung bình là 29,7 ± 7,6 mm, CTC ngắn nhất: 26,7 mm, CTC dài nhất 33,4 mm, 3.4. Độ dài cổ Tử cung và Khả năng Tiên lượng dọa Đẻ non Tuổi thai trung bình khi đẻ của nhóm nghiên cứu là 36,8 tuần. Bảng 3.4. Sự phân bố độ dài CTC Nhận xét: số thai phụ đẻ khi tuổi thai < 37 tuần là 82,1%. 3.5.Tỷ lệ Đẻ non Theo Thời gian Độ dài cTc ≤ 30 mm Bảng 3.5. Tỷ lệ đẻ non theo thời gian Nhận xét: Tỷ lệ trong vòng 01 tuần là 19%. 02 tuần là 37%, 04 tuần 53%. 4. Bàn luận Đặc Điểm của Đối Tượng nghiên cứu Tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là 27,03 ± 4,98 tuổi, tuổi thấp nhất là 17 tuổi và tuổi cao nhất là 40 tuổi. Theo nghiên cứu của Nguyễn Công Định, độ tuổi trung bình của thai phụ là 29,5 ± 6,86 tuổi [4], nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương là 27,55 ± 5,58 tuổi [8], của Nguyễn Mạnh Trí là 27,6 ± 4,8 tuổi [10]. Trong nghiên cứu của Hồ Thị Hà, độ tuổi trung bình là 28,7 ± 5,0 tuổi. Độ tuổi không có ý nghĩa đối với dọa đẻ non các Triệu chứng lâm sàng Mỗi thai phụ có thể có một hoặc có tất cả các triệu chứng cơ năng, lý do thai phụ vào viện vì dọa đẻ non Tập 11, số 02 Tháng 5-2013 Tạp chí Phụ Sản 11 Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 09 - 12, 2013 ≤ 30 mm > 30 mm Tổng Sinh < 37 tuần 46 10 56 Sinh ≥ 37 tuần 27 67 94 Tổng 73 77 150 Thời gian chuyển dạ (tuần) n % ≤ 1 14 19% ≤ 2 27 37% ≤ 4 38 53% - 6 - 3.3. Kết quả siêu âm đo độ dài cổ tử cung Biểu đồ 3.1: Mối liên quan giữa độ dài CTC và tuổi thai Nhận xét: Độ dài CTC trung bình là 29,7 ± 7,6 mm, CTC ngắn nhất: 26,7 mm, CTC dài nhất 33,4 mm, 3.4. Độ dài cổ tử cung và khả năng tiên lượng dọa đẻ non Tuổi thai trung bình khi đẻ của nhóm nghiên cứu là 36,8 tuần. Bảng 3.4. Sự phân bố độ dài CTC ≤ 30 mm > 30 m ổng Sinh < 37 tuần 46 10 56 Sinh ≥ 37 tuần 27 67 94 Tổng 73 77 150 Nhận xét: số thai phụ đẻ khi tuổi thai < 37 tuần là 82,1%. 3.5. Tû lÖ ®Î non theo thêi gia ë ®é dµi CTC ≤ 30 mm Bảng 3.5. Tỷ lệ đẻ non theo thời gian Thời gian chuyển dạ (tuần) N % ≤ 1 14 19% ≤ 2 27 37% nhiều nhất là đau bụng, chiếm tỷ lệ 52%, ra máu âm đạo là 35,3%, có cả hai triệu chứng là 12,7%. Theo tác giả Hồ Thị Hà thì triệu chứng đau bụng cũng là hay gặp nhất với tỷ lệ 44,3%. Nghiên cứu của Mai Trọng Dũng cho thấy tỷ lệ thai phụ đau bụng là 69,6% [4], trong khi nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương có tỷ lệ thai phụ đau bụng vào viện là 87,5% [8]. Thăm khám lâm sàng một cách cẩn thận, tỉ mỉ, kết hợp với hỏi bệnh có thể chẩn đoán chính xác đến 71% các trường hợp dọa đẻ non.nghiên cứu này có 40% thai phụ có cơn co tử cung và có 47,67% thai phụ là có biến đổi về CTC . Kết quả này không giống với nghiên cứu của một số tác giả trước đây như của Hồ Thị Hà là 51,1% trường hợp có cơn co TC và 29,5% trường hợp có biến đổi về CTC, của Bùi Quang Thạch là 51,7% và 35,1%. nghiên cứu về Độ dài cTc qua siêu âm Đường Tsm Khả năng quan sát được cổ tử cung qua siêu âm đường TSM Qua tiến hành đo độ dài CTC ở 150 thai phụ dọa đẻ non tại khoa Sản bệnh lý, cho thấy tất cả các trường hợp đều nhận diện được hình ảnh CTC, thấy rõ lỗ trong, lỗ ngoài và ống CTC. Tất cả đều tiến hành đo một lần duy nhất. Trong quá trình nghiên cứu này, không có trường hợp nào thai phụ không đồng ý. Đây là một phương pháp siêu âm không xâm lấn, không gây hại cho thai phụ. Các nghiên cứu nước ngoài cho thấy: “ Phương pháp siêu âm đo độ dài CTC đã cung cấp một phương pháp khách quan và không xâm lấn về CTC. Phương pháp này có giá trị dự đoán dương tính cao hơn nhiều so với dự đoán do thăm khám âm đạo bằng tay, cho phép xác định tốt hơn những bệnh nhân có nguy cơ ” [9]. Nguyễn Công Định tiến hành đo độ dài CTC qua TSM cũng cho thấy khả năng nhận diện được 100% hình ảnh CTC, chỉ có 2 trường hợp thai phụ không đồng ý làm siêu âm. Siêu âm qua đường TSM có ưu điểm hơn so với siêu âm qua đường thành bụng vì thai phụ không cần nhịn tiểu cho nên độ dài cổ tử cung là độ dài thật, không bị ảnh hưởng bởi bàng quang. Siêu âm qua đường TSM cũng có ưu điểm hơn so với siêu âm qua đường âm đạo đó là đầu dò siêu âm không trực tiếp đụng chạm vào cổ tử cung nên không ảnh hưởng đến tâm lý của thai phụ là sợ gây sảy thai đẻ non hay vở ối do thao tác siêu âm, nhất là những thai phụ có tiền sử sản khoa phức tạp, hoặc có các dấu hiệu của dọa đẻ non [1] [2] [5] [7] Nghiên cứu của Ciero và của một số tác giả nước ngoài tiến hành so sánh giữa siêu âm đường âm đạo và siêu âm qua TSM cho thấy khoảng 80% trường hợp có thể nhận diện rõ hình ảnh CTC khi tiến hành siêu âm qua TSM so với 100% khi siêu âm đầu dò âm đạo [2]. Nguyên nhân của sự khác biệt này có lẽ do đối tượng nghiên cứu có đặc điểm giải phẫu khác hơn người Việt Nam, âm đạo Trần Danh Cường, phan Thành naM, phạM Thị Mai anh, nguyễn Thị huế SẢN KHOA VÀ SƠ SINH Tập 11, số 02 Tháng 5-2013 Tạp chí Phụ Sản 12 rộng hơn nên có thể có không khí trong âm đạo ảnh hưởng đến quá trình lan truyền của siêu âm cho nên không nhận ra hình ảnh của cổ tử cung vì siêu âm không lan truyền được trong không khí. Độ dài cTc Các nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước về đo độ dài CTC ở những thai phụ thai nghén bình thường và những thai phụ có dọa đẻ non đều đưa ra kết luận rằng: CTC càng ngắn thì nguy cơ đẻ non càng cao. Độ dài CTC và nguy cơ đẻ non có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Độ dài CTC là một triệu chứng thực thể, khách quan để đánh giá nguy cơ chuyển dạ đẻ Nghiên cứu này cho thấy CTC ngắn nhất là ở tuổi thai 31 tuần là 26,6 mm, dài nhất ở tuổi thai 30 tuần là 33,4 mm, và độ dài CTC trung bình là 29,7 ± 7,6 mm. Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về độ dài CTC ở những thai phụ có triệu chứng dọa đẻ non. Một số nghiên cứu khác như Nguyễn Mạnh Trí hay Nguyễn Công Định đều được tiến hành đo độ dài CTC trên những thai phụ thai nghén bình thường [2] [6]. So sánh kết quả nghiên cứu này với một số tác giả nước ngoài cho thấy. M. Palacio và cs (2007) nghiên cứu trên 333 thai phụ vào viện vì DĐN: chiều dài trung bình CTC là 30,4 ± 8,9 mm [7]. Fisher và cs (2008) nghiên cứu trên 54 thai phụ dọa đẻ non từ 24 - 34 tuần, chiều dài CTC trung bình là 2,8 ± 1,1 cm . Murakawa và cs nghiên cứu độ dài CTC ở 32 thai phụ dọa đẻ non cho thấy, độ dài CTC ở thai phụ sinh đủ tháng là 31,7 mm [6]. Kết quả nghiên cứu này không có sự khác biệt. Ngoài ra, một yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu là đường siêu âm. Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài hầu hết đều tiến hành bằng siêu âm qua đường âm đạo. Theo Cicero, độ dài CTC giữa siêu âm đường TSM và đường âm đạo là không khác nhau, độ chênh lệch khoảng 1mm giữa hai cách đo [7]. Đánh giá giá Trị của Đo Độ dài cTc qua Tsm Trong Tiên lượng dọa Đẻ non Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đẻ non trong nghiên cứu của chúng tôi là 37,3%, tỷ lệ cao này là do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi chỉ gồm những thai phụ dọa đẻ non. so sánh Độ dài cTc ở nhóm Thai Phụ Đẻ non và nhóm Thai Phụ Đẻ Đủ Tháng Trong tổng số 56 thai phụ đẻ non thì độ dài CTC trung bình là 23,8 ± 7,02 mm 94 thai phụ để đủ tháng thì có độ dài CTC là 32,7 ± 5,59 mm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với α = 0,01. Murakawa và cs đã đo độ dài CTC ở 32 thai phụ dọa đẻ non. Kết quả độ dài CTC ở nhóm đẻ non ( 11 thai phụ) là 23,2 mm, trong khi độ dài CTC ở nhóm đẻ đủ tháng là 31,7 mm ( 20 thai phụ) [50]. Nghiên cứu của Liabsuetrakul và cs thực hiện trên 144 thai phụ bằng siêu âm qua TSM cũng cho thấy rằng những thai phụ đẻ non có độ dài CTC ngắn hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm thai phụ đẻ đủ tháng [5]. Nghiên cứu của Hebbar và cs thực hiện trên 50 thai phụ khỏe mạnh để tiên lượng đẻ non (trước 37 tuần) cho thấy những thai phụ đẻ non có độ dài CTC ngắn hơn so với thai phụ đẻ đủ tháng. Sự khác biệt này trong nghiên cứu của Hebbar là có ý nghĩa thống kê với α < 0,0001. Như vậy, các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đều có kết luận chung là những thai phụ đẻ non có độ dài CTC ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với thai phụ đẻ đủ tháng. 4. Kết luận Độ dài CTC trung bình ở nhóm nghiên cứu là 29,7 ± 7,6 mm. Khả năng quan sát được CTC ở 100% só trường hợp một cách dễ dàng. Tỷ lệ đẻ non của những thai phụ có độ dài CTC ≤ 30 mm cao hơn ở nhóm thai phụ có độ dài CTC > 30 mm. Đây là một phương pháp siờu õm hoàn toàn có thể được áp dụng để thay thế phương pháp đo và đánh giá cổ tử cung qua ©m ®¹o nhất là trong những trương hợp có dấu hiệu dọa đẻ non TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Blondel B, Supernant K, Du Mazaubrun C, Bréart G (2006), “Trends in perinatal health in metropolitan France between 1995 and 2003: result from the Nationale Perinatal Surveys”, J Gynecol Obstet Biol Reprod, 2006; 35: 373 - 387. 2. Cicero S, Skentou C, Souka A, To MS, Nicolaides KH (2001), “Cervical length at 22-24 weeks of gestation: comparison of transvaginal and transperineal-translabial ultrasonography”, Ultrasound Obstet Gynecol, vol 17, pp. 335 - 340. 3. Mai Trọng Dũng (2004), “Nghiên cứu tình hình đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ tháng 1 năm 2003 đến tháng 8 năm 2004”, Luận văn Bác sỹ nội trú. 4. Nguyễn Công Định (2009), “Nghiên cứu đo độ dài cổ tử cung ở phụ nữ có thai 20 - 24 tuần bằng phương pháp siêu âm qua tầng sinh môn”, Luận văn thạc sỹ y học. 5. Liabsuetrakul T., Suntharasaj T., Suwanrath C. et al (2002), “Serial translabial sonographic measurement of cervical dimensions between 24 and 34 weeks’gestation in pregnant Thai women”, Ultrasound Obstet Gynecol, vol 20, pp.168-173. 6. Murakawa H, Utumi T, Hasegawa I, Tanaka K, Fuzimori R (1993), “Evaluation of threatened preterm delivery by transvaginal ultrasonographic measurement of cervical length”, Obstetrics & Gynecology, November 1993, Vol. 82, No. 5, pp. 829-832 7. Palacio M. et al (2007), “ The use of a variable cut-of value of cervical length in women admitted for preterm labor before and after 32 weeks”, Ultrasound Obstet Gynecol, vol 29, pp. 421 - 426. 8. Nguyễn Thị Thu Phương (2004), “Bước đầu nghiên cứu tác dụng giảm co tử cung của Nifedipine trong điều trị dọa đẻ non”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú. 9. Rozenberg P (2008), “ Échographie endovaginale du col utérin et évaluation du risque d’accouchement prématuré“, Pratique de l’echographie obstétricale au deuxième trimestre, pp.131 - 158. 10. Nguyễn Mạnh Trí (2004), “Nghiên cứu về độ dài cổ tử cung trong thời kỳ thai nghén và ý nghĩa tiên lượng dọa đẻ non”, Luận án tiến sỹ y học.
File đính kèm:
nghien_cuu_do_dai_co_tu_cung_cua_phu_nu_mang_thai_doa_de_non.pdf

