Nghiên cứu đặc điểm và thái độ xử trí sản phụ con so mẹ lớn tuổi tại Bệnh viện Trung ương Huế

Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu một số đặc điểm của sản phụ lớn tuổi

mang thai con so và đánh giá kết quả xử trí đối với sản phụ lớn tuổi

mang thai con so.

Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên đối tượng

là 60 sản phụ lớn tuổi sinh con so vào sinh tại khoa Phụ sản – Bệnh

viện Trung ương Huế, thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 3/2017.

Kết quả: Tuổi trung bình là 37,35 ± 2,97. Nguyên nhân hay gặp của mẹ

lớn tuổi sinh con so là kết hôn muộn (60,0%), tỷ lệ vô sinh chiếm 16,7%.

Bệnh lý của mẹ trong khi có thai bao gồm: thiếu máu (18,3%); tiền sản giật

(13,3%); rau tiền đạo (3,3%). Biến chứng con gồm: thai suy (25,0%), sinh

non (23,3%), cân nặng sơ sinh thấp (25,0%), trẻ dị tật (5,0%), chỉ số Apgar

phút thứ nhất ≤ 7 (31,7%), sơ sinh bệnh lý (35,0%). Biến chứng trong và

sau sinh: chuyển dạ kéo dài (16,7%); nhiễm trùng hậu sản (13,3%); chảy

máu sau sinh (5,0%). Phương pháp kết thúc thai kỳ: chuyển dạ tự nhiên

40,0%, khởi phát chuyển dạ 18,3%, mổ chủ động 41,7%. Có 70,0% trường

hơp mổ lấy thai, trong đó nguyên nhân hàng đầu là suy thai (25,0%).

Các nguy cơ thiếu máu, tiền sản giật, chuyển dạ kéo dài, chảy máu

sau sinh, trẻ sinh non, cân nặng sơ sinh thấp, trẻ dị tật, Apgar 1 phút ≤ 7,

tỷ lệ sơ sinh bệnh lý, tỷ lệ mổ lấy thai tăng liên quan tuổi mẹ với p <>

Kết luận: Mẹ lớn tuổi sinh con so phải đối mặt với nhiều rủi ro cả về

mẹ, con và kết cục thai kỳ.

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm và thái độ xử trí sản phụ con so mẹ lớn tuổi tại Bệnh viện Trung ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu đặc điểm và thái độ xử trí sản phụ con so mẹ lớn tuổi tại Bệnh viện Trung ương Huế

Nghiên cứu đặc điểm và thái độ xử trí sản phụ con so mẹ lớn tuổi tại Bệnh viện Trung ương Huế
TRƯƠNG THỊ LINH GIANG, LÝ THỊ CẨM NHUNG
82
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Trương Thị Linh Giang, Lý Thị Cẩm Nhung 
Trường Đại học Y Dược Huế
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ THÁI ĐỘ
XỬ TRÍ SẢN PHỤ CON SO MẸ LỚN TUỔI
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trương Thị Linh Giang, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Từ khóa: Con so, mẹ lớn tuổi, 
thai nghén nguy cơ cao.
Keywords: Advandce maternal 
age, primiparous, high risk 
pregnacy
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu một số đặc điểm của sản phụ lớn tuổi 
mang thai con so và đánh giá kết quả xử trí đối với sản phụ lớn tuổi 
mang thai con so.
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên đối tượng 
là 60 sản phụ lớn tuổi sinh con so vào sinh tại khoa Phụ sản – Bệnh 
viện Trung ương Huế, thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 3/2017.
Kết quả: Tuổi trung bình là 37,35 ± 2,97. Nguyên nhân hay gặp của mẹ 
lớn tuổi sinh con so là kết hôn muộn (60,0%), tỷ lệ vô sinh chiếm 16,7%. 
Bệnh lý của mẹ trong khi có thai bao gồm: thiếu máu (18,3%); tiền sản giật 
(13,3%); rau tiền đạo (3,3%). Biến chứng con gồm: thai suy (25,0%), sinh 
non (23,3%), cân nặng sơ sinh thấp (25,0%), trẻ dị tật (5,0%), chỉ số Apgar 
phút thứ nhất ≤ 7 (31,7%), sơ sinh bệnh lý (35,0%). Biến chứng trong và 
sau sinh: chuyển dạ kéo dài (16,7%); nhiễm trùng hậu sản (13,3%); chảy 
máu sau sinh (5,0%). Phương pháp kết thúc thai kỳ: chuyển dạ tự nhiên 
40,0%, khởi phát chuyển dạ 18,3%, mổ chủ động 41,7%. Có 70,0% trường 
hơp mổ lấy thai, trong đó nguyên nhân hàng đầu là suy thai (25,0%).
Các nguy cơ thiếu máu, tiền sản giật, chuyển dạ kéo dài, chảy máu 
sau sinh, trẻ sinh non, cân nặng sơ sinh thấp, trẻ dị tật, Apgar 1 phút ≤ 7, 
tỷ lệ sơ sinh bệnh lý, tỷ lệ mổ lấy thai tăng liên quan tuổi mẹ với p < 0,05.
Kết luận: Mẹ lớn tuổi sinh con so phải đối mặt với nhiều rủi ro cả về 
mẹ, con và kết cục thai kỳ.
Từ khóa: con so, mẹ lớn tuổi, thai nghén nguy cơ cao.
Abstract 
RESEARCHING ON SOME CLINICAL FEATURES 
AND MANAGEMENTS OF PRIMIPARPOUS WOMEN OF 
ADVANCED AGE AT OBSTETRICS AND GYNECOLOGY 
DEPARTMENT OF HUE CENTRAL HOSPITAL 
Objectives: To research on some clinical features and managements 
of nulliparous women of advanced age 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 82 - 87, 2017
83
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Methods and Material: A cross sectional descriptive study on 60 advanced maternal age at 
Obstetrics and Gynecology Department, Hue Central hospital, from May 2016 to March 2017.
Results: The average age was 37.35 ± 2.97. The main reason of advanced maternal age were 
delayed marriage (60.0%), infertility (16.7%). Risk of pregnant woman were: anemia (18.3%), 
preeclampsia (13.3%), placental previa (3.3%). Risk of children were fetal distress (25.0%), 
preterm birth (23.3%), low birthweight (25.0%), congenital anomalies (5.0%), 1-min Apgar scores 
≤ 7 (31.7%), neonatal disease (35.0%). Complication of labor: long labor (16.7%), postpartum 
infection (13.3%), postpartum hemorrhage (5.0%). Onset of labor: spontaneous (40.0%), induced 
(18.3%), elective caesarean section (41.v7%). Mode of delivery: caesarean section 70,0%, 
common reason is fetal distress.
Risk of anemia, preeclampsia, long labor, postpartum hemorrhage, preterm birth, low birthweight, 
congenital anomalies, 1-min Apgar scores ≤ 7, neonatal disease, caesarean section increased by 
maternal age.
Conclusions: Advanced maternal age faced up these risks for mother, children and pregnancy outcomes.
Key words: advandce maternal age, primiparous, high risk pregnacy
1. Đặt vấn đề
Mang thai và sinh nở để duy trì giống nòi là 
quy luật chung của sự sống, có liên quan đến nhiều 
yếu tố, trong đó tuổi tác là một yếu tố quan trọng. 
Riêng ở phụ nữ, với thiên chức làm mẹ, cơ thể họ có 
những đặc điểm giải phẫu, sinh lý thích hợp trong 
quãng thời gian từ dậy thì đến mãn kinh, được gọi 
là thời kỳ hoạt động sinh dục, kéo dài khoảng 30 
- 35 năm. Tuy nhiên, không phải thời điểm nào 
trong khoảng thời gian này cũng thuận lợi cho quá 
trình thai sản. Về mặt sinh học, thời gian tối ưu cho 
việc sinh nở là 20 - 35 tuổi. Sau tuổi 35, khả năng 
sinh sản giảm, đồng thời các biến chứng trong thai 
kỳ và kết cục thai kỳ bất lợi đều tăng. Theo nhiều 
nghiên cứu, tỷ lệ bà mẹ mang thai lần đầu sau 
tuổi 35 đang có xu hướng tăng trên toàn thế giới, 
đặc biệt ở các nước phát triển. Tại Mỹ, mức tăng 
này bắt đầu vào giữa những năm 1990 và đã tiếp 
tục đều đặn tăng lên theo thời gian. Tính đến năm 
2013, có 15% phụ nữ ở Mỹ sinh con ở độ tuổi trên 
35 so với 11% vào năm 2002, trong đó, số phụ nữ 
sinh con lần đầu là 10% [6], [7]. Tại Na Uy, trong 
một báo cáo vào năm 2011, tỷ lệ phụ nữ sinh con 
đầu lòng sau tuổi 35 là 21,1%, so với 11,4% vào 
năm 2008 [12]. Riêng tại Việt Nam, theo thống kê 
của Bạch Thị Hà Thư, tỷ lệ mẹ lớn tuổi sinh con so 
trong hai năm 2012 và 2013 tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương lần lượt là 3,43% và 3,52% [1].
Từ trước đến nay, ở Việt Nam có nhiều nghiên 
cứu về mẹ lớn tuổi sinh con so, tuy nhiên, đa phần 
các tác giả chỉ tập trung vào tình hình chung hay 
các tai biến liên quan. Vì vậy, để góp phần đưa 
đến cái nhìn đầy đủ và chi tiết về đặc điểm và thái 
độ xử trí sản khoa đối với các trường hợp mẹ lớn 
tuổi sinh con so, chúng tôi tiến hành thực hiện đề 
tài: “Nghiên cứu đặc điểm và thái độ xử trí sản phụ 
con so mẹ lớn tuổi tại Bệnh viện Trung ương Huế” 
nhằm 2 mục tiêu:
1. Tìm hiểu một số đặc điểm của sản phụ lớn 
tuổi mang thai con so.
2. Đánh giá thái độ xử trí đối với sản phụ lớn 
tuổi mang thai con so.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
60 sản phụ lớn tuổi ( ≥ 35 tuổi) sinh con so, tuổi 
TRƯƠNG THỊ LINH GIANG, LÝ THỊ CẨM NHUNG
84
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
thai ≥ 28 tuần vào sinh tại khoa Phụ sản Bệnh viện 
Trung ương Huế, thời gian từ tháng 5/2016 đến 
tháng 3/2017.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
2.2.2. Các bước tiến hành nghiên cứu
- Sản phụ được khai thác tiền sử sản khoa, tiền 
sử bệnh lý, nghiên cứu hồ sơ và thăm khám lâm 
sàng tỉ mỉ.
- Sản phụ được cho làm xét nghiệm máu, nước 
tiểu, siêu âm thai và phần phụ của thai, theo dõi 
nhịp tim thai và cơn co tử cung bằng monitoring 
sản khoa.
- Đánh giá các yếu tố bình thường, bất thường, 
theo dõi và lựa chọn phương pháp kết thúc thai 
nghén thích hợp: chuyển dạ tự nhiên, gây chuyển 
dạ, mổ lấy thai.
- Đánh giá kết quả kết thúc thai kỳ: sinh đường 
âm đạo hay mổ lấy thai, nguyên nhân, diễn biến 
trong và sau khi sinh (băng huyết, vỡ tử cung, rách 
tầng sinh môn phức tạp, nhiễm khuẩn hậu sản).
- Đánh giá tình trạng trẻ sơ sinh: trọng lượng 
con lúc sinh, chỉ số Apgar của trẻ sơ sinh phút thứ 
nhất, phút thứ 5, bệnh lý sơ sinh, dị tật bẩm sinh.
2.2.3. Xử lý số liệu: Bằng phần mềm hỗ trợ 
SPSS 20.
3. Kết quả nghiên cứu 
4. Bàn luận
Qua kết quả khảo sát, trong 60 sản phụ được 
nghiên cứu, tuổi nhỏ nhất là 35 và lớn nhất là 
Tuổi (Mean ± SD) 37,35 ± 2,97
Nhóm tuổi
35 -39
40 – 44
≥ 45
47 (78,3%)
11 (18,3%)
2 (3,3%)
Nghề nghiệp
Nông dân
Công nhân
Lao động tự do, buôn bán
Cán bộ viên chức
2 (3,3%)
11 (18,3%)
14 (23,3%)
33 (55,0%)
Trình độ văn hóa
Tiểu học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung cấp, cao đẳng, đại học
2 (3,3%)
13 (21,7%)
13 (21,7%)
32 (53,3%)
Nguyên nhân mẹ lớn tuổi 
sinh con so
Vô sinh
Kết hôn muộn
Tiền sử sẩy phá thai, nạo thai
10 (16,7%)
36 (60,0%)
15 (25,0%)
Bảng 1. Đặc điểm chung của sản phụ (n = 60)
Nhóm tuổi mẹ
35 – 39 (n = 47) ≥ 40 (n = 13) Tổng
(n = 60) pn % n %
Bệnh lý mẹ
Tiền sản giật 3 6,4 5 38,5 8 (13,3%) < 0,05
Rau tiền đạo 2 4,3 0 0,0 2 (3,3%) > 0,05
Thiếu máu 7 14,9 4 30,8 11(18,3%) < 0,05
Tai biến trong và sau sinh
Chuyển dạ kéo dài 4 8,5 6 46,2 10 (16,7%) < 0,05
Chảy máu sau sinh 2 4,3 3 23,1 5 (8,8%) < 0,05
Nhiễm trùng hậu sản 3 6,4 5 38,5 8 (13,3%) > 0,05
Bảng 2. Phân bố nguy cơ cho mẹ theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi mẹ
35 – 39 (n = 47) ≥ 40 (n= 13) Tổng
(n = 60) pn % n %
Thai suy 13 6,4 2 15,4 15 (25,0%) > 0,05
Trẻ nhẹ cân 8 4,3 7 53,8 15 (25,0%) < 0,05
Trẻ sinh non 7 14,9 7 53,8 14 (23,3%) < 0,05
Trẻ dị tật 0 0,0 3 23,1 3 (5,0%) < 0,05
Chỉ số Apgar phút thứ 
nhất ≤ 7 12 25,5 7 53,8 19 (31,7%) < 0,05
Sơ sinh bệnh lý 13 27,7 8 61,5 21 (35,0%) < 0,05
Bảng 3. Phân bố các nguy cơ đối với con theo nhóm tuổi mẹ
Nhóm tuổi mẹ
35 – 39 (n = 47) ≥ 40 (n= 13) Tổng
(n = 60) pn % n %
Sinh thường 11 36,2 1 7,7 18 (30,0%)
< 0,05Mổ lấy thai 30 63,8 12 92,3 42 (70,0%)
Tổng 47 100,0 13 100,0
Bảng 5. Phân bố cách xử trí trong chuyển dạ theo nhóm tuổi mẹ
Phương pháp Số trường hợp Tỷ lệ (%)
Chuyển dạ tự nhiên 24 40,0
Gây chuyển dạ 11 18,3
Mổ chủ động 25 41,7
Tổng 60 100,0
Bảng 4. Phương pháp kết thúc thai nghén (n = 60)
Chỉ định Số trường hợp Tỷ lệ (%)
Ngôi bất thường 11 26,2
Thai to 3 7,1
Suy thai 15 35,7
Đẻ chỉ huy thất bại 2 4,8
Chỉ định khác 11 26,2
Tổng 42 100,0
Bảng 6. Các chỉ định mổ lấy thai (n = 42)
46, độ tuổi trung bình là 37,35 ± 2,97. Trong 
đó, nhóm sản phụ nghề nghiệp là cán bộ viên 
chức và trình độ học vấn trung cấp trở lên chiếm 
tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 55,0% và 53,3%. Có 
lẽ, ngày nay, điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, 
người phụ nữ cũng có điều kiện học tập và giữ 
vị trí cao trong xã hội nên họ ngày càng có xu 
hướng lập gia đình và sinh con muộn hơn. Phù 
hợp với nhận định này, chúng tôi khai thác được 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 82 - 87, 2017
85
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
nguyên nhân chính của mẹ lớn tuổi sinh con so 
là kết hôn muộn chiếm 60,0%. Nhiều nghiên cứu 
trước đây cũng chỉ ra kết hôn muộn là nguyên 
nhân hàng đầu, như nghiên cứu của tác giả Đinh 
Nguyễn Xuân Trang là 57,7% [2], hay Bạch Thị 
Hà Thư là 52,8% [1]. Bên cạnh đó, nguyên nhân 
vô sinh cũng chiếm một tỷ lệ cao so với mặt bằng 
chung với 16,7%. Phải chăng đây là hậu quả 
của sự thay đổi môi trường sống, sự du nhập 
của những thực phẩm kém chất lượng, không rõ 
nguồn gốc, những thay đổi trong lối sống của 
người phụ nữ, cùng với tính thuận lợi của các 
phương pháp phá thai, hoạt động y tế tư nhân.
Hầu hết các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra 
rằng, mẹ lớn tuổi song hành với nguy cơ cao 
mắc các bệnh lý như tiền sản giật (TSG), rau tiền 
đạo (RTĐ), thiếu máu. Nghiên cứu của tác giả 
Đinh Nguyễn Xuân Trang năm 2013 ghi nhận tỷ 
lệ mắc TSG, RTĐ, thiếu máu lần lượt là 14,1%, 
4,2% và 18,3% [2]. Trong nghiên cứu của chúng 
tôi, tỷ lệ mắc các bệnh lý kể trên tương ứng là 
13,3%, 3,3% và 18,3%. Hơn nữa, tỷ lệ mắc TSG 
trong nhóm sản phụ ≥ 40 tuổi cao hơn nhóm 35 
-39 tuổi (38,5% và 6,4% tương ứng). Tương tự, 
Neslihan và cộng sự năm 2016 đưa ra tỷ lệ mắc 
TSG ở nhóm mẹ tuổi trên 35 là 2,8%, so với 1,3% 
của nhóm mẹ trẻ hơn (p= 0,01, OR=2,1, 95%CI) 
[8], hay nghiên cứu của Islam và cộng sự năm 
2015, tỷ lệ mẹ mắc TSG ở nhóm mẹ lớn tuổi là 
8,6%, trong khi đó nhóm chứng (< 35) chỉ chiếm 
4,2% (p = 0,006) [4]. Cũng như TSG, tỷ lệ sản 
phụ lớn tuổi sinh con so mắc bệnh thiếu máu ở 2 
nhóm tuổi 35 -39 và ≥ 40 lần lượt là 30,8% và 
14,9%. Như vậy, tuổi mẹ có vai trò tác động khá 
quan trọng, như là một nguy cơ trong sản khoa.
Các biến chứng trong và sau sinh thường 
gặp được các tác giả trước đây đề cập bao gồm 
chuyển dạ kéo dài, chảy máu sau sinh, nhiễm 
trùng hậu sản. Đây cũng là các biến chứng nổi 
trội trong nghiên cứu của chúng tôi, thể hiện qua 
bảng 2, trong đó chuyển dạ kéo dài chiếm tỷ lệ 
cao nhất với 16,7%. Tỷ lệ này phù hợp với kết 
quả của tác giả Bạch Thị Hà Thư (18,8%) [1], tuy 
nhiên cao hơn so với kết quả của Đinh Nguyễn 
Xuân Trang (12,7%) [2]. Mặt khác, bảng 2 cũng 
cho thấy mối liên quan giữa tuổi mẹ với chuyển 
dạ kéo dài cũng như chảy máu sau sinh (p < 
0,05). Theo đó, tuổi mẹ càng cao tỷ lệ tai biến 
càng tăng, tỷ lệ từng loại tai biến theo tuổi mẹ 
như sau: chuyển dạ kéo dài: nhóm tuổi 35 - 39 
là 8,5%, nhóm tuổi ≥ 40 là 46,2%; chảy máu 
sau sinh các tỷ lệ tương ứng lần lượt là: 4,3% và 
23,1%. Mối liên quan giữa các tai biến và tuổi 
mẹ cũng được thiết lập qua nhiều nghiên cứu 
trước đây trên thế giới. Nghiên cứu của Islam 
M. tại Oman, trong số 1.711 sản phụ có độ tuổi 
trung bình là 32, tỷ lệ chuyển dạ kéo dài gặp ở 
sản phụ trên 35 tuổi chiếm 8,9%, cao hơn so với 
6,7% của nhóm tuổi 20-34 [4]. Hay nghiên cứu 
của Ngozi C. tại Nigeria, so sánh giữa 2 nhóm 
sản phụ độ tuổi trung bình 41,2 và 26,1, kết 
quả ghi nhận tỷ lệ chảy máu sau sinh tương ứng 
là 4,4% và 2,0% [9]. Ở phụ nữ lớn tuổi, lượng 
estrogen sụt giảm, làm giảm sự nhạy cảm của 
cơ trơn cũng như tốc độ truyền của hoạt động 
điện tế bào, là những yếu tố hỗ trợ cơn co tử 
cung, có lẽ đây chính là nguyên nhân chính gây 
chuyển dạ kéo dài. Chuyển dạ kéo dài sẽ kéo 
theo nhiều hệ lụy, trong đó có tăng nguy cơ đờ tử 
cung, là một trong những nguyên nhân hàng đầu 
gây chảy máu sau sinh. Như vậy, phải chăng có 
sự gia tăng tỷ lệ chảy máu sau sinh song hành 
với sự gia tăng của chuyển dạ kéo dài trong bối 
cảnh mẹ lớn tuổi? Ngoài ra, nhiều quan điểm 
khác cho rằng chảy máu sau sinh tăng lên ở mẹ 
lớn tuổi là do tỷ lệ cao UXTC và RTĐ gặp ở nhóm 
tuổi này.
Thai suy, sinh non, cân nặng sơ sinh thấp là 
những nguy cơ thường gặp ở con so mẹ lớn tuổi. 
Qua phân tích 60 trường hợp nghiên cứu, chúng 
tôi ghi nhận 23,3% trường hợp sinh non, 25,0% 
trường hợp cân nặng sơ sinh thấp và 25,0% 
trường hợp thai suy. Khi tìm hiểu các nghiên cứu 
của nhiều tác giả khác, chúng tôi nhận được kết 
quả tương đương: nghiên cứu của Đinh Nguyễn 
Xuân Trang có 23,9% trẻ sinh non [2]; nghiên 
cứu của Azar A. có 23,2% trẻ sinh ra nhẹ cân 
[3]; nghiên cứu của Nelslihan có 22,4% trường 
hợp thai suy [8]. Hơn nữa, bảng 3 cho thấy các 
trường hợp sinh non và cân nặng sơ sinh thấp 
có sự phân bố tăng lên theo tuổi mẹ (so sánh 2 
nhóm tuổi 35 – 39 và ≥ 40, p < 0,05). Mối liên 
hệ này cũng được khẳng định trong nghiên cứu 
của nhiều tác giả khác trên thế giới. Nghiên cứu 
TRƯƠNG THỊ LINH GIANG, LÝ THỊ CẨM NHUNG
86
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
của Neslihan, tỷ lệ trẻ sinh non gặp ở nhóm mẹ 
lớn tuổi (≥ 35) là 14,5%, nhóm chứng là 6,6% (p 
< 0,05) [8], nghiên cứu của Ngowa J. năm 2013 
tỷ lệ lần lượt là 12,8% và 9,1% (p < 0,05) [10]. 
Nghiên cứu Mais đưa ra tỷ lệ trẻ sinh ra nhẹ cân 
tăng dần theo từng nhóm tuổi như sau: 35 – 39 
tuổi có 1,17%, 40 – 44 tuổi có 1,54%, 45 – 49 
tuổi có 2,98%,50 – 54 tuổi là 4,33% [7].
Mẹ lớn tuổi là một trong những yếu tố hàng 
đầu dẫn đến khả năng mang thai dị dạng, do 
vậy vấn đề này ngày càng nhận được nhiều sự 
quan tâm của các nhà nghiên cứu. Các nghiên 
cứu trong và ngoài nước đưa ra tỷ lệ trẻ dị tật 
ở mẹ lớn tuổi sinh con so khá biến thiên: Đinh 
Nguyễn Xuân Trang (2013): 5,6% [2], Bạch 
Thị Hà Thư (2014): 0,4% [1]. Waldenström U. 
(2015): 6,0% [11], Mais (2015): 1,8% [7]. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi có 5,0% trẻ bị dị tật 
bẩm sinh, gồm 3 trường hợp bao gồm các tật 
dính ngón, thừa ngón, không có trường hợp nào 
nghi ngờ bất thường NST. Có lẽ, có được kết quả 
này là nhờ vào các tiến bộ của công tác sàng 
lọc, quản lý chăm sóc thai nghén.
Bảng 3 cho thấy có 31,7% trẻ sinh ra có chỉ 
số Apgar phút thứ nhất dưới 7 điểm, phân bố 
tăng dần giữa 2 nhóm tuổi 35 – 39 và ≥ 40. Kết 
quả này tương đương với kết quả nghiên cứu của 
tác giả Đinh Nguyễn Xuân Trang vào năm 2013 
(28,2%) [2], Ngowa J. (25,6%), cao hơn so với 
nghiên cứu ngoài nước như Ngozi C. (7,8%). 
Cùng với điểm số Apgar thấp là nguy cơ tử vong 
sơ sinh, sơ sinh bệnh lý và các trường hợp sơ sinh 
phải nhập đơn vị hồi sức cấp cứu. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi, không có trường hợp nào tử 
vong sơ sinh, tuy nhiên chúng tôi ghi nhận 21 
trường hợp sơ sinh bệnh lý, chiếm 35,0%, phân 
bố tăng dần giữa 2 nhóm tuổi 35 – 39 và ≥ 40: 
27,7% và 61,5%.
Vấn đề tiên lượng và lựa chọn phương pháp 
kết thúc thai nghén có ý nghĩa quan trọng trong 
sản khoa nói chung và con so mẹ lớn tuổi nói 
riêng. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ 
40,0% trường hợp chờ đợi chuyển dạ tự nhiên, 
các trường hợp còn lại kết thúc thai nghén bằng 
phương pháp khởi phát chuyển dạ (18,3%) hoặc 
mổ chủ động (41,7%). Nếu so sánh với kết quả 
nghiên cứu của Bạch Thị Hà Thư thì tỷ lệ chuyển 
dạ tự nhiên của chúng tôi tương đương (41,31%), 
tuy nhiên, tỷ lệ phương pháp mổ chủ động của 
chúng tôi cao hơn (36,6%) [1]. Sự khác biệt này 
trước hết do hiện nay chúng ta chú trọng nhiều 
đến sức khoẻ và tính mạng sơ sinh, khi phát hiện 
có nguy cơ đẻ khó hoặc bệnh mẹ nặng không 
đáp ứng với điều trị chúng ta đã chủ động mổ 
sớm mà không chờ đợi thử thách thêm. Mặt khác, 
do quan niệm của người Việt Nam ngày nay đối 
với việc sinh con nối dõi, mang thai muộn, mang 
thai con quý, con hiếm, sinh con theo giờ khiến 
sản phụ và gia đình mong muốn mổ lấy thai thay 
vì chờ đợi chuyển dạ sinh thường. Điều này một 
lần nữa được chứng minh qua sự chênh lệch giữa 
tỷ lệ mổ lấy thai và sinh đường âm đạo: 70,0% 
so với 30,0%, tương đương với kết quả nghiên 
cứu của tác giả Đinh Nguyễn Xuân Trang (63,4% 
mổ lấy thai) [2], Bạch Thị Hà Thư (83,66% mổ 
lấy thai).
Khi phân tích về chỉ định mổ lấy thai (bảng 
6), chúng tôi thấy nổi bật lên chỉ định mổ lấy thai 
vì suy thai (35,7%). Sở dĩ chỉ định mổ lấy thai vì 
suy thai cao có thể do những năm gần đây tại 
bệnh viện sử dụng Mornitoring sản khoa để theo 
dõi nhịp tim thai sẽ phát hiện sớm và chính xác 
các trường hợp suy thai. Tuổi mẹ cũng là một yếu 
tố cần được xem xét trong chỉ định mổ lấy thai, 
bởi lẽ phần lớn các sản phụ mang thai lớn tuổi 
khi chuyển dạ gặp nhiều khó khăn do tầng sinh 
môn còn chắc, sức rặn yếu hơn nên hiệu quả 
không cao, sự gia tăng các bệnh lý như TSG, 
RTĐ, UXTCảnh hưởng không chỉ tới sức khỏe 
của mẹ mà còn làm rối loạn cơn co tử cung, cản 
trở đường xuống của thai.
5. Kết luận
Mẹ lớn tuổi sinh con so phải đối mặt với nhiều 
nguy cơ cho cả mẹ và con, do vậy cần quản lý thai 
nghén chặt chẽ và nên sinh tại cơ sở có điều kiện 
phẫu thuật.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 82 - 87, 2017
87
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Tài liệu tham khảo
1. Bạch Thị Hà Thư (2014), “Nghiên cứu thái độ xử trí đối với sản phụ 
từ 35 tuổi trở lên đẻ con so tại BVPSTW trong 2 năm 2012-2013”, Luận 
văn thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội.
2. Đinh Nguyễn Xuân Trang (2013), “Nghiên cứu tần suất sinh thường 
và một số yếu tố nguy cơ ở sản phụ mang thai con so lớn tuổi tại Bệnh 
viện Đại học YDược Huế”, Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ đa khoa Trường 
Đại học Y Dược Huế.
3. Azar Aghamohammadi, Maryam Nooritajer (2011), “Maternal age 
as a risk factor for pregnancy outcomes: Maternal, fetal and neonatal 
complication”, African Journal of Pharmacy and Pharmacology, Vol. 5(2), 
pp. 264-269.
4. Islam MM, Bakheit CS (2015), “Advanced Maternal Age and Risks 
for Adverse Pregnancy Outcomes: A Population-Based Study in 
Oman”,Health Care Women Int. 2015;36(10):1081-103.
5. Mathews T. J. and B. E. Hamilton (2014). “First births to older women 
continue to rise.”, NCHS Data Brief 152.
6. Martin, J. A., B. E. Hamilton, M. J. Osterman, S. C. Curtin and T. J. 
Matthews (2015), “Births: final data for 2013.”, Natl Vital Stat Rep 64(1): 1-65. 
7. Mais Aboneaaj (2015), “The Association of Advanced Maternal Age 
and Adverse Pregnancy Outcomes”, Thesis, Georgia State University.
8. Neslihan et al (2016), “Does Advanced Maternal Age Increase the Risk 
of Adverse Perinatal Outcomes?”, Acta Medica 2016; 5: 23–29
9. Ngozi C. Orazulike (2015), “Effect of Age on Childbearing in Port 
Harcourt, Nigeria”, Int J Biomed Sci. 2015 Jun; 11(2): 82–85.
10. Ngowa J., A Ngassam, JS Dohbit, C Nzedjom, JM Kasia (2013), 
“Pregnancy outcome at advanced maternal age in a group of African 
women in two teaching hospitals in Yaounde, Cameroon”, Pan Afr Med 
J, 14 (2013), p. 134.
11. Waldenström U. et al (2015), Advanced Maternal Age and Stillbirth 
Risk in Nulliparous and ParousWomen, Obstet Gynecol 2015;126:355–62.
12. Wang, Y., Tanbo, T., Åbyholm, T. et al.“Effect of pregestational 
maternal, obstetric and perinatal factors on neonatal outcome in extreme 
prematurity”, Arch Gynecol Obstet (2011) 284: 31

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_va_thai_do_xu_tri_san_phu_con_so_me_lon.pdf