Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và siêu âm trước mổ trên bệnh nhân hở van động mạch chủ tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt - Đức

Đặt vấn đề: Hở van động mạch chủ là thương tổn

van tim tương đối thường gặp. Tại các nước phát triển

như Mỹ, châu Âu có khoảng 10% số người cao tuổi bị

tổn thương van động mạch chủ. Bệnh tiến triển âm

thầm hầu như không có biểu hiện triệu chứng lâm

sàng. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và siêu âm

trước mổ của hở van động mạch chủ tại bệnh viện

Việt Đức.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bệnh

nhân thương tổn hở van động mạch chủ được chẩn

đoán và điều trị tại khoa phẫu thuật Tim mạch- Lồng

ngực, bệnh viện Việt- Đức.

Phương pháp nghiên cứu: mô tả lâm sàng cắt

ngang, theo dõi dọc, tiến cứu, thời gian từ 1/2006 đến

12/2010

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và siêu âm trước mổ trên bệnh nhân hở van động mạch chủ tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt - Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và siêu âm trước mổ trên bệnh nhân hở van động mạch chủ tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt - Đức

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và siêu âm trước mổ trên bệnh nhân hở van động mạch chủ tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt - Đức
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ SIÊU ÂM TRƯỚC MỔ TRÊN BỆNH NHÂN HỞ VAN  
 5
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ SIÊU ÂM TRƯỚC MỔ TRÊN BỆNH NHÂN HỞ 
VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT - ĐỨC 
 Phạm Thái Hưng*, Lê Ngọc Thành** 
TÓM TẮT: 
Đặt vấn đề: Hở van động mạch chủ là thương tổn 
van tim tương đối thường gặp. Tại các nước phát triển 
như Mỹ, châu Âu có khoảng 10% số người cao tuổi bị 
tổn thương van động mạch chủ. Bệnh tiến triển âm 
thầm hầu như không có biểu hiện triệu chứng lâm 
sàng. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và siêu âm 
trước mổ của hở van động mạch chủ tại bệnh viện 
Việt Đức. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bệnh 
nhân thương tổn hở van động mạch chủ được chẩn 
đoán và điều trị tại khoa phẫu thuật Tim mạch- Lồng 
ngực, bệnh viện Việt- Đức. 
Phương pháp nghiên cứu: mô tả lâm sàng cắt 
ngang, theo dõi dọc, tiến cứu, thời gian từ 1/2006 đến 
12/2010. 
Kết quả và bàn luận: tuổi 20 đến 60 tuổi 
(80,39%), trung bình là 45,8 ± 12,8. Giới: 49 nam chiếm 
tỷ lệ 73,1 %; nữ 18 (26,9 %). 
Lâm sàng: khó thở 82,09%, đau ngực 13,43%; 
4,48%, không có triệu chứng cơ năng mặc dù tổn 
thương van đã ở mức độ nặng. Tiếng thổi tâm trương 
là dấu hiệu thường thấy gặp 100%; thổi tâm thu gặp 
37 trường hợp chiếm 55,22%. 
Suy tim theo NYHA từ độ II trở lên 95,52%, trong 
đó NYHA III là 35,82%; 13,43 % bệnh nhân NYHA IV. 
58 bệnh nhân có huyết áp tâm thu tăng trên 130mmHg 
(86,57 %). 70,75% huyết áp tâm trương giảm 
<60mmHg. Chênh lệch huyết áp trung bình 
65±11,43mmHg. 
Siêu âm: thương tổn tại van là chính gặp 62 trường 
hợp (92,34%), 5 trường hợp thương tổn ở vòng van 
(7,46%). Thương tổn lá van: 88,06% có lá van dày. 
Trong đó 35 bệnh nhân vôi hóa lá van chiếm 52,24%, 
Mức độ hở van: 89,55% hở van mức độ từ vừa đến 
nặng trở lên, trong đó mức độ hở van từ vừa – nặng 
58,21%, bệnh nhân hở van nặng 31,34 %. Mức độ hở 
van với tình trạng suy tim trước mổ có sự tương quan 
vừa phải (với R tương quan 0,218 – 0,493). 
Chức năng thất trái: thất trái giãn hơn, không 
tương xứng với mức độ hở van. Phân suất tống máu 
thất trái giảm với 86,57% có EF < 55%. Phân suất 
tống máu EF (%) trung bình 53,4 ± 9,7, phân suất 
tống máu >45: 59,7%, 7 trường hợp có EF <30 chiếm 
10,45%. 
Kết luận: Bệnh nhân ở tuổi trung niên, tuổi trung 
bình: 45,8 ± 12,8, 4,48% không có biểu hiện triệu chứng 
cơ năng. Tại thời điểm trước mổ suy tim mức độ 
NYHA từ II trở lên chiếm 95,52 %. 
- Siêu âm tim: Tình trạng thương tổn tại lá van là chủ 
yếu 92,34%. Thương tổn ở vòng van 7,46%. Mức độ 
hở van có sự liên quan không chặt chẽ với mức độ 
giãn thất trái. Chức năng thất trái giảm, TB 53,4±9,7 và 
32,84% kèm theo hẹp van. 
SAMARY 1 
Background: aortic valve regurgitation is 
relatively common. In developed countries like the 
U.S., Europe has about 10 % of the elderly vulnerable 
aortic valve. The disease progresses silently almost no 
clinical symptoms. Objective: Describe the clinical 
characteristics and preoperative ultrasonography of 
the aortic valve regurgitation in Vietnam German 
hospital. 
Subjects and Methods: patients with aortic valve 
insufficiency was diagnosed and treated at the 
Department of Cardiovascular Surgery, Vietnamese - 
German hospital . 
Research methodology: clinical description of 
cross-sectional, longitudinal monitoring, prospective, 
time from 1/ 2006 to 12/2010. 
Results and discussion: age 20 to 60 years old 
(80.39 %), average 45.8 ± 12.8. About 49 percentage 
of 73.1 % male, 18 female (26.9 %). 
Clinical: 82.09 % dyspnea, chest pain, 13.43 %, 
4.48 %, no functional symptoms although the valve 
**Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E 
* Khoa Ngoại Tổng hợp Bệnh viện E 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Lê Ngọc Thành 
Ngày nhận bài: 01/12/2013 - Ngày Cho Phép Đăng: 08/12/2013 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Đặng Hanh Đệ 
 GS.TS. Bùi Đức Phú 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 6 
was hurt severely. Diastolic murmur is usually a sign 
that meets 100 %; systolic murmur encountered 37 
cases, accounting for 55.22 %. Heart failure according 
to NYHA II level or higher from 95.52 % in NYHA 
III which is 35.82 %, 13.43 % patients with NYHA 
IV. 58 patients with a systolic blood pressure of 
130mmHg increasing proportion of 86.57 %. 70.75 % 
decrease in diastolic blood pressure < 60mmHg. 
Average difference in blood pressure of 65 ± 11.43 
mmHg. 
Ultrasound: the main valve lesions encountered in 
62 cases (92.34 %), 5 cases within valve lesions (7.46 
%). Leaflet valve lesions: 88.06 % of our patients had 
lesions thicker leaf valve. In 35 patients with calcified 
leaflet valves accounted for 52.24%. The degree of 
valve regurgitation: 89.55 % valve insufficiency in 
patients with moderate to severe degree or higher, 
which moderate degree of valve 58.21 % severe, 
patients with severe valve insufficiency 31.34 %. 
Degree of valve regurgition with preoperative heart 
failure have a moderate correlation (correlation R 
from 0.218 to 0.493). 
Left ventricular function: left ventricular 
relaxation, not commensurate with the degree of valve 
opening. Left ventricular ejection fraction had 
decreased to 86.57 % EF < 55%. EF average 53.4 ± 
9.7, EF > 45: 59.7 %, 7 cases had EF < 30 accounted 
for 10.45 %. 
Conclusion: Patients in middle age, average age: 
45.8 ± 12.8, 4.48 % had no functional symptoms. At 
the time of surgery from heart failure NYHA II level 
or higher accounted for 95.52 %. 
Echocardiography: Status valve lesions in leaflet 
is mainly 92.34%. Valve lesions within 7.46 %. The 
extent they are still not closely related to the degree of 
left ventricular relaxation. Reduced left ventricular 
function, average 53.4 ± 9.7 and 32.84 % 
accompanied by stenosis. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Hở van động mạch chủ là thương tổn van tim 
tương đối thường gặp. Tại các nước phát triển như 
Mỹ, châu Âu có khoảng 10% số người cao tuổi bị tổn 
thương van động mạch chủ và chiếm khoảng 10% 
tổng số bệnh nhân mắc bệnh van tim, đứng hàng thứ 5 
trong số các thương tổn van tim. Nguyên nhân hàng 
đầu được cho là do thoái hóa van, khoảng 10- 15 % số 
người trên 60 tuổi bị tổn thương van động mạch chủ 
với các mức độ khác nhau [4]. 
Với các nước đang phát triển và Việt Nam hậu 
quả của thấp tim được cho là nguyên nhân hàng đầu 
gây bệnh van tim ở người trẻ tuổi. Theo tác giả 
Nguyễn Phú Kháng tổn thương van động mạch chủ do 
thấp chiếm 25% số bệnh nhân bị thương tổn van 
tim[1]. 
Bệnh tiến triển âm thầm hầu như không có biểu hiện 
triệu chứng lâm sàng nhưng khi đã xuất hiện triệu chứng 
thì tiến triển nhanh, xuất hiện suy tim sớm. 
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài 
này nhằm mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và siêu 
âm trước mổ của hở van động mạch chủ tại bệnh viện 
Việt Đức. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU 
Đối tượng: Gồm bệnh nhân thương tổn hở van động 
mạch chủ được chẩn đoán và điều trị tại khoa phẫu thuật 
Tim mạch- Lồng ngực, bệnh viện Việt- Đức. 
Phương pháp nghiên cứu: mô tả lâm sàng cắt 
ngang, theo dõi dọc, tiến cứu, trong thời gian từ 
1/2006 đến 12/2010. Các bệnh nhân được đánh giá 
theo một quy trình sau: 
* Lâm sàng: 
- Tuổi; Giới 
- Thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đến khi có 
chỉ định phẫu thuật 
- Các triệu chứng lâm sàng: cơ năng, toàn thân, 
thực thể 
Các bệnh lý toàn thân ( tiểu đường, bệnh phổi mãn 
tính,....) 
* Siêu âm tim: 
- Đánh giá thương tổn: Lá van; Vòng van; động 
mạch chủ.... 
- Đánh giá mức độ hở van: theo khuyến cáo của 
Hội tim mạch Việt Nam 2008 chia làm 4 mức độ: hở 
nhẹ; vừa; vừa - nhiều và nhiều. 
- Chức năng tim: về hình thái buồng thất, bề dày 
thành thất trái, phân số tống máu, chỉ số khối lượng cơ 
thất trái.... 
Tổng kết các dữ liệu thu được để rút ra các đặc 
điểm của hở van động mạch chủ. Xử lý số liệu theo 
phương pháp thống kê y học: EPI-INFO 2002. 
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ SIÊU ÂM TRƯỚC MỔ TRÊN BỆNH NHÂN HỞ VAN  
 7
III. KẾT QUẢ 
Từ 1/2006 -12/2010 chúng tôi điều trị 67 trường 
hợp hở van động mạch chủ. 
3.1. Đặc điểm chung. 
Tuổi: 
Bảng 1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 
Nhóm tuổi Số lượng(n=67) Tỷ lệ (%) 
< 20 2 2,99 
20 – 39 20 29.85 
40 – 59 34 50,75 
≥ 60 11 16,41 
Tổng 67 100 
 Giới: 
3.2. Đặc điểm lâm sàng tổn thương van động 
mạch chủ. 
Triệu chứng cơ năng thường gặp: 
Bảng 2. Một số triệu chứng cơ năng thường gặp 
Triệu chứng n Tỷ lệ % 
Khó thở khi gắng sức 55 82,09 
Khó thở liên tục 9 13,43 
Người mệt mỏi 43 64,18 
Hồi hộp 32 47,76 
Tim đập mạnh 35 52,24 
Đau ngực 9 13,43 
Phù 2 2,99 
Không có triệu chứng lâm sàng 3 4,48 
Bảng 3. Thời gian từ lúc phát hiện bệnh đến lúc 
được phẫu thuật 
Thời gian Bệnh nhân Tỷ lệ (%) 
< 1 năm 2 2,99 
1 - 5 năm 45 67,16 
5 - 10 năm 16 23,88 
> 10 năm 4 5,97 
+ Nghe tim: Nhịp tim vẫn bình thường, tới giai 
đoạn muộn, nhịp thường nhanh. 
 Bảng 4. Tiếng tim bệnh lý thường gặp 
Triệu chứng n Tỷ lệ (%) 
T1 mờ 32 47,76 
Thổi tâm trương 67 100,0 
Thổi tâm thu 37 55,22 
Rung Flint 32 47,76 
Mức độ suy tim của bệnh nhân trước mổ theo 
NYHA: 
Bảng 5. Mức độ suy tim của bệnh nhân trước mổ 
theo NYHA 
NYHA n Tỷ lệ % 
I 3 4,48 
II 31 46,27 
III 24 35,82 
IV 9 13,43 
Tổng 67 100 
Huyết áp: 
Bảng 6. Những thay đổi về huyết áp 
Triệu chứng n Tỷ lệ (%) 
Huyết áp tối đa >130 
mmHg 58 86,57 
Huyết áp tối thiểu < 60 
mmHg 47 70,15 
Chênh lệch huyết áp > 60 
mmHg 32 47,76 
3.3. Siêu âm 
 Bảng 7. Thương tổn van trên siêu âm 
Tổn thương van Bệnh nhân Tỷ lệ (%) 
Lá van dầy 59 88,06 
Co rút lá van 51 76,12 
Vôi lá van 35 52,24 
Sa lá van 5 7,46 
Thủng lá van 3 4,62 
Van ĐMC 2 lá 8 11,94 
Vôi hóa vòng van 5 7,46 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 8 
+ Mức độ hở van: Trong nghiên cứu chúng tôi gặp 
hở van vừa 7 trường hợp, từ vừa- nhiều: 39 trường 
hợp chiếm 58,21%, hở nhiều 21 trường hợp chiếm 
31,34%. Trong tổng số bệnh nhân nghiên cứu có 22 
trường hợp hở van kèm theo hẹp nhẹ và vừa chiếm 
32,84%. 
+ Sự liên quan giữa mức độ hở van với mức độ 
suy tim 
Bảng 8. Liên quan mức độ hở van với tình trạng suy tim trước mổ 
Hở vừa Hở vừa- nhiều Hở nhiều 
BN 
(n=7) 
Tỷ lệ 
(%) 
BN 
(n=39)
Tỷ lệ 
(%) 
BN 
(n=21) 
Tỷ lệ 
(%) 
R 
NHYA I 2 2.99 1 1.49 0 0.00 0,301 
NHYA II 4 5.97 12 17.91 5 7.46 0,428 
NHYA III 1 1.49 23 34.33 10 14.93 0,493 
NHYA IV 0 0.00 3 4.48 6 8.96 0,218 
+ Hình thái và chức năng thất trái: 
Bảng 9. Một số thông số hình thái thất trái trên siêu âm tim trước mổ 
Các thông số Chung Hở đơn thuần 
Hở kèm theo 
hẹp 
NT (mm) 37,6 39,7 36,2 
ĐMC (mm) 38,7 39,5 37,7 
Dd (mm) 62,2 65,4 58,1 
TTTT cuối tâmtrương (ml) 175,4 184, 8 171,5 
TTTT cuối tâm thu(ml) 85,3 89,4 83,1 
VLT tâm thu (mm) 13,1 12,4 14,3 
VLT tâm trương (mm) 10,4 9,4 11,5 
TSTT tâm thu (mm) 13,3 13,1 13,8 
TSTTtâm trương (mm) 11,6 11,2 11,9 
KL cơ thất trái (g) 252,15 254,2 249,2 
Chỉ số KLCTT trái (g/m2) 
Nam 
Nữ 
202,6 
204,7 
192,6 
204,4 
209,6 
196,5 
201,7 
203,7 
190,8 
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ SIÊU ÂM TRƯỚC MỔ TRÊN BỆNH NHÂN HỞ VAN  
 9
Bảng 10. Phân suất tống máu (EF) 
Phân số tống máu 
(EF =%) 
Bệnh nhân 
n= 67 
Tỷ lệ 
(%) 
< 30 7 10,45 
31 - 45 20 29,85 
46 -55 31 46,27 
> 55 9 13,43 
IV. BÀN LUẬN 
Trong nghiên cứu của chúng tôi gặp chủ yếu ở lứa 
tuổi 20 đến 60 tuổi (80,39%), tuổi trung bình là 45,8 ± 
12,8, lớn nhất là 70 tuổi và nhỏ nhất là 16 tuổi. Độ tuổi 
trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi cũng gần như 
tương đương với Shiv Kumar C tuổi trung bình là 35,7 ± 
2,7; Minh N.T nghiên cứu kết quả phẫu thuật thay van 
ĐMC với tuổi trung bình 47,6 ± 13,6. 
49 nam chiếm tỷ lệ 73,1 %; nữ 18 chiếm 26,9 %, 
sự khác biệt có ý nghĩa với p< 0.05, kết quả này phù 
hợp với các nghiên cứu về bệnh lý van ĐMC ở cả 
nước ngoài và trong nước, Cambell tỷ lệ này là 2/1, 
Turry M. tỷ lệ gặp ở nam nhiều gấp 2,6 lần nữ. Điều 
này phù hợp với tình hình chung của bệnh lý về tim 
mạch là thường gặp ở nam giới hơn [3]. 
Triệu chứng lâm sàng: dấu hiệu khó thở khi gắng 
sức chiếm 82,09%, đau ngực chiếm 13,43%. Trong hở 
van ĐMC sự giảm tưới máu vành do hở van và sự 
tăng tiêu thụ oxy của cơ tim. Tuy nhiên có 3 trường 
hợp chiếm (4,48%), không có triệu chứng cơ năng 
mặc dù tổn thương van đã ở mức độ nặng. Điều này 
chứng tỏ thời gian không triệu chứng của bệnh lý đã 
che lấp tiến triển tổn thương của van. Theo Elaine tỷ 
lệ khó thở thường xuyên trong nghiên cứu của mình 
về hở van ĐMC đơn thuần là 26; tiếp theo là dấu hiệu 
tim đập mạnh làm cho bệnh nhân có cảm giác hồi hộp 
47,76%; Bệnh lý van ĐMC làm quá tải (thể tích hoặc 
áp lực) cho thất trái, hậu quả cuối cùng gây suy tim 
trái, tăng áp lực ĐMP. Khó thở khi gắng sức trên bệnh 
nhân bệnh van ĐMC biểu hiện tình trạng ứ máu phổi 
(suy tim xung huyết). 
Chúng tôi thấy rằng thời gian từ lúc phát hiện 
bệnh đến khi phẫu thuật trung bình là 3.1±1.3 năm, 
thời gian này là tương đối ngắn. Điều này phù hợp với 
nhận xét của các tác giả như Nguyễn Lân Việt, 
Nguyễn Phú Kháng, Jerry B, Robert JH, cho rằng 
bệnh tiến triển âm thầm kéo dài trong nhiều năm [4]. 
Theo Suman B: Bệnh nhân không có triệu chứng, 
chức năng tâm thu thất trái bình thường tỷ lệ tiến triển 
dẫn đến có triệu chứng và rối loạn chức năng thất trái: 
< 6%/ năm, đột tử dưới 0,2% mỗi năm. Bệnh nhân có 
triệu chứng: tỷ lệ tử vong hơn 10% mỗi năm. Tỷ lệ 
bệnh nhân không triệu chứng lâm sàng mà có rối loạn 
chức năng thất trái, dẫn đến triệu chứng lâm sàng: 
>25% mỗi năm. 
Ngoài tiếng thổi tâm trương là dấu hiệu thường 
thấy thì tiếng thổi tâm thu chúng tôi gặp 37 trường 
hợp chiếm 55,22% do có hẹp kèm theo hoặc do tăng 
lưu lượng tống máu qua van động mạch chủ. 
Phần lớn bệnh nhân của chúng tôi có mức độ suy 
tim theo NYHA từ độ II trở lên chiếm 95,52%, trong đó 
NYHA II là 43,14%, NYHA III là 35,82%, có 13,43 % 
bệnh nhân NYHA IV. Kết quả này tương đương với tác 
giả Ines F, 96% bệnh nhân trước mổ có NYHA II trở lên 
và Per Kvidal, tỷ lệ NYHA II trở lên là 90%, trong đó 
suy tim mức độ nặng: 27,7%. 
Chúng tôi thấy 58 bệnh nhân có huyết áp tâm thu 
tăng trên 130mmHg chiếm tỷ lệ 86,57 %. Huyết áp tối 
đa trung bình 138± 13,21 mmHg. 70,75 % bệnh nhân có 
huyết áp tâm trương giảm <60mmHg. Chênh lệch huyết 
áp trung bình 65±11,43mmHg. Theo Robert J. khi 
huyết áp tâm trương giảm <60mmHg, sự chênh lệch 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 10
huyết áp trên 60 mmHg gây ra các dấu hiệu lâm sàng 
như: dấu hiệu Musset, dấu hiệu Hill, Quincke. 
Siêu âm tim là thăm dò không xâm lấn nó giúp 
xác định các nguyên nhân gây hở van động mạch chủ, 
chẩn đoán mức độ thương tổn van tim, chức năng tim. 
Chúng tôi thấy thương tổn tại van là chính gặp 62 
trường hợp (92,34%), 5 trường hợp thương tổn ở vòng 
van (7,46%). 
Thương tổn lá van: 88,06% số bệnh nhân của 
chúng tôi có thương tổn lá van dày từ vừa – nhiều, 
biên độ mở lá van gần sát thành, đóng không kín. 
Trong đó có 35 bệnh nhân có hiện tượng vôi hóa lá 
van chiếm 52,24%, Turri tỷ lệ này là 67%, chúng tôi 
gặp 8 trường hợp van ĐMC có 2 lá van chiếm 11,94% 
, Turri 13,5%, Rachid Z: 14%. Thương tổn co rút lá 
van chúng tôi gặp 51 trường hợp chiếm 76,12% đây 
được cho là thương tổn đặc hiệu do thấp. Thấp tim 
làm cho các lá van bị dày, gây xơ hoá, vôi hoá, nhất là 
tại bờ của các lá van làm cho các lá van viêm dày, co 
rút gây hở van. Trong thương tổn van tim do thấp nói 
chung và van ĐMC nói riêng ít khi đơn độc mà 
thường phối hợp nhiều van (hay gặp là van hai lá). 
Ngay tại van bị tổn thương cũng ít khi có một hình 
thái tổn thương đơn thuần mà thường phối hợp vừa 
hở vừa hẹp, hay hẹp là chính hoặc hở là chính, chúng 
tôi gặp 22 trường hợp thương tổn hở van có hẹp van 
kèm theo. Đây là điểm khác biệt về thương tổn van 
ĐMC so với các nước phát triển khi bệnh lý vôi hóa, 
thoái hóa van chiếm tỷ lệ cao. 
Mức độ hở van: 89,55% bệnh nhân hở van ở 
mức độ từ vừa đến nặng trở lên, trong đó bệnh nhân 
có mức độ hở van từ vừa – nặng chiếm 58,21%, 
bệnh nhân hở van nặng chiếm 31,34 %. 95,52 % có 
NYHA II trở lên và 7,46% bệnh nhân có hở chủ 
nhiều nhưng có mức độ NYHA II. Chúng tôi nhận 
thấy giữa mức độ hở van với tình trạng suy tim 
trước mổ có sự tương quan vừa phải (với R tương 
quan 0,218 – 0,493). Điều này lý giải cho những 
trường hợp hở van mức độ nặng mà không có biểu 
hiện trên lâm sàng. 
Chênh áp qua van trung bình: 22,3±4,3mmHg 
trong đó ở những bệnh nhân không có hẹp van 
18,6±4,1mmHg, bênh nhân có kèm theo hẹp van có 
chênh áp qua van lớn hơn 29,4±6,7mmHg, khi hở van 
ĐMC có kèm theo hẹp thì độ chênh áp sẽ cao hơn giá 
trị thật. 
+ Chức năng thất trái: 
Các chỉ số về hình thái thất trái trên siêu âm: 
chúng tôi nhận thấy thất trái giãn hơn bình thường. 
Đường kính thất trái cuối tâm trương: 62,2mm; Thể 
tích thất trái cuối tâm trương: 175,4ml; Thể tích thất 
trái cuối tâm thu: 85,3ml, theo chúng tôi không tương 
xứng với mức độ hở van khi mức độ hở van từ vừa 
đến nhiều trở lên chiếm 89,55%, sở dĩ có điều này 22 
bệnh nhân trong nghiên cứu ngoài thương tổn hở van, 
có hẹp van kèm theo. Khi tách riêng từng nhóm thấy 
có sự khác biệt rõ rệt về giãn thất trái giữa các hình 
thái tổn thương: ở bệnh nhân chỉ hở van đơn thuần có 
đường kính thất trái và thể tích thất trái giãn lớn hơn 
với Dd: 65,4mm; thể tích thất trái cuối tâm trương: 
184,8 ml ; thể tích thất trái cuối tâm thu: 89,4ml còn 
ở những bệnh nhân có kèm theo hẹp van mức độ giãn 
thất trái ít hơn với đường kính thất trái tâm trương: 
58,1mm, thể tích thất trái cuối tâm trương: 171,5ml, 
thể tích thất trái cuối tâm thu: 83,1ml. Điều này phù 
hợp với đặc điểm giải phẫu, sinh lý của từng hình thái 
thương tổn. Trong nghiên cứu của Tamas cho thấy 
đường kính thất trái cuối tâm trương là 69,8 ± 10,2 
mm, cuối tâm thu là 48,9±10,1mm, đường kính ĐMC 
ngang van trung bình là 37,5±8mm, 35% có rối loạn 
chức năng thất trái trung bình hoặc nặng trước phẫu 
thuật, phân suất tống máu ≤ 40% Trong nghiên cứu 
của chúng tôi phân số tống máu thất trái của hầu hết 
bệnh nhân giảm với 86,57%, có EF < 55%. Phân số 
tống máu EF (%) trung bình 53,4 ± 9,7, phân số tống 
máu >45: 59,7%, 7 trường hợp có EF <30 chiếm 
10,45%. Theo Sionis: Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân có 
chức năng thất trái giảm nặng sau thay van cao, từ 1- 
7%, kết quả trung hạn tương đối tốt, chức năng của 
hầu hết các bệnh nhân cải thiện sau khi phẫu thuật. Do 
đó, khi EF xuống thấp <35% không phải là một chống 
chỉ định thay van [7]. 
Chúng tôi cho rằng bệnh nhân hở chủ và EF 
giảm nhiều cần được xem là có nguy cơ cao, phải 
đánh giá cẩn thận và nếu phù hợp nên can thiệp 
phẫu thuật càng sớm càng tốt. Chúng tôi có 7 
trường hợp chiếm 10,45% có phân suất tống máu 
<30% vẫn được phẫu thuật. 
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ SIÊU ÂM TRƯỚC MỔ TRÊN BỆNH NHÂN HỞ VAN  
 11
KẾT LUẬN 
Dựa trên nghiên cứu 67 bệnh nhân hở van động 
mạch chủ được phẫu thuật van ĐMC trong 5 năm từ 
1/2006 đến 12/2010, tại bệnh viện Việt Đức, chúng tôi 
có các kết luận như sau: 
- Bệnh nhân ở tuổi trung niên, tuổi trung bình: 
45,8 ± 12,8, phần lớn trong khoảng 20 đến 60 
(80,6%), nam nhiều hơn nữ (tỷ lệ 73,1%- 26,9). Còn 
4,48% không có biểu hiện triệu chứng cơ năng. Thời 
gian từ lúc xuất hiện triệu chứng lâm sàng đến khi có 
chỉ định phẫu thuật ngắn 3,1 năm. 
- Tại thời điểm trước mổ suy tim mức độ NYHA 
từ II trở lên chiếm 95,52 %, trong đó 13,43% có suy 
tim NYHA IV. 
- Siêu âm tim: Tình trạng thương tổn tại lá van là chủ 
yếu 92,34%. Thương tổn ở vòng van 7,46%. Mức độ 
hở van có sự liên quan không chặt chẽ với mức độ 
giãn thất trái. 
Chức năng thất trái giảm, TB 53,4±9,7 và 32,84% 
kèm theo hẹp van. Có 7,46% có thương tổn hẹp động 
mạch vành kèm theo. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Phú Kháng (1996), “Hở lỗ van động 
mạch chủ”, Lâm sàng tim mạch, Nhà xuất bản y 
học: 344- 353 
2. Nguyễn Thái Minh (2010), “Nghiên cứu kết quả 
phẫu thuật thay van động mạch chủ đơn thuần tại 
bệnh viện Việt Đức từ 2006 đến 2010”, Luận văn 
tốt nghiệp bác sỹ nội trú- Đại học y Hà Nội. 
3. Turri M, Thiene G, bortolotti U, Milano A, 
Mazzucco A, Gallcci V (1990), “Surgical 
pathologyof aortic valve disease”, Eur J cardio-
thorac surgery 4: 556- 560 
4. Roberts WC, Ko JM, Moore RT, Jones WH 
(2006), “Causes of Pure Aortic Regurgitation in 
Patients Having Isolated Aortic Valve 
Replacement at a Single US Tertiary Hospital 
(1993 to 2005)”, Circulation, July 114:422-429 
5. Elaine ET, Chieh AL, Duke EC (1997), "Aortic 
valve replacement in the elderly: Risk Factors and 
Long-Term Results", Annals of surgery, 225(6): 
793-804 
6. William CR, Jong Mi Ko, Timothy RM, 
William HJ (2006), “Causes of Pure Aortic 
Regurgitation in Patients Having Isolated Aortic 
Valve Replacement at a Single US Tertiary 
Hospital (1993 to 2005”, Circulation, July 24, 
114:422-429 
7. Sionis A et al. 2010. “Severe aortic regurgitation 
and reduced left ventricular ejection fraction: 
outcomes after isolated aortic valve replacement 
and combined surgery”; J Heart Lung Transplant. 
2010 Apr; 29(4):445-8 
8. Vibhuti N Singh, MD; Eugene C Lin, MD 
(2008), “Aortic Regurgitation Imaging”, 
Medscape Updated: Sep 10, 2008. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_lam_sang_va_sieu_am_truoc_mo_tren_benh_n.pdf