Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân viêm kết mạc cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa

Đặt vấn đề/ Mục tiêu: Viêm kết mạc cấp chiếm 2-3% tổng số ca bệnh, được định nghĩa là

viêm kết mạc dưới 3-4 tuần, phần lớn số ca viêm kết mạc cấp do nhiễm khuẩn. Nghiên cứu

này nhận xét đặc điểm lâm sàng của bệnh viêm kết mạc cấp ở trẻ em và tìm hiểu một số

nguyên nhân gây bệnh viêm kết mạc cấp.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 238 trẻ ≤ 6 tuổi bị viêm kết mạc cấp và

được làm xét nghiệm vi sinh vật tiết tố kết mạc điều trị tại khoa Mắt, Bệnh viện Nhi Thanh

Hóa từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2016.

Kết quả: Đặc điểm lâm sàng: Bệnh cả 2 mắt 77,31%. 59,24% số bệnh nhân đến khám sau

viêm kết mạc từ 3-7 ngày và 31,94% sau 7 ngày. 100% có biểu hiện đỏ mắt và dử mắt,

91,71 % sưng nề mi, 92,18% có giả mạc. 75,63% bệnh ở mức độ nặng. Nguyên

nhân:68,49% có vi khuẩn, trong đó 35,29% Gram (+), 32,2 Gram (-), 30,67% nuôi cấy

phân lập được vi khuẩn, 65,55% xét nghiệm PCR adenovirus dương tính, 21,85% bệnh

nhân vừa nuôi cấy có vi khuẩn vừa PCR adenovirus dương tính.

Kết luận: Hầu hết trẻ mắc viêm kết mạc cấp có biểu hiện đỏ mắt và dử mắt, sưng nề mi,

có giả mạc và nguyên nhân chủ yếu do vi khuẩn.

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân viêm kết mạc cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân viêm kết mạc cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân viêm kết mạc cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 
44 
Research Paper 
Clinical Characteristics and Etiologies 
of Acute Conjunctivitis in Children Under 6 Years 
at Thanh Hoa Hospital of Pediatric 
Hoang Hoa Quynh* 
Thanh Hoa Hospital of Pediatric, Quang Trung 3, Dong Ve, Thanh Hoa, Vietnam 
Received 19 December 2019 
Revised 18 March 2020; Accepted 20 April 2020 
Abstract 
Backgrounds/Purpose: Acute conjunctivitis accounted 2-3% of total cases, and is defined 
as conjunctivitis with symptoms of less than 3-4 weeks duration, the majority of cases are 
caused by infections. This study is to describe clinical characteristics of acute 
conjunctivitis in children and study some causes of acute conjunctivitis. 
Methods: Descriptive cross-sectional study of identify etiologies 238 children ≤ 6 years 
of age with acute conjunctivitis and tested hormonal conjunctiva microbiology for 
treatment in Ophthalmology Department of Thanh Hoa Hospital of Pediatrics from 
January to July 2016. 
Results:Clinical characteristics of 77,31% had infection in both eyes, 59.24% examed 
after conjunctivitis 3-7 days and 31.94% after 7 presented days; 100% redness and sticky 
rheum; 91.71% had swollen eyelashes, 92.18% had pseudomembrane. 75.63% of the cases 
were severe. Causes of acute conjunctivitis: 68.49% bacteria, of which 35.29% Gram (+) 
and 32.2% Gram (-); 30.67% sample were isolated with bacteria. 65.55% positive PCR 
tests for adenovirus, 21.85% bacterial infection and positive PCR test for adenovirus. 
Conclusion: Most children with acute conjunctivitis have eye redness and sticky rheum, 
swollen eyelashes and pseudomembrane and majority of cases are caused by bacteria. 
Keywords: Acute conjunctivitis. 
*
_______ 
*
 Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.221 
H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 
45 
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân 
viêm kết mạc cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi 
tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa 
Hoàng Hoa Quỳnh* 
 n n n Quang Trung 3 - P ường Đông V - P n V t m 
Nhận ngày 19 tháng 12 năm 2019 
Chỉnh sửa ngày 18 tháng 3 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 4 năm 2020 
Tóm tắt 
Đặt vấn đề/ Mục tiêu: Viêm kết mạc cấp chiếm 2-3% tổng số ca bệnh, được định nghĩa là 
viêm kết mạc dưới 3-4 tuần, phần lớn số ca viêm kết mạc cấp do nhiễm khuẩn. Nghiên cứu 
này nhận xét đặc điểm lâm sàng của bệnh viêm kết mạc cấp ở trẻ em và tìm hiểu một số 
nguyên nhân gây bệnh viêm kết mạc cấp. 
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 238 trẻ ≤ 6 tuổi bị viêm kết mạc cấp và 
được làm xét nghiệm vi sinh vật tiết tố kết mạc điều trị tại khoa Mắt, Bệnh viện Nhi Thanh 
Hóa từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2016. 
Kết quả: Đặc điểm lâm sàng: Bệnh cả 2 mắt 77,31%. 59,24% số bệnh nhân đến khám sau 
viêm kết mạc từ 3-7 ngày và 31,94% sau 7 ngày. 100% có biểu hiện đỏ mắt và dử mắt, 
91,71 % sưng nề mi, 92,18% có giả mạc. 75,63% bệnh ở mức độ nặng. Nguyên 
nhân:68,49% có vi khuẩn, trong đó 35,29% Gram (+), 32,2 Gram (-), 30,67% nuôi cấy 
phân lập được vi khuẩn, 65,55% xét nghiệm PCR adenovirus dương tính, 21,85% bệnh 
nhân vừa nuôi cấy có vi khuẩn vừa PCR adenovirus dương tính. 
Kết luận: Hầu hết trẻ mắc viêm kết mạc cấp có biểu hiện đỏ mắt và dử mắt, sưng nề mi, 
có giả mạc và nguyên nhân chủ yếu do vi khuẩn. 
 ừ k : Viêm kết mạc cấp. 
1. Đặt vấn đề* 
Viêm kết mạc là một trong những bệnh 
lý thường gặp nhất của bề mặt nhãn cầu, 
chiếm 70% các trường hợp tới khám mắt 
[1]. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt 
ở nhóm trẻ sơ sinh, trẻ mới biết đi và trẻ em 
trong độ tuổi mẫu giáo. 
Bệnh cảnh lâm sàng thường gặp ở hai 
mắt, dễ lây lan, diễn biến cấp tính với nhiều 
_______ 
*
 Tác giả liên hệ. 
 Đị c ỉ em l: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.221 
mức độ. Biểu hiện thường gặp là cộm, đỏ, 
xuất tiết, sưng nề mi, có thể có giả mạc và 
trong một số trường hợp có biến chứng rất 
nặng liên quan đến giác mạc. 
Ở trẻ em, viêm kết mạc do vi khuẩn 
chiếm 78% trong đó Haemophilus 
influenzae 82%, Steptococcuspneumoniae 
16%, Staphylococcus aureus 2% [2]. Viêm 
kết mạc do vi rút thường ít gặp hơn. Theo 
nghiên cứu của Gigliotti (1981) tác nhân do 
vi rút là 20% [3]. Bệnh thường phát triển 
thành dịch với các triệu chứng chủ yếu đỏ 
mắt, chảy nước mắt gặp nhiều hơn là tiết 
tố nhày. 
H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 
46 
Việc điều trị viêm kết mạc sẽ rất đơn 
giản nếu được phát hiện và điều trị sớm. 
Tuy nhiên, viêm kết mạc có thể để lại nhiều 
biến chứng khi bệnh ở thể nặng hoặc điều 
trị không đúng cách. Trên thế giới và Việt 
Nam cũng đã có một số nghiên cứu về viêm 
kết mạc trẻ em nhưng tại Thanh Hóa chưa 
có nghiên cứu nào về vấn đề này, nghiên 
cứu này nhằm hai mục tiêu : 
- Nhận xét đặc đ ểm lâm sàng của viêm 
kết mạc cấp ở trẻ em. 
- Tìm hiểu một số nguyên nhân gây b nh 
viêm kết mạc. 
2. Đối tượng và phương pháp 
2.1. Đốitượng nghiêncứu:238 bệnh nhân 
≤ 6 tuổi được chẩn đoán lâm sàng là viêm 
kết mạc cấp và xét nghiệm vi sinh vật tiết tố 
kết mạc 
2.2. Địa điểm nghiên cứu: Khoa Mắt, 
Bệnh viện Nhi Thanh Hoá 
2.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 
01đến tháng 07 năm 2016. 
2.4. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên 
cứu mô tả cắt ngang 
2.5. Tiêu chuẩn nghiên cứu 
Bệnh nhân được khai thác bệnh sử, 
khám bệnh, phân loại mức độ lâm sàng theo 
3 mức độ [4]: 
+ Nhẹ: tiết tố lượng nhỏ mủ nhầy cùng 
đồ dưới, không dính mi khi mở mắt. Kết 
mạc nhãn cầu cương tụ tỏa lan mức độ nhẹ, 
không xuất huyết dưới kết mạc. 
+ Vừa: tiết tố lượng trung bình mủ nhầy 
cùng đồ dưới, dính mi khi mở mắt. Kết mạc 
nhãn cầu cương tụ rõ có thể nhìn thấy từ xa, 
có thể xuất huyết dưới kết mạc dạng đốm 
rải rác. Kết mạc mi phản ứng hột/ nhú tỏa 
lan, cương tụ rõ, nhú mi trên che mờ các chi 
tiết phía dưới. 
+ Nặng: tiết tố lượng lớn mủ nhầy ở 
cùng đồ dưới, dính chặt mi khi mở. Mắt đỏ 
rực, có thể xuất huyết dưới kết mạc. Kết 
mạc mi phản ứng viêm, biểu hiện hoại tử 
biểu mô, nhú mi trên làm xóa bỏ các chi tiết 
phía dưới 
2.6. Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu 
được xử lý bằng phần mềm SPSS. 
3. Kết quả nghiên cứu 
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân 
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ % 
Giới 
Nam 152 63,87 
Nữ 86 36,13 
Tuổi 
19 -72 tháng 152 63,87 
>72 tháng 86 36,13 
Từng 
viêm 
kết 
mạc 
Từng viêm 71 29,83 
Chưng từng 167 70,17 
Tiếp 
xúc 
nguồn 
lây 
Từng tiếp xúc 154 64,71 
Chưa từng 84 35,29 
BN từ 
khi có 
biểu 
hiện 
đến 
khi 
khám 
<3 ngày 21 8,82 
3-7 ngày 141 59,24 
>7 ngày 76 31,94 
Mắt 
bị 
viêm 
2 mắt 184 77,31 
1 mắt 54 22,69 
Tổng 238 100 
Tỷ lệ mắc viêm kết mạc cao nhất gặp ở 
nhóm 19 tháng đến ≤ 72 tháng chiếm 63,87%, 
nhỏ nhất là 8 ngày tuổi và cao nhất là 71 tháng. 
Tỷ lệ nam là 63,87%, nữ 36,13%. 
Tỷ lệ từng viêm kết mạc là 29,83%, có 
tiếp xúc nguồn lây 64,71%, từ khi có biểu 
hiện đến khi đến khám trên 7 ngày chiếm 
31,94%, tỷ lệ viêm 2 mắt 77,31%. 
H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 
47 
Bảng 2.Triệu chứng cơ năng 
Triệu chứng Số mắt (n=422) Tỷ lệ (%) 
Mắt đỏ 422 100 
Dử mắt 422 100 
Dính mi vào buổi sáng 286 67,77 
Cảm giác cộm rát mắt 96 22,75 
Ngứa mắt 87 20,62 
Chảy nước mắt 302 71,56 
Triệu chứng cơ năng cao nhất là mắt đỏ, dử mắt chiếm 100% số mắt bị, thấp nhất là ngứa 
mắt 20,62%. 
Bảng 3. Dấu hiệu thực thể 
Triệu chứng Số mắt (422) Tỷ lệ (%) 
Tiết tố mủ 298 70,62 
Tiết tố nhầy 124 29,38 
Sưng nề mi, tím mi 367 91,71 
Cương tụ kết mạc 422 100 
Xuất huyết dưới kết 
mạc 
134 54,92 
Phù kết mạc 158 37,44 
Giả mạc 389 92,18 
Dấu hiệu thực thể cao nhất là cương tụ kết mạc 100% số mắt, thấp nhất là dấu hiệu tiết tố 
nhầy với 29,38%. 
Biểu đồ 1. Mức độ lâm sàng. 
H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 
48 
Mức độ lâm sàng: Có 53 trường hợp bệnh ở mức độ vừa chiếm tỷ lệ 22.27% và 75.63% 
mức độ nặng. Biến chứng: Viêm, trợt giác mạc là 11.37% 
Nguyên nhân gây bệnh 
Biểu đồ 2. Tác nhân gây bệnh. 
Tác nhân vi khuẩn 68.49,Kết quả xét nghiệm PCR do adenovirus chiếm 65.55%. Có 52 
bệnh nhân (21.85%) vừa nuôi cấy được vi khuẩn vừa xét nghiệm PCR dương tính.
4. Kết quả và bàn luận 
4.1. Đặc đ ểm lâm sàng 
Trong nghiên cứu của chúng tôi trên 238 
bệnh nhân, tỷ lệ mắc viêm kết mạc cao nhất 
gặp ở nhóm 19 tháng đến ≤ 72 tháng chiếm 
63,87%, nhỏ nhất là 8 ngày tuổi và cao nhất 
là 71 tháng. Tỷ lệ nam là 63,87%, nữ 
36,13%. Tỷ lệ này phù hợp với các nghiên 
cứu trong và ngoài nước. 
Tỷ lệ trẻ đã từng bị bệnh viêm kết mạc 
(29.83%) thấp hơn trẻ bị bệnh lần đầu 
(70.17%). Điều này cũng phù hợp với y văn 
Trong 238 bệnh nhân của chúng tôi, 154 
bệnh nhân có tiếp xúc với nguồn lây nhiễm 
(64.71%) và 84 bệnh nhân không có sự tiếp 
xúc với nguồn lây nhiễm (35.29%). Kết quả 
này là phù hợp với kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi về nguyên nhân gây bệnh là do 
Adenovirus, nguồn lây là do tiếp xúc trực 
tiếp hoặc gián tiếp với bệnh nhân bị viêm 
kết mạc. 
Thời gian mắc bệnh được tính từ khi trẻ 
có triệu chứng đầu tiên (đỏ, dử mắt) đến khi 
được khám. Trong nghiên cứu có 59.24% 
số bệnh nhân đến khám sau viêm kết mạc từ 
3 - 7 ngày, thậm chí 31.94% sau 7 ngày. 
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành 
Trung 51,3% bệnh nhân đến khám muộn 
sau 5 ngày. Như vậy, thời gian đến khám 
bệnh viêm kết mạc thường muộn do trẻ nhỏ 
nên triệu chứng đầu tiên dễ bị bỏ sót, đến 
khi bệnh diễn biến nặng gia đình mới đưa 
trẻ tới cơ sở y tế để khám. 
Tỷ lệ viêm kết mạc cấp ở cả hai mắt là 
77.31% (184 BN), cao hơn mắc bệnh chỉ ở 
một mắt 22.69% (54 BN). Kết quả này 
tương đương với nghiên cứu của tác giả 
H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 
49 
Patel, viêm kết mạc trẻ em tỷ lệ hai mắt 
chiếm 70% [2], Nguyễn Thành Trung 
(81,3%) [5], và Lê Văn Ba (64%) [6]. 
Viêm kết mạc cấp là bệnh dễ lây, ở trẻ 
em do chưa có ý thức vệ sinh, hay dụi mắt, 
nên khi một mắt đã bị viêm thì dễ dàng lây 
sang mắt bên kia. Chính vì vậy bệnh nhân 
bị bệnh ở cả hai mắt có tỷ lệ cao hơn là 
bệnh ở một mắt. 
Triệu chứng cơ năng: 
Triệu chứng đỏ mắt và dử mắt chiếm 
100% các trường hợp viêm kết mạc cấp. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp 
với tác giả Patel 99% và 85% và Lê Văn 
Ba.Dấu hiệu dính mi vào buổi sáng khi ngủ 
dậy chiếm tỷ lệ 67.77%, tương đồng với 
Patel (68%). Triệu chứng chảy nước mắt 
chiếm tỷ lệ 71.56%, cao hơn so với nghiên 
cứu của Patel (11%), thấp hơn Nguyễn Thành 
Trung (96%). Sự khác biệt này có thể do khác 
nhau về mức độ bệnh, đối tượng nghiên cứu, 
tác nhân gây bệnh. Cảm giác cộm rát mắt và 
ngứa mắt chiếm tỷ lệ lần lượt là 22.75% và 
20.62%. Theo Lê Văn Ba tỷ lệ này là 23,5% 
và 13%. Theo Patel tỷ lệ này là 6% và 63%. 
Điều này có thể do trong nghiên cứu của 
chúng tôi các đối tượng ít tuổi nên chưa khai 
thác hết được các triệu chứng trên. 
Dấu hiệu thực thể: 
Trong nghiên cứu của chúng tôi dấu 
hiệu thực thể rất điển hình như cương tụ kết 
mạc xuất hiện ở 100% ở tất cả các bệnh 
nhân và đây là triệu chứng được phát hiện 
sớm nhất và được coi là mắt đỏ. Tiết tố 
dạng mủ chiếm hầu hết các trường hợp 
viêm kết mạc cấp (70.62%), mủ thường 
màu vàng, tập trung chủ yếu ở cùng đồ mi 
dưới và tái tạo sau khi lau sạch. Kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết 
quả nghiên cứu của Gigliotti (80%), Patel 
(85%). Dấu hiệu sưng nề mi, giả mạc lần 
lượt chiếm tỷ lệ là 91.71% và 92.18%. Điều 
này là phù hợp vì trong trường hợp trẻ bị 
viêm kết mạc có giả mạc thì dấu hiệu sưng 
nề và tím mi luôn có. Phù kết mạc chiếm 
37.44% (158 BN), triệu chứng này hay gặp 
ở những trẻ bị VKM nặng, trong những 
ngày đầu và thường kèm theo có giả mạc. 
Biến chứng: Viêm, trợt giác mạc là 
11.37% (, vị trí trợt thường ở trung tâm 
hoặc phía dưới, nhuộm fluorescein (+). Khi 
có bệnh nhân có viêm, trợt giác mạc thường 
có biểu hiện co quắp mi, chói, chảy nước 
mắt nhiều. Viêm, trợt giác mạc thường xảy 
ra ở những bệnh nhân viêm kết mạc kéo 
dài, có thể kèm theo có giả mạc. Tuy nhiên 
viêm, trợt giác mạc hồi phục nhanh sau điều 
trị vài ngày. 
Mức độ lâm sàng: Có 53 trường hợp 
bệnh ở mức độ vừa chiếm tỷ lệ 22.27% và 
75.63% mức độ nặng, tỷ lệ này của Lê Văn 
Ba là 57.3% và 6.7%. Sự khác biệt này có 
thể là do đối tượng nghiên cứu của chúng 
tôi là những bệnh nhân điều trị nội trú. Còn 
trong nghiên cứu của Lê Văn Ba là các bệnh 
nhân đến khám tại khoa khám bệnh và bệnh 
nhân điều trị ngoại trú. 
4.2. Nguyên n ân gây b n 
Kết quả soi nhuộm bệnh phẩm: Tác 
nhân gây bệnh chính là vi khuẩn chiếm 
68.49%. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp 
kết quả nghiên cứu của Patel (78%), 
Nguyễn Thành Trung (82,4%). 
Đặc điểm về kết quả nuôi cấy: Trong 
nghiên cứu của chúng tôi kết quả nuôi cấy 
đạt tỷ lệ (30.67%), tỷ lệ này cao hơn 
Nguyễn Thành Trung (20,9%) và Lê Văn 
Ba (16,54%). Tuy nhiên, kết quả của chúng 
tôi có sự khác biệt so với một số nghiên cứu 
trước đây. 
Đặc điểm xét nghiệm PCR:Kết quả xét 
nghiệm PCR là chính xác nhất chẩn đoán 
nguyên nhân gây bệnh là do virus. Viêm kết 
mạc ở trẻ em nguyên nhân do adenovirus 
chiếm 65.55%, kết quả này cao hơn so với 
các nghiên cứu của các tác giả khác.Trong 
nghiên cứu của chúng tôi có 52 bệnh nhân 
H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 
50 
(21.85%) vừa nuôi cấy được vi khuẩn vừa 
xét nghiệm PCR dương tính. Viêm kết mạc 
ở trẻ em không đơn độc là do virus hay do 
vi khuẩn. 
Bảng 4. Đặc điểm vi sinh vật gây bệnh 
 Tác giả 
Tên VK 
Patel 
L.V.Ba 
H.H.Quỳnh 
H.Influenzae 82% 0% 13.72% 
S.aureus 2% 28% 8.22% 
S.Pneumoniae 16% 12% 16.44% 
S.mitis 0% 0% 16.44% 
K.pneumoniae 0% 0% 41.1% 
r
5 . Kết luận 
Đặc điểm lâm bệnh viêm kết mạc cấp ở 
trẻ em: Đỏ và dử mắt gặp trong tất cả các 
trường hợp, sưng nề mi, tím mi 91.71%, giả 
mạc chiếm 92.18%, biến chứng: 11.37% có 
tổn thương giác mạc. 
Nguyên nhân gây bệnh viêm kết mạc 
cấp ở trẻ em: Tác nhân gây bệnh do vi 
khuẩn chiếm 68.49%, nuôi cấy có 30.67% 
có vi khuẩn, trong đó chủ yếu là Klebsiella 
pneumoniae chiếm 41.1%, định lượng 
Adenovirus bằng phương pháp PCR dương 
tính 65.55%, 21.85% bệnh nhân vừa nuôi 
cấy có vi khuẩn vừa PCR dương tính. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Military Medical University. Ophthalmology. 
People's Army Publishing House; 2007:103-
105. (in Vietnamese). 
[2] Patel PB, Diaz MC, Mennett JE et al. Clinical 
features of bacteris conjunctivitis in children. 
Academic emergency Medicine 
2007;14(1):1-5. https://doi.org/10.1197/j.aem 
.2006.08.006 
[3] Gigliotti F, Williams WT, Hayden FG et al. 
Etiology of acute conjunctivitis in children. 
J Pediatr1981;98(4):531-536. https://doi. 
org/10.1016/S0022-3476(81)80754-8 
[4] Vietnam Ophthalmological Society. Path-
ology of the eyelids, conjunctiva and cornea. 
Translator Nguyen Duc Anh. Documents 
translated from textbooks of basic science 
and clinical science, volume 8. Medical 
Publishing House; 1995, p. 67-70. (in 
Vietnamese). 
[5] Trung NT. Study clinical features, causes and 
treatment outcomes for acute conjunctivitis. 
Graduate thesis of Specialist Level II, Hanoi 
Medical University; 2009, p. 1-68. (in Viet-
namese). 
[6] Ba LV. Evaluation of clinical features of 
acute conjunctivitis in children under 6 years 
of age. Graduation Thesis of Master of 
Medicine, Hanoi Medical University; 2014, 
p. 1-70. (in Vietnamese). 
U 
o 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_lam_sang_va_nguyen_nhan_viem_ket_mac_cap.pdf