Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân viêm kết mạc cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa
Đặt vấn đề/ Mục tiêu: Viêm kết mạc cấp chiếm 2-3% tổng số ca bệnh, được định nghĩa là
viêm kết mạc dưới 3-4 tuần, phần lớn số ca viêm kết mạc cấp do nhiễm khuẩn. Nghiên cứu
này nhận xét đặc điểm lâm sàng của bệnh viêm kết mạc cấp ở trẻ em và tìm hiểu một số
nguyên nhân gây bệnh viêm kết mạc cấp.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 238 trẻ ≤ 6 tuổi bị viêm kết mạc cấp và
được làm xét nghiệm vi sinh vật tiết tố kết mạc điều trị tại khoa Mắt, Bệnh viện Nhi Thanh
Hóa từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2016.
Kết quả: Đặc điểm lâm sàng: Bệnh cả 2 mắt 77,31%. 59,24% số bệnh nhân đến khám sau
viêm kết mạc từ 3-7 ngày và 31,94% sau 7 ngày. 100% có biểu hiện đỏ mắt và dử mắt,
91,71 % sưng nề mi, 92,18% có giả mạc. 75,63% bệnh ở mức độ nặng. Nguyên
nhân:68,49% có vi khuẩn, trong đó 35,29% Gram (+), 32,2 Gram (-), 30,67% nuôi cấy
phân lập được vi khuẩn, 65,55% xét nghiệm PCR adenovirus dương tính, 21,85% bệnh
nhân vừa nuôi cấy có vi khuẩn vừa PCR adenovirus dương tính.
Kết luận: Hầu hết trẻ mắc viêm kết mạc cấp có biểu hiện đỏ mắt và dử mắt, sưng nề mi,
có giả mạc và nguyên nhân chủ yếu do vi khuẩn.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân viêm kết mạc cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa
Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 44 Research Paper Clinical Characteristics and Etiologies of Acute Conjunctivitis in Children Under 6 Years at Thanh Hoa Hospital of Pediatric Hoang Hoa Quynh* Thanh Hoa Hospital of Pediatric, Quang Trung 3, Dong Ve, Thanh Hoa, Vietnam Received 19 December 2019 Revised 18 March 2020; Accepted 20 April 2020 Abstract Backgrounds/Purpose: Acute conjunctivitis accounted 2-3% of total cases, and is defined as conjunctivitis with symptoms of less than 3-4 weeks duration, the majority of cases are caused by infections. This study is to describe clinical characteristics of acute conjunctivitis in children and study some causes of acute conjunctivitis. Methods: Descriptive cross-sectional study of identify etiologies 238 children ≤ 6 years of age with acute conjunctivitis and tested hormonal conjunctiva microbiology for treatment in Ophthalmology Department of Thanh Hoa Hospital of Pediatrics from January to July 2016. Results:Clinical characteristics of 77,31% had infection in both eyes, 59.24% examed after conjunctivitis 3-7 days and 31.94% after 7 presented days; 100% redness and sticky rheum; 91.71% had swollen eyelashes, 92.18% had pseudomembrane. 75.63% of the cases were severe. Causes of acute conjunctivitis: 68.49% bacteria, of which 35.29% Gram (+) and 32.2% Gram (-); 30.67% sample were isolated with bacteria. 65.55% positive PCR tests for adenovirus, 21.85% bacterial infection and positive PCR test for adenovirus. Conclusion: Most children with acute conjunctivitis have eye redness and sticky rheum, swollen eyelashes and pseudomembrane and majority of cases are caused by bacteria. Keywords: Acute conjunctivitis. * _______ * Corresponding author. E-mail address: [email protected] https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.221 H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 45 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân viêm kết mạc cấp ở trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa Hoàng Hoa Quỳnh* n n n Quang Trung 3 - P ường Đông V - P n V t m Nhận ngày 19 tháng 12 năm 2019 Chỉnh sửa ngày 18 tháng 3 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 4 năm 2020 Tóm tắt Đặt vấn đề/ Mục tiêu: Viêm kết mạc cấp chiếm 2-3% tổng số ca bệnh, được định nghĩa là viêm kết mạc dưới 3-4 tuần, phần lớn số ca viêm kết mạc cấp do nhiễm khuẩn. Nghiên cứu này nhận xét đặc điểm lâm sàng của bệnh viêm kết mạc cấp ở trẻ em và tìm hiểu một số nguyên nhân gây bệnh viêm kết mạc cấp. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 238 trẻ ≤ 6 tuổi bị viêm kết mạc cấp và được làm xét nghiệm vi sinh vật tiết tố kết mạc điều trị tại khoa Mắt, Bệnh viện Nhi Thanh Hóa từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2016. Kết quả: Đặc điểm lâm sàng: Bệnh cả 2 mắt 77,31%. 59,24% số bệnh nhân đến khám sau viêm kết mạc từ 3-7 ngày và 31,94% sau 7 ngày. 100% có biểu hiện đỏ mắt và dử mắt, 91,71 % sưng nề mi, 92,18% có giả mạc. 75,63% bệnh ở mức độ nặng. Nguyên nhân:68,49% có vi khuẩn, trong đó 35,29% Gram (+), 32,2 Gram (-), 30,67% nuôi cấy phân lập được vi khuẩn, 65,55% xét nghiệm PCR adenovirus dương tính, 21,85% bệnh nhân vừa nuôi cấy có vi khuẩn vừa PCR adenovirus dương tính. Kết luận: Hầu hết trẻ mắc viêm kết mạc cấp có biểu hiện đỏ mắt và dử mắt, sưng nề mi, có giả mạc và nguyên nhân chủ yếu do vi khuẩn. ừ k : Viêm kết mạc cấp. 1. Đặt vấn đề* Viêm kết mạc là một trong những bệnh lý thường gặp nhất của bề mặt nhãn cầu, chiếm 70% các trường hợp tới khám mắt [1]. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt ở nhóm trẻ sơ sinh, trẻ mới biết đi và trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo. Bệnh cảnh lâm sàng thường gặp ở hai mắt, dễ lây lan, diễn biến cấp tính với nhiều _______ * Tác giả liên hệ. Đị c ỉ em l: [email protected] https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.221 mức độ. Biểu hiện thường gặp là cộm, đỏ, xuất tiết, sưng nề mi, có thể có giả mạc và trong một số trường hợp có biến chứng rất nặng liên quan đến giác mạc. Ở trẻ em, viêm kết mạc do vi khuẩn chiếm 78% trong đó Haemophilus influenzae 82%, Steptococcuspneumoniae 16%, Staphylococcus aureus 2% [2]. Viêm kết mạc do vi rút thường ít gặp hơn. Theo nghiên cứu của Gigliotti (1981) tác nhân do vi rút là 20% [3]. Bệnh thường phát triển thành dịch với các triệu chứng chủ yếu đỏ mắt, chảy nước mắt gặp nhiều hơn là tiết tố nhày. H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 46 Việc điều trị viêm kết mạc sẽ rất đơn giản nếu được phát hiện và điều trị sớm. Tuy nhiên, viêm kết mạc có thể để lại nhiều biến chứng khi bệnh ở thể nặng hoặc điều trị không đúng cách. Trên thế giới và Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về viêm kết mạc trẻ em nhưng tại Thanh Hóa chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này, nghiên cứu này nhằm hai mục tiêu : - Nhận xét đặc đ ểm lâm sàng của viêm kết mạc cấp ở trẻ em. - Tìm hiểu một số nguyên nhân gây b nh viêm kết mạc. 2. Đối tượng và phương pháp 2.1. Đốitượng nghiêncứu:238 bệnh nhân ≤ 6 tuổi được chẩn đoán lâm sàng là viêm kết mạc cấp và xét nghiệm vi sinh vật tiết tố kết mạc 2.2. Địa điểm nghiên cứu: Khoa Mắt, Bệnh viện Nhi Thanh Hoá 2.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01đến tháng 07 năm 2016. 2.4. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang 2.5. Tiêu chuẩn nghiên cứu Bệnh nhân được khai thác bệnh sử, khám bệnh, phân loại mức độ lâm sàng theo 3 mức độ [4]: + Nhẹ: tiết tố lượng nhỏ mủ nhầy cùng đồ dưới, không dính mi khi mở mắt. Kết mạc nhãn cầu cương tụ tỏa lan mức độ nhẹ, không xuất huyết dưới kết mạc. + Vừa: tiết tố lượng trung bình mủ nhầy cùng đồ dưới, dính mi khi mở mắt. Kết mạc nhãn cầu cương tụ rõ có thể nhìn thấy từ xa, có thể xuất huyết dưới kết mạc dạng đốm rải rác. Kết mạc mi phản ứng hột/ nhú tỏa lan, cương tụ rõ, nhú mi trên che mờ các chi tiết phía dưới. + Nặng: tiết tố lượng lớn mủ nhầy ở cùng đồ dưới, dính chặt mi khi mở. Mắt đỏ rực, có thể xuất huyết dưới kết mạc. Kết mạc mi phản ứng viêm, biểu hiện hoại tử biểu mô, nhú mi trên làm xóa bỏ các chi tiết phía dưới 2.6. Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS. 3. Kết quả nghiên cứu Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ % Giới Nam 152 63,87 Nữ 86 36,13 Tuổi 19 -72 tháng 152 63,87 >72 tháng 86 36,13 Từng viêm kết mạc Từng viêm 71 29,83 Chưng từng 167 70,17 Tiếp xúc nguồn lây Từng tiếp xúc 154 64,71 Chưa từng 84 35,29 BN từ khi có biểu hiện đến khi khám <3 ngày 21 8,82 3-7 ngày 141 59,24 >7 ngày 76 31,94 Mắt bị viêm 2 mắt 184 77,31 1 mắt 54 22,69 Tổng 238 100 Tỷ lệ mắc viêm kết mạc cao nhất gặp ở nhóm 19 tháng đến ≤ 72 tháng chiếm 63,87%, nhỏ nhất là 8 ngày tuổi và cao nhất là 71 tháng. Tỷ lệ nam là 63,87%, nữ 36,13%. Tỷ lệ từng viêm kết mạc là 29,83%, có tiếp xúc nguồn lây 64,71%, từ khi có biểu hiện đến khi đến khám trên 7 ngày chiếm 31,94%, tỷ lệ viêm 2 mắt 77,31%. H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 47 Bảng 2.Triệu chứng cơ năng Triệu chứng Số mắt (n=422) Tỷ lệ (%) Mắt đỏ 422 100 Dử mắt 422 100 Dính mi vào buổi sáng 286 67,77 Cảm giác cộm rát mắt 96 22,75 Ngứa mắt 87 20,62 Chảy nước mắt 302 71,56 Triệu chứng cơ năng cao nhất là mắt đỏ, dử mắt chiếm 100% số mắt bị, thấp nhất là ngứa mắt 20,62%. Bảng 3. Dấu hiệu thực thể Triệu chứng Số mắt (422) Tỷ lệ (%) Tiết tố mủ 298 70,62 Tiết tố nhầy 124 29,38 Sưng nề mi, tím mi 367 91,71 Cương tụ kết mạc 422 100 Xuất huyết dưới kết mạc 134 54,92 Phù kết mạc 158 37,44 Giả mạc 389 92,18 Dấu hiệu thực thể cao nhất là cương tụ kết mạc 100% số mắt, thấp nhất là dấu hiệu tiết tố nhầy với 29,38%. Biểu đồ 1. Mức độ lâm sàng. H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 48 Mức độ lâm sàng: Có 53 trường hợp bệnh ở mức độ vừa chiếm tỷ lệ 22.27% và 75.63% mức độ nặng. Biến chứng: Viêm, trợt giác mạc là 11.37% Nguyên nhân gây bệnh Biểu đồ 2. Tác nhân gây bệnh. Tác nhân vi khuẩn 68.49,Kết quả xét nghiệm PCR do adenovirus chiếm 65.55%. Có 52 bệnh nhân (21.85%) vừa nuôi cấy được vi khuẩn vừa xét nghiệm PCR dương tính. 4. Kết quả và bàn luận 4.1. Đặc đ ểm lâm sàng Trong nghiên cứu của chúng tôi trên 238 bệnh nhân, tỷ lệ mắc viêm kết mạc cao nhất gặp ở nhóm 19 tháng đến ≤ 72 tháng chiếm 63,87%, nhỏ nhất là 8 ngày tuổi và cao nhất là 71 tháng. Tỷ lệ nam là 63,87%, nữ 36,13%. Tỷ lệ này phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước. Tỷ lệ trẻ đã từng bị bệnh viêm kết mạc (29.83%) thấp hơn trẻ bị bệnh lần đầu (70.17%). Điều này cũng phù hợp với y văn Trong 238 bệnh nhân của chúng tôi, 154 bệnh nhân có tiếp xúc với nguồn lây nhiễm (64.71%) và 84 bệnh nhân không có sự tiếp xúc với nguồn lây nhiễm (35.29%). Kết quả này là phù hợp với kết quả nghiên cứu của chúng tôi về nguyên nhân gây bệnh là do Adenovirus, nguồn lây là do tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với bệnh nhân bị viêm kết mạc. Thời gian mắc bệnh được tính từ khi trẻ có triệu chứng đầu tiên (đỏ, dử mắt) đến khi được khám. Trong nghiên cứu có 59.24% số bệnh nhân đến khám sau viêm kết mạc từ 3 - 7 ngày, thậm chí 31.94% sau 7 ngày. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Trung 51,3% bệnh nhân đến khám muộn sau 5 ngày. Như vậy, thời gian đến khám bệnh viêm kết mạc thường muộn do trẻ nhỏ nên triệu chứng đầu tiên dễ bị bỏ sót, đến khi bệnh diễn biến nặng gia đình mới đưa trẻ tới cơ sở y tế để khám. Tỷ lệ viêm kết mạc cấp ở cả hai mắt là 77.31% (184 BN), cao hơn mắc bệnh chỉ ở một mắt 22.69% (54 BN). Kết quả này tương đương với nghiên cứu của tác giả H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 49 Patel, viêm kết mạc trẻ em tỷ lệ hai mắt chiếm 70% [2], Nguyễn Thành Trung (81,3%) [5], và Lê Văn Ba (64%) [6]. Viêm kết mạc cấp là bệnh dễ lây, ở trẻ em do chưa có ý thức vệ sinh, hay dụi mắt, nên khi một mắt đã bị viêm thì dễ dàng lây sang mắt bên kia. Chính vì vậy bệnh nhân bị bệnh ở cả hai mắt có tỷ lệ cao hơn là bệnh ở một mắt. Triệu chứng cơ năng: Triệu chứng đỏ mắt và dử mắt chiếm 100% các trường hợp viêm kết mạc cấp. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với tác giả Patel 99% và 85% và Lê Văn Ba.Dấu hiệu dính mi vào buổi sáng khi ngủ dậy chiếm tỷ lệ 67.77%, tương đồng với Patel (68%). Triệu chứng chảy nước mắt chiếm tỷ lệ 71.56%, cao hơn so với nghiên cứu của Patel (11%), thấp hơn Nguyễn Thành Trung (96%). Sự khác biệt này có thể do khác nhau về mức độ bệnh, đối tượng nghiên cứu, tác nhân gây bệnh. Cảm giác cộm rát mắt và ngứa mắt chiếm tỷ lệ lần lượt là 22.75% và 20.62%. Theo Lê Văn Ba tỷ lệ này là 23,5% và 13%. Theo Patel tỷ lệ này là 6% và 63%. Điều này có thể do trong nghiên cứu của chúng tôi các đối tượng ít tuổi nên chưa khai thác hết được các triệu chứng trên. Dấu hiệu thực thể: Trong nghiên cứu của chúng tôi dấu hiệu thực thể rất điển hình như cương tụ kết mạc xuất hiện ở 100% ở tất cả các bệnh nhân và đây là triệu chứng được phát hiện sớm nhất và được coi là mắt đỏ. Tiết tố dạng mủ chiếm hầu hết các trường hợp viêm kết mạc cấp (70.62%), mủ thường màu vàng, tập trung chủ yếu ở cùng đồ mi dưới và tái tạo sau khi lau sạch. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Gigliotti (80%), Patel (85%). Dấu hiệu sưng nề mi, giả mạc lần lượt chiếm tỷ lệ là 91.71% và 92.18%. Điều này là phù hợp vì trong trường hợp trẻ bị viêm kết mạc có giả mạc thì dấu hiệu sưng nề và tím mi luôn có. Phù kết mạc chiếm 37.44% (158 BN), triệu chứng này hay gặp ở những trẻ bị VKM nặng, trong những ngày đầu và thường kèm theo có giả mạc. Biến chứng: Viêm, trợt giác mạc là 11.37% (, vị trí trợt thường ở trung tâm hoặc phía dưới, nhuộm fluorescein (+). Khi có bệnh nhân có viêm, trợt giác mạc thường có biểu hiện co quắp mi, chói, chảy nước mắt nhiều. Viêm, trợt giác mạc thường xảy ra ở những bệnh nhân viêm kết mạc kéo dài, có thể kèm theo có giả mạc. Tuy nhiên viêm, trợt giác mạc hồi phục nhanh sau điều trị vài ngày. Mức độ lâm sàng: Có 53 trường hợp bệnh ở mức độ vừa chiếm tỷ lệ 22.27% và 75.63% mức độ nặng, tỷ lệ này của Lê Văn Ba là 57.3% và 6.7%. Sự khác biệt này có thể là do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những bệnh nhân điều trị nội trú. Còn trong nghiên cứu của Lê Văn Ba là các bệnh nhân đến khám tại khoa khám bệnh và bệnh nhân điều trị ngoại trú. 4.2. Nguyên n ân gây b n Kết quả soi nhuộm bệnh phẩm: Tác nhân gây bệnh chính là vi khuẩn chiếm 68.49%. Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp kết quả nghiên cứu của Patel (78%), Nguyễn Thành Trung (82,4%). Đặc điểm về kết quả nuôi cấy: Trong nghiên cứu của chúng tôi kết quả nuôi cấy đạt tỷ lệ (30.67%), tỷ lệ này cao hơn Nguyễn Thành Trung (20,9%) và Lê Văn Ba (16,54%). Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi có sự khác biệt so với một số nghiên cứu trước đây. Đặc điểm xét nghiệm PCR:Kết quả xét nghiệm PCR là chính xác nhất chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh là do virus. Viêm kết mạc ở trẻ em nguyên nhân do adenovirus chiếm 65.55%, kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu của các tác giả khác.Trong nghiên cứu của chúng tôi có 52 bệnh nhân H.H. Quynh / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 44-50 50 (21.85%) vừa nuôi cấy được vi khuẩn vừa xét nghiệm PCR dương tính. Viêm kết mạc ở trẻ em không đơn độc là do virus hay do vi khuẩn. Bảng 4. Đặc điểm vi sinh vật gây bệnh Tác giả Tên VK Patel L.V.Ba H.H.Quỳnh H.Influenzae 82% 0% 13.72% S.aureus 2% 28% 8.22% S.Pneumoniae 16% 12% 16.44% S.mitis 0% 0% 16.44% K.pneumoniae 0% 0% 41.1% r 5 . Kết luận Đặc điểm lâm bệnh viêm kết mạc cấp ở trẻ em: Đỏ và dử mắt gặp trong tất cả các trường hợp, sưng nề mi, tím mi 91.71%, giả mạc chiếm 92.18%, biến chứng: 11.37% có tổn thương giác mạc. Nguyên nhân gây bệnh viêm kết mạc cấp ở trẻ em: Tác nhân gây bệnh do vi khuẩn chiếm 68.49%, nuôi cấy có 30.67% có vi khuẩn, trong đó chủ yếu là Klebsiella pneumoniae chiếm 41.1%, định lượng Adenovirus bằng phương pháp PCR dương tính 65.55%, 21.85% bệnh nhân vừa nuôi cấy có vi khuẩn vừa PCR dương tính. Tài liệu tham khảo [1] Military Medical University. Ophthalmology. People's Army Publishing House; 2007:103- 105. (in Vietnamese). [2] Patel PB, Diaz MC, Mennett JE et al. Clinical features of bacteris conjunctivitis in children. Academic emergency Medicine 2007;14(1):1-5. https://doi.org/10.1197/j.aem .2006.08.006 [3] Gigliotti F, Williams WT, Hayden FG et al. Etiology of acute conjunctivitis in children. J Pediatr1981;98(4):531-536. https://doi. org/10.1016/S0022-3476(81)80754-8 [4] Vietnam Ophthalmological Society. Path- ology of the eyelids, conjunctiva and cornea. Translator Nguyen Duc Anh. Documents translated from textbooks of basic science and clinical science, volume 8. Medical Publishing House; 1995, p. 67-70. (in Vietnamese). [5] Trung NT. Study clinical features, causes and treatment outcomes for acute conjunctivitis. Graduate thesis of Specialist Level II, Hanoi Medical University; 2009, p. 1-68. (in Viet- namese). [6] Ba LV. Evaluation of clinical features of acute conjunctivitis in children under 6 years of age. Graduation Thesis of Master of Medicine, Hanoi Medical University; 2014, p. 1-70. (in Vietnamese). U o
File đính kèm:
nghien_cuu_dac_diem_lam_sang_va_nguyen_nhan_viem_ket_mac_cap.pdf

