Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật phổi biệt lập

36 trường hợp (13 nam, 23 nữ) chẩn đoán phổi

biệt lập sau phẫu thuật. Tuổi trung bình 33,19 ± 13

tuổi, 21 trường hợp có tiền sử điều trị các bệnh hô hấp

khác nhau, triệu chứng lâm sàng chủ yếu đau ngực và

ho, sốt, khó thở, XQ ngực thường quy chủ yếu với 3

dạng tổn thương: dạng u, kén khí, viêm. Chẩn đoán

xác định dựa trên CT-Scanner ngực có dựng hình

mạch máu phát hiện mạch bất thường từ hệ động

mạch chủ cấp máu cho phần phổi tổn thương. Điều trị

phẫu thuật chủ yếu cắt thùy phổi 34/ 36 trường hợp, 1

trường hợp cắt phần phổi chứa phổi biệt lập, 1 trường

hợp cắt phổi biệt lập, thời gian mổ trung bình

195,6±66 phút. Biến chứng sau phẫu thuật 7 trường

hợp đặc biệt có 1 trường hợp rò thực quản. Thời gian

nằm viện sau mổ khi không có biến chứng trung bình

15,84± 8.18 ngày, không có tử vong trong và sau mổ

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật phổi biệt lập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật phổi biệt lập

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật phổi biệt lập
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT PHỔI BIỆT LẬP 
 41 
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG 
VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT PHỔI BIỆT LẬP 
 Đinh Văn Lượng*, Khiếu Mạnh Cường*, Đoàn Quốc Hưng** 
TÓM TẮT 
36 trường hợp (13 nam, 23 nữ) chẩn đoán phổi 
biệt lập sau phẫu thuật. Tuổi trung bình 33,19 ± 13 
tuổi, 21 trường hợp có tiền sử điều trị các bệnh hô hấp 
khác nhau, triệu chứng lâm sàng chủ yếu đau ngực và 
ho, sốt, khó thở, XQ ngực thường quy chủ yếu với 3 
dạng tổn thương: dạng u, kén khí, viêm. Chẩn đoán 
xác định dựa trên CT-Scanner ngực có dựng hình 
mạch máu phát hiện mạch bất thường từ hệ động 
mạch chủ cấp máu cho phần phổi tổn thương. Điều trị 
phẫu thuật chủ yếu cắt thùy phổi 34/ 36 trường hợp, 1 
trường hợp cắt phần phổi chứa phổi biệt lập, 1 trường 
hợp cắt phổi biệt lập, thời gian mổ trung bình 
195,6±66 phút. Biến chứng sau phẫu thuật 7 trường 
hợp đặc biệt có 1 trường hợp rò thực quản. Thời gian 
nằm viện sau mổ khi không có biến chứng trung bình 
15,84± 8.18 ngày, không có tử vong trong và sau mổ. 
SUMMARY 
36 cases were performed an analysis: Sex rate: 
male/female 13/23. Age mean: 33,19 ± 13, min 11, max 
62. Image in CT- Scanner: location of pulmonary 
sequestration: right /lef 13 /23 and all of them were in 
low lobe at both side with image as pulmonary 
emphycematous bullae15 case (41,67%), Homogeneous 
shadow (9 case 25%),pulmonary tumour (6 case 
16,67%), pulmonotis (6 case 16,67%). Blood supply 
were aorta thoracica descendens (22/32 case) and aorta 
abdominalis (8/32case), arterial coeliaca(2/32 case). 
Preoperative diagnosis: Pulmonary sequestration 32/36 
case. Surgical procedure in treatment Pulmonary 
sequestration: 34(94,44%) lobectomy, 1(2,78%) 
Segmental resectin, 1(2,78%) Cystectomy. There was a 
case fistula oesophageal in 7 case postoperative 
complication. Whithout complication, the mean 
postoperative hospital stay 15,84 ± 8,18 days. 
1. ĐĂT VẤN ĐỀ 
Khái niệm về phổi biệt lập: phổi biệt lập là dị tật 
bẩm sinh hiếm gặp ở phổi chiếm 0,15 - 6,4% các dị 
dạng ở phổi. Phần phổi này không thông thương với 
cây phế quản và được cấp máu từ đại tuần hoàn như 
động mạch chủ (ĐMC) ngực, ĐMC bụng, rất hiếm từ 
động mạch phổi. Phổi biệt lập có 2 loại: phổi biệt lập 
trong thùy (>75%) có cùng màng phổi tạng với phần 
phổi còn lại, và phổi biệt lập ngoài thùy (<25%) có 
màng phủ riêng biệt với phần phổi còn lại. Một số 
trường hợp có phối hợp với các dị tật đường tiêu hóa, 
cơ hoành, hệ xương... chẩn đoán dị tật này có thể từ 
rất sớm trước sinh (16-24 tuần thai) và được can thiệp 
sớm sau sinh. Năm 1777, Huber mô tả động mạch hệ 
thống lạc chỗ (aberrant) cấp máu cho phổi đi từ ĐMC 
ngực. Năm 1874 Klebs mô tả sự kết hợp của phổi biệt 
lập với một số dị dạng tiêu hóa. Đến năm 1946, Pryce 
- người đầu tiên mô tả đầy đủ và phân loại PBL trong 
và ngoài thùy. Ông dùng thuật ngữ biệt lập bắt nguồn 
từ tiếng Latin “sequestrare” có nghĩa là “riêng biệt”. Ở 
Việt Nam, phổi biệt lập thường phát hiện chẩn đoán, 
điều trị muộn khi đã có biến chứng. Tại bệnh viện 
Phổi trung ương từ 2009-2014, chúng tôi hồi cứu các 
trường hợp được chẩn phổi biệt lập với 2 mục tiêu: 
1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán 
hình ảnh phổi biệt lập. 
2. Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật bệnh nhân 
phổi biệt lập. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU * 
2.1. Đối tượng 
Đối tượng nghiên cứu những bệnh nhân được 
chẩn đoán là phổi biệt lập tại Bệnh viện Phổi trung 
ương từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 12 năm 2014. 
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn 
- Bệnh nhân được chẩn đoán sau mổ là phổi biệt lập. 
- Có kết quả giải phẫu bệnh sau mổ là phổi biệt lập. 
- Mọi lứa tuổi, giới tính. 
- Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân đầy đủ thông tin. 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 
- Hồ sơ bệnh án không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán 
phổi biệt lập sau mổ. 
- Bệnh nhân được chẩn đoán phổi biệt lập nhưng 
không mổ. 
- Bệnh nhân chẩn đoán trước mổ là phổi biệt lập 
nhưng sau mổ không phải là phổi biệt lập. 
*Bệnh viện Phổi trung ương 
** Bộ môn ngoại Trường đại học Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 20/07/2015 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/08/2015 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 42 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
- Nghiên cứu mô tả, hồi cứu 
- Lấy mẫu thuận tiện: tất cả các bệnh nhân có đủ 
tiêu chuẩn nghiên cứu. 
2.3. Phương pháp thu thập số liệu 
Khai thác thông tin hồ sơ bệnh án sẵn có điền vào 
mẫu bệnh án nghiên cứu. 
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 
- Nhập số liệu bằng phần mềm epidata 
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 10.0. Các 
thuật toán được sử dụng là tính tỷ lệ %, tính trung 
bình, độ lệch (X±SD). 
3. KẾT QUẢ 
3.1. Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của phổi biệt lập 
3.1.1. Phân bố bệnh theo tuổi, giới 
36 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu gồm Nam 13, Nữ: 23. Tuổi thấp nhất:11,Tuổi cao nhất: 62, Tuổi 
trung bình: 33,19 ± 13 tuổi; nhóm 16 tuổi 34 trường hợp 
3.1.2. Tiền sử bệnh - Triệu chứng lâm sàng 
Bảng 3.1 Tiền sử các bệnh hô hấp, triệu chứng lâm sàng. 
Tiền sử Kén 
phế 
quản 
Viêm 
phế 
quản 
Viêm mủ 
màng phổi 
Viêm hô 
hấp tái 
diễn 
Apxe 
phổi 
Ho 
máu 
Viêm 
phổi 
Lao 
phổi 
Giãn 
phế 
quản 
n 1 2 2 4 4 2 7 5 3 
% 3,33 6,67 6,67 13,33 13,33 6,67 23,33 16,67 10 
 Đau ngực ho sốt khó thở 
n 29 30 16 11 
Triệu 
chứng 
% 33,72 34,88 18,6 12,79 
3.1.3. Đặc điểm chẩn đoán hình ảnh. 
Chụp XQ ngực thường quy: 3 dạng tổn thương tỷ lệ: dạng u:kén khí:viêm 10:15:11 
phổi phải 13 trường hợp, phổi trái 23 trường hợp 
Bảng 3.2. Đối chiếu hình ảnh CLVT với chẩn đoán sau mổ. 
 CTscan 
PBL 
sau mổ 
Dạng 
u phổi 
Dạng 
viêm 
Dạng kén 
khí 
Dạng 
nang dịch 
ĐMC 
ngực 
ĐMC 
bụng 
ĐM thân 
tạng 
n 6 6 14 8 20 8 2 Trong thùy % 16,67 16,67 38,89 22,22 62,50 25 6,25 
n 0 0 1 1 2 0 0 Ngoài thùy % 0 0 2,78 2,78 6,25 0 0 
3.2. Điều trị phẫu thuật 
Bảng 3.3. Kỹ thuật, thời gian mổ, mạch bất thường trong mổ 
PBL trong thùy PBL ngoài thùy Chung Đặc điểm n % n % n % 
Cắt phần PBL 0 1 2,78 1 2,78 
Cắt thùy phổi 33 91,66 1 2,78 34 94,44 Kỹ thuật mổ 
Cắt phân thùy phổi 1 2,78 0 0 1 2,78 
Thời gian mổ (phút) Min: 90 phút ; Max: 365 phút; X ± SD: 195,6 ± 66 phút 
Kích thước động 
mạch bất thường n 
Tỷ lệ 
% 
Số lượng 
 mạch bất thường n 
Tỷ lệ 
% 
Nguyên ủy bất 
thường n 
Tỷ lệ 
% 
Dưới 0,5cm 14 38,89 1 động mạch 27 75 Chủ ngực 23 63,89 
0,5-1cm 19 52,78 2 động mạch 4 11,11 Chủ bụng 12 33,33 
1-1,5cm 3 8,33 > 2 động mạch 5 13,89 Ngục- bụng 1 2,78 
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT PHỔI BIỆT LẬP 
 43 
Bảng 3. 4. Đối chiếu chẩn đoán trước mổ và sau mổ. 
 Chẩn đoán Trước PT 
Chẩn đoán sau PT 
U phổi Giãn phế quản Phổi biệt lập Đa kén phổi U trung thất 
n 1 1 26 1 1 Trong thùy 
% 2,78 2,78 72,22 2,78 2,78 
n 0 0 4 0 0 Ngoài thùy 
% 0 0 11,11 0 0 
n 2 Không rõ trong 
ngoài thùy % 5,56 
3.3. Tai biến và biến chứng 
Bảng 3.5: Tai biến và biến chứng 
Biến 
chứng 
Không biến 
chứng 
Chảy máu 
au mổ 
Viêm mủ 
màng phổi 
Rò khí 
kéo dài 
Xẹp phổi 
sau mổ 
Rò thực quản 
sau mổ 
n 29 2 1 1 2 1 
% 80,56 5,56 2,78 2,78 5,56 2,78 
3.4. Kết quả ra viện: 100% ổn địch trước khi ra viện, XQ phổi nở tốt, còn số ít có viêm dày màng phổi, 
không có trường hợp nào biến chứng nặng hay tử vong sau mổ. 
4. BÀN LUẬN 
4.1 Tuổi, giới: Nam/Nữ: 1/1,77. Tuổi thấp 
nhất:11,Tuổi cao nhất: 62, Tuổi trung bình: 33,19 ± 
13 tuổi; nhóm tuổi =16 tuổi 
34 trường hợp, kết quả tương tự với tác giả Phạm 
Minh Ánh[1] nghiên cứu 14 trường hợp phổi biệt lập 
thấy nam/ nữ: 1/1.8; tuổi trung bình 36,36±17,72. 
không có trường hợp nào có trẻ dưới 16 tuổi. Về giới 
tính tỷ lệ nam/nữ trong kết quả của chúng tôi ngược 
so một số tác giả trên thế giới: Theo Dirk Van 
Raemdonck [2] ở nhóm tuổi <15 tuổi: tuổi thấp 
nhất:0, cao nhất: 14, tuổi trung binh: 3±5; nhóm >15 
tuổi có 15 trường hợp, tuổi trung bình chẩn đoán bệnh 
là 33 ± 13 tuổi, tuổi trung bình trung cả 2 nhóm: 
19±18, nam nhiều hơn nữ: 18nam/10 nữ, Gezer S. et 
al[2] nam/ nữ: 1,7/1. Theo Halkic[4] phổi biệt lập 
trong thùy nam: nữ =1:1, thường chẩn đoán sau tuổi 
20, trong khi phổi biệt lập ngoài thùy nam: nữ =4:1. 
và tuổi chẩn đoán thường sớm sau sinh hoặc thiếu 
niên. Như vậy, dị tật này không nên bị lãng quên khi 
có triệu chứng sớm về hô hấp. 
4.2 Tiền sử bệnh hô hấp: (Bảng 3.1)15 trường hợp 
không có tiền sử bệnh hô hấp. 21 trường hợp có tiền 
sử chẩn đoán và điều trị các bệnh hô hấp khác nhau 
như: viêm phổi, lao phổi, apxe phổi, viêm hô hấp tái 
diễn, ho máu... Tại Việt nam chưa có báo cáo nào về 
tiền sử chẩn đoán các bệnh hô hấp trước đó, theo một 
số tác giả nước ngoài các tác giả Dirk Van 
Raemdonck[2], xếp vào nhóm dấu hiệu và triệu 
chứng của bệnh như: bệnh nhân có viêm phổi, nhiễm 
trùng mạn tính tái phát, ho máu đó là dấu hiệu gợi ý 
đến phổi biệt lập, do đó ngay từ khám tuyến đầu ngoài 
các bệnh hô hấp thường gặp cũng cần cảnh giác với 
phổi biệt lập có biến chứng. 
4.3 Triệu chứng lâm sàng: (Bảng 3.1)1 trường hợp 
không có triệu chứng, phát hiện bệnh qua đi khám sức 
khỏe định kỳ. Triệu chứng cơ năng gặp chủ yếu ho, 
đau ngực, sốt, khó thở. Khám thực thể ngực có 21 
trường hợp có triệu chứng ở phổi: chủ yếu có tình 
trạng viêm nhiễm tại phổi, 6 trường hợp có hội chứng 
ba giảm. Trong nghiên cứu của chúng tôi triệu chứng 
lâm sàng cũng tương tự như trong báo cáo của tác giả 
Halkic[4] ho, sốt đau ngực, khó thở là các triệu chứng 
chủ yếu. Như vậy hầu hết các trường hợp không có 
dấu hiệu lâm sàng biểu hiện sớm mà chỉ khi có biến 
chứng mới biểu hiện lâm sàng và đi khám với các dấu 
hiệu: ho, sốt, đau ngực, khó thở, ho máu, tình trạng 
viêm phổi tái diễn..,vì vậy chúng ta không nên bỏ quên 
dị tật về phổi này để tránh điều trị nội khoa kéo dài 
dẫn đến sự chậm trễ trong chẩn đoán và can thiệp sớm. 
4.4 Cận lâm sàng: Chụp XQ ngực thường quy: 
100% tổn thương nằm ở thùy dưới, phổi trái chiếm ưu 
thế (23/36 trương hợp). So với các tác giả khác, tổn 
thương cũng chủ yếu thùy dưới và ưu thế ở phổi trái. 
Hình ảnh chủ yếu 3 dạng tổn thương: dạnh u, kén khí, 
viêm. Tổn thương giống như các bệnh thông thường 
khác nên dễ dẫn đến chẩn đoán nhầm. So nghiên cứu 
của tác giả Gezer S. et al [2]: 23 trường hợp kén khí, 9 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 44 
trường hợp dạng khối không chứa khí, cũng chủ yếu ở 
thùy dưới. Như vậy hình ảnh XQ có tính gợi ý đến 
phổi biệt lập chứ không khẳng định là phổi biệt lập, 
và cần chụp CT scanner ngực để chẩn đoán chính xác 
và có thái độ điều trị phù hợp. Hình ảnh trên cắt lớp vi 
tính ngực (Bảng 3.2) tổn thượng dạng kén khí, chiếm 
nhiều với 15 (41,67%) trường hợp, 9 (25%) trường 
hợp nang dịch, 6 (16,67%) trường hợp dạng u phổi, 
6(16,67%) trường hợp dạng viêm phổi. Mạch máu 
nhìn rõ trên CT scanner ngực 32 trường hợp, trong đó 
nguyên ủy từ ĐMC ngực 22/32 trường hợp, từ ĐMC 
bụng 8/32 trường hợp, từ động mạch thân tạng 2/32 
trường hợp, 4 trường hợp không mô tả mạch bất 
thường. Như vậy, nhờ sự phát triển của CT Scanner 
giúp chẩn đoán phổi biệt lập được dễ dàng và không 
cần thiết làm chụp mạch chẩn đoán. Hình ảnh trên 
CTScanner cũng như XQ thường quy, có tổn thương 
giống các bệnh lý khác của phổi, nhưng khi có tiêm 
thuốc cản quang và dựng hình mạch máu có tính chất 
quyết định chẩn đoán và giúp phẫu thuật viên cảnh 
giác với các mạch máu bất thường (số lượng, kích 
thước, nguyên ủy) và tránh được các tai biến đáng tiếc 
trong phẫu thuật khi không biết trước các mạch bất 
thường này. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng 
tương tự với kết quả nghiên cứu của Hong-sheng Lui, 
et al[6] nghiên cứu 47 trường hợp phổi biệt lập trong 
thùy thấy hình ảnh trên phim chụp CT: dạng khối 
19/47 trường hợp, dạng nang, gồm cả loại có mức 
dịch khí 15/47 trường hợp, dạng giãn phế quản hơn 
12/47 trường hợp, 1 trường hợp tràn dịch màng phổi 
và phát hiện mạch máu bất thường cấp máu cho phổi 
giúp chẩn đoán đúng trước mổ 35/47 (74,47%) trường 
hợp phổi biệt lập, và động mạch cấp máu cũng chủ 
yếu từ ĐMC ngực. 
4.5. Chẩn đoán trước mổ và sau mổ: (Bảng 3.4) 
Chẩn đoán đúng trước mổ 32 (88,89%) trường hợp, 
4(11,11%) trường hợp chẩn đoán nhầm bệnh khác: u 
phổi, giãn phế quản, đa kén phổi, u trung thất, so với 
kết quả sau mổ có 30 trường hợp chẩn đoán phổi biệt 
lập trong thùy, 4 trường hợp ngoài thùy, 2 trường hợp 
không xác địch vị trí trong hay ngoài thùy. Như vậy 
nhờ có chụp CTscanner độ phân giải cao, dựng hình 
mạch máu mà việc chẩn đoán chính xác trước mổ có 
tỷ lệ cao, mặc dù có 4 trường hợp(11,11%) chẩn đoán 
nhầm sang các bệnh khác. Trong phẫu thuật do viêm 
dính lâu ngày và tái diễn nên trong mổ có số ít trường 
hợp không phân định được loại phổi biệt lập trong 
hay ngoài thùy. So với kết quả nghiên cứu của Hong-
sheng Lui, et al[6] chẩn đoán đúng trước mổ còn hạn 
chế 35/47(74,47%) trường hợp phổi biệt lập, 12 
trường hợp (25,53%)còn lại chẩn đoán nhầm sang các 
bệnh lý khác, so sánh 2 tỷ lệ có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với p< 0,05. Tuy nhiên do quá trình 
viêm nhiễm trước đó đã làm thay đổi danh giới giữa 
phần phổi lành với phần phổi biệt lập dẫn đến việc 
phân loại trong mổ trong nghiên cứu của chúng tôi 
cũng gặp khó khăn khi phân loại phổi biệt lập trong 
hay ngoài thùy. 
4.6 Điều trị: Peter B. Kestenholz[8] nghiên cứu 
phẫu thuật nội soi trong điều trị phổi biệt mặc dù khó 
khăn do viêm nhiễm trước đó nhưng thời gian phẫu 
thuật trung bình 133 phút, nhanh 45 phút, lâu nhất 270 
phút. Chúng tôi mổ mở 36 trường hợp thời gian mổ 
trung bình 195.6 phút (Bảng 3.3), tối đa 365 phút, tối 
thiểu 90 phút, trong đó phổi phải 13 trường hợp, phổi 
trái 23 trường hợp, 34 (94,44%) cắt thùy phổi chứa 
phổi biệt lập, 1(2,78%) trường hợp cắt phân thùy phổi, 
1(2,78%) trường hợp cắt nguyên phần phổi biệt lập, 
động mạch bất thường: chủ ngực 23 trường hợp, chủ 
bụng 12 trường hợp, 1 trường hợp có cả nhánh của chủ 
ngực và chủ bụng, số lượng mạch bất thường: 1 mạch 
27 trường hợp, hơn 1 mạch bất thường có 9 trường 
hợp. kích thước mạch chủ yếu <10mm.. Không biến 
chứng trong mổ. Các bệnh nhân không biến chứng 
như rò khí, viêm mủ màng phổi, rò tiêu hóa thì thời 
gian dẫn lưu trung bình 8 ngày. Thời gian nằm viện 
trung bình 29 ngày. Tối thiểu 11 ngày, tối đa 56 ngày. 
Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 15 ngày, không 
có biến chứng trong mổ. Thời gian phẫu thuật kéo dài 
do tình trạng phổi viêm lâu ngày nên dính vào các 
thành phần khác trong lồng ngực làm phẫu thuật gặp 
nhiều khó khăn và kéo dài đặc biệt vùng có mạch máu 
bất thường nên việc bộc lộ mạch máu khó khăn và 
nguy hiểm, tuy nhiên với kinh nhiệm và thận trọng 
trong phẫu thuật. Có 4 trường hợp không mô tả mạch 
bất thường trên CTScanner ngực, nhưng không có tai 
biến đáng tiếc nào liên quan tới các mạch bất thường 
này. Thời gian nằm viện sau mổ kéo dài so các tác giả 
khác do tình trạng viêm nhiễm trước mổ, diện viêm 
dính thường rộng, thời gian mổ kéo dài, sau mổ nhiều 
nguy cơ nhiễm trùng. Để hạn chế các nguy cơ và rút 
ngắn thời gian nằm viện sau mổ nên chẩn đoán và 
phẫu thuật sớm khi phổi biệt lập chưa có biến chứng 
nhiễm trùng tái diễn.Theo tác giả: Savic B et al[7], 
nghiên cứu 540 trường hợp phôi biệt lập, phổi biệt lập 
trong thùy chiếm 75% , ngoài thùy dưới 25%, vị trí 
chủ yếu thùy dưới của phổi. Động mạch cấp máu cho 
phần phổi biệt lập này là chủ yếu từ ĐMC ngực và chủ 
bụng, kích thước động mạch trung bình 6,3-6,6mm. 
Điều trị cắt thùy phổi trên nhóm PBL trong thùy 
71,5%, cắt 1 phần thùy 13%, cắt phần phổi biệt lập 
3,5%, phổi biệt lập ngoài thùy chủ yếu cắt nguyên 
phần phổi biệt lập. Theo Dirk Van Raemdonck[2], ở 
15 trường hợp người trưởng thành thì tỷ lệ cắt thùy 
phổi là chủ yếu do tình trạng viêm nhiễm trước đó, 
nhưng ở nhóm trẻ <=16 tuổi thì tỷ lệ cắt thùy có thấp 
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT PHỔI BIỆT LẬP 
 45 
hơn 1/2 lần. Theo Jolanta hauer[5], nghiên cứu 23 
trường hợp phổi biệt lập cũng cho kết quả tương tự 
chủ yếu cắt thùy phổi 14/20 trường hợp. Nguyên ủy 
động mạch bất thường chủ yếu từ ĐMC ngực 17/23 
và chủ bụng 6/23 trường hợp, số lượng mạch bất 
thường chủ yếu là 1, chỉ có 5 trường hợp có nhiều 
hơn 1 động mạch bất thường. Như vậy, việc chẩn 
đoán và điều trị phẫu thuật sớm có ý nghĩa khi phổi 
biệt lập chưa có biến chứng, chưa có viêm nhiễm tái 
diễn làm mất ranh giới giữa phần phổi lành và phần dị 
tật, tránh tỷ lệ cắt thùy phổi tăng cao trong khi chỉ cần 
cắt bỏ phần phổi chứa phổi biệt lập trong thùy hoặc 
cắt bỏ phần phổi biệt lập ngoài thùy. 
4.7 Biến chứng: 29 trường hợp không có biến 
chứng sau mổ. 2/36 trường hợp chảy máu sau mổ, 
2/36 trường hợp xẹp phổi sau mổ, 1/36 trường hợp rò 
khí và 1/36 trường hợp viêm mủ màng phổi, 1/36 
trường hợp rò thực quản sau mổ, các biến chứng 
thường nhẹ không có trường hợp nào nặng hoặc tử 
vong khi ra viện, không có trường hợp nào tai biến 
liên quan tới mạch máu bất thường, các trường hợp 
biến chứng được điều trị kéo dài và hết biến chứng. 
Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả thì tỷ lệ 
chảy máu trong mổ liên quan tới động mạch bất 
thường là tương đối cao so với nghiên cứu của chúng 
tôi: Jolanta hauer N,[5] 8/23 trường hợp chảy máu, 1 
trường hợp khó thở sau mổ, 1 trường hợp liệt hoành. 
Halkic[4]: 3 trường hợp chảy máu trong mổ, 2 trường 
hợp rò phế quản, 2 trường hợp nhiễm trùng màng 
phổi, 1 trường hợp chảy máu ổ bụng sau cắt động 
mạch bất thường. 
Ngay cả trường hợp đặc biệt rò thực quản sau mổ, 
bệnh nhân sau mổ phải thực hiện thêm nhiều thủ thuật 
và phẫu thuật hỗ trợ, thời gian nằm viện kéo dài > 375 
ngày. Có lẽ đây là trường hợp phổi biệt lập có phối hợp 
với rò đường tiêu hóa hoặc do người bệnh bị viêm phổi 
tái diễn nhiều lần làm thay đổi giải phẫu khi phẫu thuật 
cũng khó tránh được tổn thương vào thực quản. Nhiều 
tác giả trên thế giới cũng đã báo cáo về các nghiên cứu 
phổi biệt lập có phối hợp với các dị tật bẩm sinh khác 
như: Savic B[7] phổi biệt lập có kèm theo các dị dạng 
trong đó rò thực quản phế quản trong phổi biệt lập ngoài 
thùy, nang thực quản phế quản trong phổi biệt lập trong 
thùy, ngoài ra còn có các dị dạng cơ hoành, hệ xương, 
tim mạch..Để hạn chế biến chứng này, khi chẩn đoán 
phổi biệt lập nên chủ động làm thêm chẩn đoán các dị 
dạng kèm theo đặc biệt của đường tiêu hóa: Soi, chụp 
thực quản dạ dày tránh được việc bỏ sót thương tổn phối 
hợp trong phẫu thuật. 
4.8 Kết quả trước khi ra viện: 100% ổn định trước 
khi ra viện, XQ phổi nở tốt, còn số ít có viêm dày 
màng phổi, không có trường hợp nào biến chứng nặng 
hay tử vong sau mổ. 
5. KẾT LUẬN 
Phổi biệt lập là dị tật bẩm sinh, cần chẩn đoán và 
phẫu thuật sớm tránh biến chứng và di chứng. Tỷ lệ 
nam/ nữ: 1/1,77. Tuổi chẩn đoán thường muộn, trung 
bình 33,19 ± 13 tuổi, phần lớn có dấu hiệu gợi ý đến 
phổi biệt lập: các bệnh hô hấp tái diễn, đau ngực và 
ho, sốt, khó thở, hình ảnh XQ ngực thường quy chủ 
yếu với 3 dạng tổn thương: dạng u, kén khí, viêm. 
Chẩn đoán xác định dựa trên CTScanner ngực có dựng 
hình mạch máu phát hiện mạch bất thường từ hệ ĐMC 
cấp máu cho phần phổi tổn thương. Điều trị phẫu thuật 
chủ yếu cắt thùy phổi 34/ 36 trường hợp, 1 trường hợp 
cắt phần phổi chứa phổi biệt lập, 1 trường hợp cắt phổi 
biệt lập. Thời gian mổ trung bình 195,6±66 phút. 
Không có biến chứng chảy máu trong và sau mổ iên 
quan tới mạch bất thường. Biến chứng sau mổ thường 
nhẹ, đặc biệt có 1 trường hợp rò thực quản. Thời gian 
nằm viện sau phẫu thuật khi không có biến chứng 
trung bình 15,84± 8,18 ngày. 100% ra viện với tình 
trạng ổn định, không có tử vong sau mổ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Phạm Minh Ánh.(2010) "Phổi biệt lập: nhân hồi 
cứu 14 trường hợp tại Bệnh viện Chợ Rẫy." (Hội 
phẫu thuật tim mạch và lồng ngực Việt Nam 
(phauthuattim.org.vn). 
2. Van Raemdonck, D., et al., Pulmonary sequestration: 
a comparison between pediatric and adult patients. 
Eur J Cardiothorac Surg, 2001. 19(4): p. 388-95. 
3. Gezer S. et al (2007): “Pulmonary sequestration: A 
single-institutional series composed of 27 cases”; 
Journal of Thoracic and Cardiovascular Surgery; 
Volume 133; pp. 955-959 
4. Halkic N. et al (1998): “Pulmonary sequestration: 
a review of 26 ca ses”. 
European Journal of Cardio-thoracic Surgery; 
14; pp. 127-133. 
5. Hauer, J., et al., Pulmonary Sequestration-Analysis 
of Diagnostic and Therapeutic Difficulties. Polish 
Journal of Surgery, 2007. 79(1): p. 24-28. 
6. Liu, H.-s., et al., Surgical treatment of intralobar 
pulmonary sequestration. Chinese Medical 
Sciences Journal, 2010. 25(1): p. 53-56. 
7. Savic B, et al. (1979): “Lung sequestration: report 
of seven cases and review of 540 published cases”. 
Thorax; 34: 96. 
8. Kestenholz, P.B., et al., Thoracoscopic treatment 
of pulmonary sequestration. Eur J Cardiothorac 
Surg, 2006. 29(5): p. 815-8. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_lam_sang_can_lam_sang_va_ket_qua_phau_th.pdf