Nghiên cứu đặc điểm của siêu âm trong chẩn đoán phình động mạch chủ bụng tại Bệnh viện Trung ương Huế

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và vai

trò của siêu âm trong chẩn đoán bệnh phình động

mạch chủ bụng. Phương pháp: nghiên cứu mô tả

những đặc điểm hình ảnh siêu âm của 36 bệnh nhân

có chẩn đoán phình động mạch chủ bụng tại Bệnh

viện Trung ương Huế. Kết quả: đa số khối phình có

hình thoi, nằm dưới động mạch thận. Kích thước

khối phình chủ yếu <5cm, đa="" số="" khối="" phình="" có="">

khối và xơ vữa kèm theo. Biến chứng bóc tách, viêm

quanh khối phình và vỡ ít gặp nhưng gây nguy hiểm

đến tính mạng bệnh nhân. Kết luận: Siêu âm là

phương tiện đơn giản, dễ thực hiện để chẩn đoán

sớm phình động mạch chủ bụng; và có giá trị để tầm

soát cho những bệnh nhân có nguy cơ cao phình

động mạch chủ bụng

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm của siêu âm trong chẩn đoán phình động mạch chủ bụng tại Bệnh viện Trung ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu đặc điểm của siêu âm trong chẩn đoán phình động mạch chủ bụng tại Bệnh viện Trung ương Huế

Nghiên cứu đặc điểm của siêu âm trong chẩn đoán phình động mạch chủ bụng tại Bệnh viện Trung ương Huế
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 40
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN 
PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ 
Trần Chí Thành*, Nguyễn Phước Bảo Quân*, Đào Thị Thủy*, Đoàn Đức Hoằng* 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và vai 
trò của siêu âm trong chẩn đoán bệnh phình động 
mạch chủ bụng. Phương pháp: nghiên cứu mô tả 
những đặc điểm hình ảnh siêu âm của 36 bệnh nhân 
có chẩn đoán phình động mạch chủ bụng tại Bệnh 
viện Trung ương Huế. Kết quả: đa số khối phình có 
hình thoi, nằm dưới động mạch thận. Kích thước 
khối phình chủ yếu <5cm, đa số khối phình có huyết 
khối và xơ vữa kèm theo. Biến chứng bóc tách, viêm 
quanh khối phình và vỡ ít gặp nhưng gây nguy hiểm 
đến tính mạng bệnh nhân. Kết luận: Siêu âm là 
phương tiện đơn giản, dễ thực hiện để chẩn đoán 
sớm phình động mạch chủ bụng; và có giá trị để tầm 
soát cho những bệnh nhân có nguy cơ cao phình 
động mạch chủ bụng. 
Từ khoá: siêu âm, phình động mạch chủ bụng 
(PĐMCB) 
STUDY ON SCREENING ABDOMINAL 
ULTRASOUND FOR DIAGNOSIS OF 
ABDOMINAL AORTIC ANEURYSM IN 
PATIENTS AT HUE CENTRAL HOSPITAL 
Tran Chi Thanh*, Nguyen Phuoc Bao Quan*, 
Dao Thi Thuy*, Doan Duc Hoang* 
ABSTRACT 
Objectif: Study on imageric features and roles of 
ultrasonagraphy to diagnose abdominal aortic 
aneurysm in patients at Hue Central Hospital. 
Method: describing study on ultrasonagraphic 
features of 36 patients with abdominal aortic 
aneurysm. Results: The majority of AAAs was 
diamond-shaped, and was infrarenal location; The 
AAAs ‘s dimension was mostly below 5cm; There 
was often thrombosis and atherosclesosis in these 
AAAs; The complications as dissection, peripheral 
inflammatory infiltration and rupture were rare but 
life-threatening for patients with AAAs. Conclusion: 
Ultrasonography is a simple technique to diagnose the 
AAAs; and valuable in screening for high risk AAA 
patients. 
Keys: ultrasonography, abdominal aortic 
aneurysm (AAA) 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phình động mạch chủ bụng(PĐMCB) là bệnh lý 
hay gặp ở người lớn tuổi. Tỉ lệ tử vong do vỡ PĐMCB 
đứng hàng thứ 10 các nguyên nhân gây tử vong hàng 
năm ở nam giới trên 55 tuổi [8]. Bệnh PĐMCB ngày 
càng gia tăng, theo các tác giả châu Âu, PĐMCB tăng 
từ 1,5% vào năm 1960 lên 3% vào năm 1980 [10]. Ở 
Việt Nam, số lượng bệnh nhân được chẩn đoán và 
điều trị bệnh PĐMCB cũng gia tăng tại các bệnh viện 
lớn. Tại bệnh viện Bình Dân trong 10 năm (1991- 
2000) đã mổ được 510 bệnh nhân PĐMCB [6]. 
Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của bệnh 
PĐMCB thể hiện ít rầm rộ, tiến triển chậm hơn các 
bệnh lý khác của mạch máu, do đó bệnh thường được 
phát hiện tình cờ, trong thăm khám một cách có hệ 
thống hay bệnh nhân đến khám vào giai đoạn muộn 
thậm chí đã dọa vỡ, tỷ lệ vỡ là 12 – 18% trong đó tỷ lệ 
tử vong do vỡ lên đến 50 – 70% [3]. Do vậy vấn đề 
phát hiện bệnh sớm có vai trò hết sức quan trọng trong 
điều trị và tiên lượng bệnh. 1 
Siêu âm là phương tiện chẩn đoán đơn giản, dễ 
thực hiện góp phần chẩn đoán sớm PĐMCB. Hiện nay 
với các thế hệ máy mới có độ ly giải cao nên chẩn 
đoán càng chính xác, thêm vào đó siêu âm có sẵn từ 
tuyến cơ sở đến tuyến trung ương, nên người ta đã lựa 
chọn siêu âm là phương tiện để chẩn đoán và tầm soát 
đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao PĐMCB. 
Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu 
đặc điểm hình ảnh của siêu âm trong chẩn đoán 
phình động mạch chủ bụng” nhằm mục tiêu mô tả 
* Bệnh viện Trung ương Huế 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Đoàn Đức Hoằng 
Ngày nhận bài: 10/10/2013 - Ngày Cho Phép Đăng: 24/11/2013 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Lê Ngọc Thành 
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG 
 41
đặc điểm hình ảnh và vai trò của siêu âm trong chẩn 
đoán bệnh bệnh lý PĐMCB. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1.Tiêu chuẩn chọn bệnh: Nghiên cứu trên 36 
bệnh nhân được chẩn đoán PĐMCB bằng siêu âm tại 
Bệnh viện Trung Ương Huế. 
2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán: PĐMCB khi đường 
kính lớn hơn 30 mm hoặc lớn hơn 1.5 lần so với 
đường kính động mạch chủ(ĐMC) bình thường đoạn 
trên chỗ phình. 
2.3. Phương tiện nghiên cứu: Máy Doppler màu 
hiệu Siemens Acuson (Đức), cấu hình gồm 2D, 
Doppler màu, Doppler xung và Doppler liên tục. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Kích thước của khối PĐMCB 
 Bảng 1. Đường kính ngang: 
Đường kính 
ngang 
N % 
3,1-4 cm 9 25.0 
4,1-5cm 9 25.0 
5,1-6cm 8 22.2 
6,1-7cm 4 11.1 
7,1-8cm 6 16.7 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: 50,0% trường hợp có đường kính ngang 
khối phình ≤ 5cm. Khối phình với đường kính ngang 
>7cm chỉ chiếm 16,7%. 
Bảng 2. Đường kính trước sau 
Đường kính 
trước sau N % 
3,1-4 cm 12 33.3 
4,1-5 cm 7 19.4 
5,1-6 cm 8 22.2 
6,1-7 cm 2 5.6 
7,1-8 cm 7 19.4 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: Khối phình có đường kính trước sau ≤ 
5cm chiếm tỉ lệ cao nhất (52,7%), khối phình với 
đường kính trước sau >7cm chỉ chiếm 19,4%. 
Bảng 3. Chiều dài khối phình 
Chiều dài 
khối phình N % 
4,1-6cm 7 19.4 
6,1-8cm 14 38.9 
8,1-10cm 8 22.2 
10,1-12cm 3 8.3 
12,1-14cm 2 5.6 
>14cm 2 5.6 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: Khối phình có chiều dài 6-10cm chiếm 
tỉ lệ cao nhất (61,1%), khối phình với chiều dài 
>14cm chiếm tỉ lệ ít nhất (5,6%). 
Bảng 4. Đường kính cổ trên 
Đường kính 
cổ trên N % 
1,1-2cm 6 16.7 
2,1-3cm 25 69.4 
3,1-4cm 4 11.1 
4,1-5cm 1 2.8 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: Đa số khối phình có đường kính cổ trên 
từ 2-3cm chiếm tỉ lệ 69,4% 
3.2. Hình dạng của khối PĐMCB 
Bảng 5. Hình dạng của khối PĐMCB 
Hình dạng 
khối phình N % 
Hình thoi 33 91.7 
Hình túi 3 8.3 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: khối phình có dạng hình thoi chiếm tỉ lệ 
91,7%, túi phình hình túi chỉ chiếm tỉ lệ 8,3%. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 42
3.3. Giới hạn trên của khối PĐMCB 
Bảng 6. Giới hạn trên của khối PĐMCB 
Giới hạn trên của 
khối phình N % 
Trên ĐM thận 4 11,2 
Dưới ĐM thận 32 88,8 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: Đa số khối phình ở dưới động mạch 
thận, chiếm tỉ lệ 88,8%, chỉ có 4 trường hợp trên động 
mạch thận chiếm tỉ lệ 11,2%. 
3.4. Giới hạn dưới của khối PĐMCB 
Bảng 7. Giới hạn dưới của khối PĐMCB 
Giới hạn dưới của 
khối phình N % 
Trên ĐM chậu 6 17,7 
Lan tới ĐM chậu 30 83,3 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: Trong tổng số 36 bệnh nhân PĐMCB có 6 
trường hợp chưa lan đến ĐM chậu chiếm tỉ lệ 17,7%, có 
30 trường hợp lan đến ĐM chậu chiếm tỉ lệ 83,3%. 
3.5. Huyết khối trong khối PĐMCB 
Bảng 8. Huyết khối trong khối PĐMCB 
Huyết khối N % 
Có 32 88,8 
Không 4 11,2 
Tổng 36 100 
Nhận xét: Đa số khối phình có huyết khối bám 
thành chiếm tỉ lệ 88,8%, không có huyết khối chiếm tỉ 
lệ 11,2%. 
Bảng 9. Tính chất huyết khối trong khối PĐMCB 
Tính chất 
huyết khối N % 
Không đồng nhất 4 12,5 
Đồng nhất 28 87,5 
Tổng 32 100 
Nhận xét: Đa số khối phình có huyết khối bám 
thành đồng nhất chiếm tỉ lệ 87,5%, chỉ có 12,5% 
huyết khối bám thành không đồng nhất. 
3.6. Tình trạng viêm quanh khối PĐMCB 
Bảng 10. Tình trạng viêm quanh khối PĐMCB 
Viêm quanh 
khối phình 
N % 
Có 3 8.3 
Không 33 91.7 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: Trong 36 bệnh nhân có 3 trường hợp 
siêu âm thấy viêm quanh khối phình (thành động 
mạch dày, không đều) chiếm tỉ lệ 8,3%. 
3.7. Bóc tách trong khối PĐMCB 
Bảng 11. Bóc tách trong khối PĐMCB 
Bóc tách 
nội mạc N % 
Có 2 5.6 
Không 34 94.4 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: Trong 36 bệnh nhân chỉ có 2 trường hợp 
siêu âm thấy bóc tách động mạch chiếm tỉ lệ 5,6%. 
3.8. Tình trạng xơ vữa, vôi hóa thành khối 
PĐMCB 
Bảng 12. Tình trạng xơ vữa, vôi hóa thành khối 
PĐMCB 
Xơ vữa, 
vôi hóa N % 
Có 27 75.0 
Không 9 25.0 
Tổng 36 100.0 
Nhận xét: Đa số khối phình bị xơ vữa thành chiếm 
tỉ lệ 75%, không có xơ vữa chiếm tỉ lệ 25%. 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Đặc điểm về kích thước của khối PĐMCB. 
PĐMCB là một bệnh tiến triển tăng dần về kích 
thước theo thời gian. Nếu không được điều trị khối 
phình sẽ tiến triển dẫn đến vỡ. Kích thước của khối 
phình tăng dần theo thời gian do đó cần phải theo dõi 
định kỳ để chỉ định mổ kịp thời tránh biến chứng vỡ 
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG 
 43
túi phình. Siêu âm là phương tiện tiện lợi và rẻ tiền 
nhất để theo dõi quá trình tiến triển của túi phình. Siêu 
âm có thể dễ dàng đo các đường kính và chiều dài của 
khối phình một cách nhanh chóng [5]. Theo nghiên 
cứu của các bác sĩ Đại học Michigan Hoa Kỳ (2006) 
[9], thì tỷ lệ vỡ trong 1 năm của khối phình có kích 
thước 5.5-6cm là 9%; khối phình 6-6.9 cm là 10%, 
khối phình >7cm là 33% và đề nghị những khối phình 
<5.5cm nên được theo dõi bằng siêu âm định kỳ 
như sau : 
 Đường kính của khối phình 
 Thời gian theo dõi 
 <3cm 
 Không 
 3-4 cm 
 Mỗi 12 tháng 
 4-4.5cm 
 Mỗi 6 tháng 
 >4.5cm 
Đến chuyên gia về mạch máu 
Theo nghiên cứu của chúng tôi thì kích thước của 
khối phình thì 50% trường hợp có đường kính ngang 
<5cm, 52.7% trường hợp có đường kính trước sau 
<5cm, khối phình có đường kính ngang và trước sau 
>7cm chỉ chiếm từ 16.7-19.4%. Chiều dài của khối 
phình đa số từ 6-10% chiếm tỷ lệ (61.1%), chỉ có 2 
trường hợp khối phình dài >14cm chiếm tỷ lệ 5.6%. 
Theo Đoàn Văn Hoan thì kích thước khối phình <5cm 
có tỷ lệ 50%, kích thước khối phình >7cm có tỷ lệ 
18.3% [3]. Theo Hoàng Việt Dũng và Đoàn Quốc 
Hưng nghiên cứu tại bệnh viện Hữu Nghị thì khối 
PĐMCB có kích thước <5cm chiếm tỷ lệ 64.1% [1]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi có khảo sát về đường 
kính cổ trên của khối phình thấy đa số khối phình có 
đường kính cổ trên từ 2-3cm chiếm tỷ lệ 69.4%. Việc 
đo đường kính của khối phình giúp cho các phẫu thuật 
viên lựa chọn kích cỡ của loại prothèse phù hợp khi 
phẫu thuật PĐMCB kết hợp với các đường kính ngang 
trước sau và chiều dài của khối phình. Như vậy, siêu 
âm là phương tiện thăm khám không chấn thương, dễ 
thực hiện, độ tin cậy cao (95%), rẻ tiền cho phép thấy 
được hình ảnh trực tiếp của ĐMC bụng và các nhánh 
lên, kích thước của khối phình góp phần vào việc chẩn 
đoán xác định khối phình và còn có vai trò quan trọng 
trong việc theo dõi định kỳ PĐMCB kích thước nhỏ 
(chưa có chỉ định mổ) để quyết định can thiệp ngoại 
khoa kịp thời tránh biến chứng vỡ túi phình gây tử 
vong cho người bệnh. Ngoài ra siêu âm còn là phương 
tiện khảo sát giúp cho phẫu thuật viên lựa chọn 
prothèse trong việc phẫu thuật PĐMCB. 
4.2. Hình dạng của khối PĐMCB : 
Đa số khối phình có dạng hình thoi (Đoàn Văn 
Hoan, Văn Tần) có thể cân đối hay không cân đối, chỉ 
có một số ít khối phình có dạng hình túi [3]. Theo 
nghiên cứu của chúng tôi thì khối phình hình thoi 
chiếm tỷ lệ 91.7%, túi phình hình túi chiếm tỷ lệ 
8.3%. Số liệu này cũng phù hợp với nghiên cứu của 
một số tác giả trong và ngoài nước, Đoàn Văn Hoan 
khối phình hình thoi là 92.3%, khối phình hình túi là 
7.7%, Phạm Hồng Đức khối phình hình thoi là , khối 
phình hình túi là 85.7%, khối phình hình túi là 14.3% 
[2], [3], [12]. 
4.3. Vị trí khối PĐMCB, giới hạn trên của khối 
PĐMCB : 
Theo nghiên cứu của chúng tôi trong 36 ca 
PĐMCB có 32 ca nằm dưới ĐM thận chiếm tỷ lệ 
88.8% chỉ có 4 ca khối phình nằm trên động 
mạch(ĐM) thận chiếm tỷ lệ 11.2%. Số liệu này cũng 
phù hợp với các nghiên cứu của một số tác giả trong 
và ngoài nước. Theo Cao Văn Thịnh tại bệnh viện 
Bình Dân, trong 95 ca PĐMCB có 71 ca phình dưới 
ĐM thận chiếm tỷ lệ 74.8% [6]. Theo Đoàn Văn Hoan 
khi nghiên cứu 104 ca PĐMCB thì có 103 ca phình 
dưới ĐM thận chiếm tỷ lệ 99.1% [3]. Theo Phạm 
Hồng Đức thì PĐMCB dưới ĐM thận chiếm tỷ lệ 
95.8% [2]. Theo Lorraine và cộng sự khối phình dưới 
ĐM thận chiếm tỷ lệ 90% [10]. Nguyên nhân PĐMCB 
hay khu trú ở đoạn dưới thận là do các yếu tố giải 
phẫu và huyết động. Như vậy, trong bệnh lý PĐMCB 
thì chủ yếu là phình dưới ĐM thận, đây là đoạn phẫu 
thuật có hiệu quả nhất, có kết quả cao, ít tai biến cho 
bệnh nhân. Vì vậy việc chẩn đoán chính xác vị trí của 
khối phình có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ định 
điều trị và thành công của phẫu thuật. Siêu âm đánh 
giá vị trí của khối phình so với ĐM thận dễ dàng ở 
những bệnh nhân gầy, đối với những bệnh nhân béo 
phì, thành bụng dày việc xác định vị trí khối phình so 
với ĐM thận đôi khi bị hạn chế, những trường hợp 
như vậy cần được chỉ định chụp CLVT hay chụp 
mạch để xác định chính xác hơn. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 5 - THÁNG 11/2013 
 44
4.4. Giới hạn dưới của khối PĐMCB : 
Theo nghiên cứu của chúng tôi, đa số khối phình 
lan xuống chỗ chia đôi ĐM chậu vào ĐM chậu 2 bên. 
Trong 36 ca có 30 ca lan đến ĐM chậu chiếm tỷ lệ 
83.3%, chỉ có 6 ca chưa lan đến ĐM chậu chiếm tỷ lệ 
17.7%. Siêu âm Doppler khảo sát độ lan của khối 
phình xuống ĐM chậu dễ dàng, khi khảo sát SA cần 
đánh giá được tình trạng có phình hay không của ĐM 
chậu hai bên, có huyết khối gây thuyên tắc ĐM chậu 
hay không. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 2 
trường hợp bị thuyên tắc ĐM chậu kèm theo. Nguyên 
nhân đa số bệnh nhân có khối phình lan xuống ĐM 
chậu được lý giải là do các yếu tố giải phẫu và huyết 
động : sóng áp lực càng xa tim càng mạnh, vùng chia 
đôi ĐM chậu có sóng áp lực lớn nhất, đồng thời là 
vùng có cấu trúc giải phẫu kém chun giãn nhất của 
ĐMC bụng, ngoài ra thường đa số bệnh nhân đến 
khám thường muộn nên chiều dài khối phình thường 
lan rộng đến ĐM chậu. Kết quả nghiên cứu của chúng 
tôi cũng phù hợp với một số tác giả. Theo Đoàn Văn 
Hoan tỷ lệ khối phình lan xuống đến ĐM chậu là 
88.5% [3]. Theo Phạm Hồng Đức tỷ lệ khối phình lan 
xuống đến ĐM chậu là 70.83% [2]. 
4.5. Huyết khối trong khối PĐMCB : 
Theo nghiên cứu của chúng tôi, đa số khối phình 
có huyết khối bám thành chiếm tỷ lệ 88.8%, chỉ có 
11.2% khối phình không có huyết khối. Đa số huyết 
khối trong khối phình đồng nhất chiếm tỷ lệ 87.5%, 
chỉ có 12.5% huyết khối không đồng nhất. Trên siêu 
âm huyết khối bám thành dễ dàng nhận thấy với cấu 
trúc giảm âm ở trong lòng mạch gây hẹp lòng mạch, 
độ hồi âm của huyết khối có thể là đồng nhất hay 
không đồng nhất. Với siêu âm Doppler màu việc phát 
hiện huyết khối bám thành càng trở nên chính xác và 
dễ dàng hơn [7]. Với những trường hợp huyết khối 
không đồng nhất, khi siêu âm chúng ta cần tìm thêm 
các dấu hiệu nguyên vẹn của thành mạch hay không vì 
những trường hợp này thường có nguy cơ gây vỡ khối 
phình. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường 
hợp vỡ mạn tính khối phình có huyết khối bám thành 
không đồng nhất. Khi đối chiếu với kết quả nghiên 
cứu của một số tác giả khác cũng có kết quả gần 
tương tự. Theo Đoàn Văn Hoan khi nghiên cứu 104 
bệnh nhân PĐMCB có 85/104 trường hợp có huyết 
khối bám thành chiếm tỷ lệ 81.7%. Trong đó huyết 
khối đồng nhất chiếm đa số tỷ lệ 91.8% [3]. Theo 
Phạm Hồng Đức tỷ lệ bệnh nhân PĐMCB có huyết 
khối bám thành là 83,4% [2]. 
4.6. Tình trạng viêm quanh khối phình : 
Theo nghiên cứu của chúng tôi, trong 36 bệnh 
nhân có 3 trường hợp siêu âm thấy viêm quanh khối 
phình (thành động mạch dày, không đều, có phản ứng 
viêm xung quanh) chiếm tỷ lệ 8.3%. Tình trạng viêm 
quanh khối PĐMCB có thể do nhiều yếu tố và biểu 
hiện lâm sàng khác nhau. Một số yếu tố như : yếu tố 
nội mạc, yếu tố di truyền, yếu tố môi trường, chúng 
tác động lên các lớp áo thành mạch gây ra phình mạch 
sau đó dẫn đến viêm quanh khối phình ĐM. Khi có 
viêm quanh khối phình thì trên SA có thể thấy hình 
ảnh thành mạch dày lên không đều và có phản ứng 
viêm dày co kéo ở xung quanh khối phình. 
4.7. Bóc tách trong khối PĐMCB : 
Bóc tách nội mạc động mạch cũng hay gặp trong 
PĐMCB. Khi nội mạc ĐM bị bóc tách khối phình sẽ 
hình thành hai lòng ĐM: Lòng thật và lòng giả. Lòng 
thật là lòng chính của ĐM, khi SA thấy dòng chảy có 
vận tốc lớn hơn, có 3 pha trên siêu âm doppler xung. 
Lòng giả thường có kích thước lớn hơn, dòng chảy có 
vận tốc thấp, thành không đều và thường có huyết 
khối bên trong, trên SA doppler xung không thấy 
dòng chảy 3 pha. Theo số liệu nghiên cứu của Phan 
Thanh Hải, Nguyễn Thiện Hùng và cộng sự thì tỷ lệ 
bóc tách nội mạc trong khối PĐMCB là 26.4% [4]. 
Theo nghiên cứu của chúng tôi, khi khảo sát 36 bệnh 
nhân PĐMCB có 2 bệnh nhân có bóc tách ĐM thấy 
được trên SA chiếm tỷ lệ 5.6%. 
4.8. Tình trạng xơ vữa, vôi hóa thành khối phình 
Theo bảng 3.12, khi siêu âm thấy đa số khối phình 
có xơ vữa động mạch chiếm tỷ lệ 75%, không có xơ 
vữa chiếm tỷ lệ 25%. Có nhiều nguyên nhân gây 
PĐMCB nhưng chủ yếu là do xơ vữa thành ĐM 
chiếm tỷ lệ 91.1% các nguyên nhân gây ra PĐMCB. 
Trên siêu âm các mảng xơ vữa có hình ảnh giảm âm 
hoặc tăng âm có bóng lưng do vôi hóa, chúng có thể 
nằm ở mặt trước hay mặt sau thành mạch, kích thước 
thay đổi. Theo nghiên cứu của Trần Thiện Hòa, Văn 
Tần và các cộng sự thì người có bệnh lý xơ vữa ĐM 
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG 
 45
có nguy cơ bị PĐMCB gấp 6 lần những người bình 
thường [Error! Reference source not found.]. Theo 
Adam Z. Barkin và các cộng sự thuộc hiệp hội y khoa 
Bắc Mỹ thì tỷ lệ khối PĐMCB có xơ vữa vôi hóa là 
78.5% [8]. Như vậy, qua nghiên cứu của chúng tôi, 
đối chiếu với các tác giả trong và ngoài nước thấy 
PĐMCB chủ yếu là do xơ vữa ĐM. 
4.9. Doppler trong khối phình : 
Theo nghiên cứu của chúng tôi thì trên siêu âm 
Doppler tất cả các khối phình đều có hình ảnh “xoáy” 
bên trong hay là hình ảnh “âm - dương”. Hình ảnh này 
là hình ảnh điển hình cho một khối phình. Nhờ có 
doppler màu nên việc chẩn đoán xác định có khối 
phình được nhanh và chính xác hơn. Nghiên cứu của 
chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn 
Thiện Hùng và Phan Thanh Hải (1996) [4]. 
V. KẾT LUẬN 
Siêu âm kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh rất quan 
trọng trong việc chẩn đoán, điều trị và theo dõi bệnh 
nhân PĐMCB. Siêu âm là phương tiện chẩn đoán đơn 
giản, dễ thực hiện góp phần vào việc chẩn đoán sớm 
của phình động mạch chủ bụng. Hiện nay với các thế 
hệ máy mới với độ ly giải cao nên việc chẩn đoán 
ngày càng chính xác, thêm vào đó siêu âm có sẵn từ 
tuyến cơ sở đến tuyến trung ương, nên người ta đã lựa 
chọn siêu âm là phương tiện để chẩn đoán và tầm soát 
đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao phình động 
mạch chủ bụng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Hoàng Việt Dũng, Đoàn Quốc Hưng, Nguyễn 
Quốc Dũng (2010), “Chẩn đoán và điều trị phẫu 
thuật phồng động mạch chủ bụng tại bệnh viện 
Hữu Nghị”, Ngoại khoa, 2, tr. 22-31. 
2. Phạm Hồng Đức (2001), “Bước đầu nghiên cứu 
đặc điểm hình ảnh phồng động mạch chủ bụng 
bằng kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc”, Luận 
văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú khóa XXII. 
3. Đoàn Văn Hoan (2009), “Nghiên cứu đặc điểm 
hình ảnh và giá trị của chụp cắt lớp vi tính xoắn 
ốc trong chẩn đoán phình động mạch chủ bụng 
dưới thận”, Luận án Tiến sĩ Y học . 
4. Nguyễn Thiện Hùng, Phan Thanh Hải và cs 
(1998), “Siêu âm chẩn đoán phình động mạch chủ 
bụng và dự hậu sau 10 năm”, Y học thực hành, hội 
Y dược học Tp Hồ Chí Minh, (3), tr.3-7. 
5. Nguyễn Phước Bảo Quân (2008), “Cơ sở vật lí”, 
“Cơ quan sau phúc mạc”, Siêu âm bụng tổng quát, 
Nhà xuất bản Thuận Hóa, tr. 39-49, tr. 659-675. 
6. Cao Văn Thịnh (2002), “Phồng động mạch chủ 
bụng dưới động mạch thận : Đặc điểm, chẩn 
đoán, chỉ định điều trị, các yếu tố tiên lượng và 
kết quả sớm”, Luận án Tiến sĩ Y học 2002. 
7. Phạm Minh Thông, Nguyễn Duy Huề (1995), 
“Đóng góp của siêu âm trong chẩn đoán phồng 
động mạch chủ bụng”, Tạp chí Y học thực hành, 
(2), tr. 32. 
8. Adam Z. Barkin, MD, Carlo L. Rosen, MD. 
(2004),” Ultrasound detection of abdominal 
aortic aneurysm”. Emerg Med Clin N Am 22, pp. 
675-682. 
9. Gilbert R.Upchurch, JR. MD. and Timothy A. 
Schaub, MD. (2006), University of Michigan 
Health System, Ann Arbor, Michigan, 
“Abdominal Aortic Aneurysm”, Am Fam 
Physician. 73(7), pp.1198- 1204. 
10. Lorraine L. LaRoy, Peter J. ( 1989), “Imaging of 
Abdominal Aortic Aneurysms”. AJR, pp. 785- 792. 
11. Shweta Bhatt, MD, Hamad Ghazale, MS, 
Vikram S. Dogra, MD (2007), “Sonographic 
Evaluation of the Abdominal Aorta”, Utrasound 
Clinic, 2, pp. 437-453. 
12. Yves Castier (2011), 2“Anevrismes de 
l’aorte abdominale sous-renale”, Sang 
thromose Vaisseaux, 23(7), pp. 348-359. 

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_cua_sieu_am_trong_chan_doan_phinh_dong_m.pdf