Nghiên cứu chỉ số S/A của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai từ 22 đến 37 tuần

Thăm dò Doppler ống tĩnh mạch có vai trò ngày càng quan trọng

trong việc đánh giá lưu lượng tuần hoàn thai nhi cho phép đánh giá chức

năng tim thai.

Mục tiêu: Xây dựng biểu đồ bách phân vị chỉ số S/a của Doppler ống

tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai từ 22 đến 37 tuần để ứng dụng

trong lâm sàng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 640 thai phụ mang thai bình

thường có tuổi thai từ 22-37 tuần được đo chỉ số Doppler ống tĩnh mạch.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.

Kết quả: Chỉ số S/a của Doppler ống tĩnh mạch ở tuổi thai từ 22 đến

37 tuần có mối tương quan chặt chẽ với tuổi thai

Kết luận: Nghiên cứu đã thiết lập được biểu đồ bách phân vị chỉ số

S/a của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai 22-37 tuần

để ứng dụng trong lâm sàng.

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu chỉ số S/A của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai từ 22 đến 37 tuần", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu chỉ số S/A của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai từ 22 đến 37 tuần

Nghiên cứu chỉ số S/A của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai từ 22 đến 37 tuần
NGUYỄN THỊ HỒNG, LÊ HOÀNG, PHAN TRƯỜNG DUYỆT, NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI, ĐẶNGTHỊ HỒNG THIỆN, HOÀNG THỊ NGỌC TRÂM
66
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nguyễn Thị Hồng, Lê Hoàng, Phan Trường Duyệt, Nguyễn Thị Tuyết Mai, ĐặngThị Hồng Thiện, Hoàng Thị Ngọc Trâm 
Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương
NGHIÊN CỨU CHỈ SỐ S/A
CỦA DOPPLER ỐNG TĨNH MẠCH 
Ở THAI BÌNH THƯỜNG TUỔI THAI TỪ 22 ĐẾN 37 TUẦN
Tác giả liên hệ (Corresponding 
author): Nguyễn Thị Hồng, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Từ khóa: ống tĩnh mạch, siêu 
âm Doppler, giá trị tham khảo, 
vận tốc dòng chảy, thai.
Keywords: Ductus venosus, 
Doppler ultrasound, Reference, 
flow velocity waveform, fetus.
Tóm tắt
Thăm dò Doppler ống tĩnh mạch có vai trò ngày càng quan trọng 
trong việc đánh giá lưu lượng tuần hoàn thai nhi cho phép đánh giá chức 
năng tim thai. 
Mục tiêu: Xây dựng biểu đồ bách phân vị chỉ số S/a của Doppler ống 
tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai từ 22 đến 37 tuần để ứng dụng 
trong lâm sàng. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 640 thai phụ mang thai bình 
thường có tuổi thai từ 22-37 tuần được đo chỉ số Doppler ống tĩnh mạch. 
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. 
Kết quả: Chỉ số S/a của Doppler ống tĩnh mạch ở tuổi thai từ 22 đến 
37 tuần có mối tương quan chặt chẽ với tuổi thai 
Kết luận: Nghiên cứu đã thiết lập được biểu đồ bách phân vị chỉ số 
S/a của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường tuổi thai 22-37 tuần 
để ứng dụng trong lâm sàng.
Từ khóa: ống tĩnh mạch, siêu âm Doppler, giá trị tham khảo, vận tốc 
dòng chảy, thai.
Abstract 
THE S/A INDEX OF DUCTUS VENOSUS 
DOPPLER OF NORMAL FETUSES FROM 22 TO 37 
GESTATIONAL WEEK 
Prenatal Doppler ultrasound of ductus venosus plays an important 
role in evaluation of fetal circulation and fetal heart function. 
Objectives: To create establish percentile chart of Ductus venosus 
S/a index among normal fetuses from 22 to 37 week. 
Subject and method: there were 640 pregnant women from 22 to 
37 week of gestation, all of them had Doppler ultrasound of Ductus 
venosus indices. Methodology: this is a cross-sectional study. 
Results: a high correlation between S/a index Ductus venosus and 
gestational week 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 66 - 70, 2017
67
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Conclusions: This study have created percentile chart for: S/a index of Ductus venosus Doppler 
among normal fetuses from 22 to 37 week of gestation. This chart will be useful for appling to 
practice in clinical.
Keywords: Ductus venosus, Doppler ultrasound, Reference, flow velocity waveform, fetus. 
1. Đặt vấn đề
Siêu âm Doppler màu cho thấy hình ảnh dòng 
chảy của mạch máu từ đó có thể cho phép đánh 
giá được những thay đổi huyết động của thai nhi.
Ống tĩnh mạch là cấu trúc mạch máu nối từ 
tĩnh mạch rốn đến tĩnh mạch chủ dưới của thai, 
mang máu giàu ôxy của tĩnh mạch rốn về tĩnh 
mạch chủ dưới. Đo chỉ số Doppler của ống tĩnh 
mạch đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới 
báo cáo cho thấy nó có vai trò ngày càng quan 
trọng trong việc đánh giá lưu lượng tuần hoàn 
của thai nhi [1]. Tuy nhiên, để đánh giá giá trị 
của các chỉ số Doppler ống tĩnh mạch trong siêu 
âm thai cần phải xây dựng được giá trị phạm vị 
tham chiếu bình thường của các chỉ số Doppler 
ống tĩnh mạch theo tuổi thai. Đồng thời cần phải 
có giá trị phạm vi tham chiếu riêng cho từng 
chủng tộc dân số. Một số nghiên cứu đã chỉ ra 
rằng có sự khác nhau về chỉ số Doppler ống tĩnh 
mạch giữa các quần thể dân số, cho nên tiêu 
chuẩn để chẩn đoán đối với từng quần thể có sự 
khác nhau [2],[3]. 
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về giá 
trị tham khảo bình thường của các chỉ số Doppler 
ống tĩnh mạch được công bố: Axt- Filiedner 
(2003) [2], Alessandra (2009) [3], Bahlmann 
(2000) [4], Glani (2010)[5], Kessler (2006) [6], 
Tongpraget (2012) [7], Turan (2014) [8]. Tại 
Việt Nam, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào 
về Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường, 
bởi vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với 
mục tiêu:
Xây dựng biểu đồ bách phân vị chỉ số S/ a 
của Doppler ống tĩnh mạch ở thai bình thường 
tuổi thai từ 22 đến 37 tuần.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Gồm 480 thai 
phụ mang thai bình thường có tuổi thai từ 22 - 37 
tuần đến khám thai và siêu âm thai được lựa chọn 
từ khoa khám bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Phụ Sản 
Trung Ương.
2.2. Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6 năm 
2014 đến tháng 12 năm 2016
2.3. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên 
cứu mô tả cắt ngang. 
Tiêu chuẩn lựa chọn :
- Thai bình thường.
- Tuổi thai 22-37 tuần.
- Tính tuổi thai dựa trên ngày đầu tiên của kinh 
cuối cùng phù hợp với siêu âm.
- Không có biến chứng sản khoa trong thời kỳ 
mang thai.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Tăng trưởng thai nhi bất thường hoặc thai 
chậm phát triển (dưới đường bách phân vị10 hoặc 
trên đường bách phân vị 90).
- Thai bất thường.
- Đa thai.
- Mẹ mắc bệnh mãn tính: tiểu đường, tim mạch.
- Không thu được sóng Doppler ống tĩnh mạch 
trên siêu âm.
2.4. Chỉ tiêu nghiêncứu
- Tuổi mẹ, tuổi thai, tiền sử sản khoa
- Chỉ số S/a của Doppler ống tĩnh mạch
2.5. Quy trình thu thập số liệu
- Phỏng vấn các thai phụ: tuổi, địa chỉ, tiền sử, 
kết quả khám thai...
- Siêu âm đo Doppler ống tĩnh mạch: máy siêu 
âm màu 4 chiều Voluson 730Pr.
NGUYỄN THỊ HỒNG, LÊ HOÀNG, PHAN TRƯỜNG DUYỆT, NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI, ĐẶNGTHỊ HỒNG THIỆN, HOÀNG THỊ NGỌC TRÂM
68
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
+ Thai nằm yên khi thực hiện thăm dò, sử dụng 
lát cắt dọc giữa phải, phóng to hình ảnh để lồng 
ngực và bụng thai chiếm toàn bộ màn hình.
+ Trên lát cắt dọc giữa đi qua tâm thất phải, sử 
dụng Doppler màu để xác định, sẽ thấy động mạch 
chủ dưới đi dọc phía trước cột sống có đường kính 
lớn. Phía trước trên ngang ngực thai là thất phải của 
tim thai nối liền với tĩnh mạch chủ dưới chạy dọc 
phía trước động mạch chủ. Điểm mốc dễ thấy nhất 
là tĩnh mạch rốn chảy vào gan thai. Đi theo tĩnh 
mạch rốn ta sẽ gặp một nhánh nối từ tĩnh mạch rốn 
vào tĩnh mạch chủ dưới, đó chính là ống tĩnh mạch.
+ Phân tích định tính: Phổ Doppler ống tĩnh 
mạch có 3 pha: 
- Sóng S: tâm thu thất, đồng thời ống tĩnh mạch 
co bóp để máu đi qua lỗ bầu dục.
- Sóng D: tâm trương thất, van 3 lá mở tạo áp 
lực âm hút máu về tim.
- Sóng a: nhĩ phải co bóp cuối tâm trương
- Xác định hình dạng phổ Doppler bình thường, 
sóng a luôn dương.
- Khi đạt được 5 phổ Doppler trên băng trôi của 
màn hình, thì dừng lại để phân tích và tiến hành 
đo các chỉ số
- Các chỉ số được đo một cách tự động trên máy 
siêu âm, khi đặt thước đo lên điểm cao nhất của 
sóng S, D,a.
2.6. Xử lý số liệu: số liệu được quản lý và 
phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0.
- Phân tích quy luật phát triển của các giá trị 
trung bình về các chỉ số Doppler ống tĩnh mạch 
bằng phương pháp tính mối tương quan giữa hai 
đại lượng theo từng hàm số y = f(x) với y là chỉ số 
S/a, x là tuổi thai), có mối tương quan khi r > 0,5. 
tương quan chặt chẽ khi r > 0,7.
- Tính giá trị trung bình của các chỉ số bằng 
cách giải hàm số tương quan được chọn lọc có r 
cao nhất. Đường biểu diễn các giá trị trung bình 
của y tương ứng với x biểu thị quy luật biến thiên 
của chỉ số S/a theo tuổi thai.
- Phân tích sự phân bố của các giá trị quan sát 
chuẩn (Gauss) hay không dùng thuật toán tính hệ 
số nhọn và hệ số lệch đã chứng minh phân phối 
chuẩn khi: hệ số nhọn Kurtosis ≤ ± 2; hệ số lệch 
Skewness ≤ ± 2. 
Nếu phân phối chuẩn thì các giá trị tương ứng 
với các đường bách phân vị 97, 95, 90, 50, 10, 
5, 3, theo công thức: Đường bách phân vị 97 và 
3 = X ± 1,88 SD; Đường bách phân vị 95 và 5 = 
X ± 1,645 SD; Đường bách phân vị 90 và 10= X 
± 1,28 SD
- Đường bách phân vị 50 = X = giá trị được tính 
sau khi giải phương trình tương ứng (r cao nhất) 
2.7. Đạo đức trong nghiên cứu
Siêu âm là phương pháp thăm dò, không có hại 
đối với sức khỏe bà mẹ cũng như thai nhi. Tất cả 
những thai phụ tham gia vào nghiên cứu sẽ được 
thông báo, giải thích rõ yêu cầu mục đích của 
nghiên cứu và tự nguyện tham gia.
Các thông tin cá nhân của thai phụ trong 
nghiên cứu này hoàn toàn được giữ kín chỉ phục 
vụ cho nghiên cứu. 
3. Kết quả nghiên cứu
Trong thời gian từ tháng 6 năm 2014 đến 
tháng 12 năm 2016 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung 
Ương, chúng tôi đã lựa chọn đươc 640 thai phụ 
thỏa mãn các điều kiện đưa vào nghiên cứu.
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Thai phụ có độ tuổi 20-35 chiếm tỉ 
lệ cao nhất 86,1%; số thai phụ mang thai lần thứ 
nhất chiếm 65,6%.
3.2. Chỉ số S/a tương ứng với tuổi thai
3.2.1. Giá trị trung bình của chỉ số S/a tương 
ứng với tuổi thai
Nhận xét: Bảng 2- Giá trị trung bình thô của chỉ 
số S/ a giảm dần theo tuổi thai.
3.2.2. Đặc điểm phân bố các giá trị quan sát 
về chỉ số vận tốc theo tuổi thai
Các đặc điểm Số thai phụ Tỉ lệ %
Tuổi mẹ
18-19
20-35
36-40
6
556
78
0,9
86,9
12,0
Số lần mang thai
1
2
3
393
179
68
61,4
28,0
10,6
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Từ bảng trên chúng tôi vẽ được biểu đồ bách 
phân vị về chỉ số S/a ống tĩnh mạch theo tuổi thai 
từ 22- 37 tuần.
4. Bàn luận
4.1. Bàn luận về đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu đều được chọn lựa theo 
đúng tiêu chuẩn đề ra đó là những trường hợp thai 
nghén bình thường người mẹ hoàn toàn khỏe mạnh. 
Nghiên cứu này là nghiên cứu mô tả cắt ngang được 
tiến hành trên số lượng lớn bệnh nhân, mỗi bệnh 
nhân là một lần đo với sự hiện diện biến đổi sinh 
học lớn được quan sát sẽ mang tính đại diện cho 
quần thể hơn. Phương pháp nghiên cứu của chúng 
tôi cũng giống như nghiên cứu của Axt- Fleidner 
(2004) trên 329 phụ nữ đơn thai có tuổi thai 20-
42 tuần [2]. Nghiên cứu của Tongpraget (2012) tại 
Thái Lan trên 694 thai phụ nguy cơ thấp có tuổi thai 
từ 14-40 tuần [7]. Nghiên cứu của Bahlman tại Đức 
tiến hành trên 696 thai phụ có nguy cơ thấp ở tuổi 
thai từ 14-41 tuần [4]. Các nghiên cứu cắt ngang dễ 
thu thập đối tượng nghiên cứu, quá trình nghiên cứu 
thuận lợi, không bị mất đối tượng nghiên cứu, có thể 
tiến hành trên số lượng lớn đối tượng nên kết quả 
nghiên cứu đạt độ chính xác đáng tin cậy không 
kém phương pháp nghiên cứu theo chiều dọc. Hiện 
nay phần lớn các tác giả đều lựa chọn phương pháp 
này để xây dựng biểu đồ bách phân vị.
Các nghiên cứu theo chiều dọc kết quả thu 
được bằng cách đánh giá nối tiếp trên một bệnh 
nhân, cỡ mẫu nhỏ như nghiên cứu của Alessandra 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 66 - 70, 2017
69
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Tuổi thai Số nghiên cứu Giá trị trung bình thô Độ lệch chuẩn
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
54
49
41
38
40
45
42
40
39
42
50
35
32
32
31
30
2,67
2,70
2,37
2,43
2,62
2,40
2,36
2,39
2,41
2,16
2,14
2,32
2,28
2,25
2,08
2,11
0,50
0,56
0,52
0,49
0,54
0,54
0,55
0,59
0,62
0,38
0,51
0,55
0,50
0,48
0,42
0,40
Bảng 2. Giá trị trung bình thô của chỉ số S/a theo tuổi thai 22-37 tuần
Khảo sát tính phân phối chuẩn của chỉ số S/a 
cho thấy hệ số lệch và hệ số nhọn trong từng lớp 
tuổi thai nằm trong khoảng từ -2 đến +2 điều đó 
chứng tỏ chỉ số S/a trong từng lớp tuổi thai tuân 
theo quy luật phân phối chuẩn. 
3.2.3. Quy luật phát triển của chỉ số S/a của 
ống tĩnh mạch ở tuổi thai từ 22- 37 tuần
Nhận xét: Hàm số bậc 2 có hệ số tương quan 
giữa chỉ số S/a với tuổi thai cao nhất phản ánh 
quy luật biến thiên của chỉ số vận tốc theo tuổi thai. 
3.2.4. Các giá trị về chỉ số S/ a ống tĩnh mạch 
ở tuổi thai 22-32 tuần
Hàm số Phương trình R
Bậc 1
Bậc 2
Bậc 3
y = 0,079x
y = 0,201x - 0,04x2
y = 0,357x - 0,15x2 + x3
0,81
0,90
0,85
Bảng 3. Hàm số biểu thị quy luật phát triển của chỉ số S/a
Tuổi thai SD Phân bố tỉ lệ S/a theo đường bách phân vị 
3% 5% 10% 50% 90% 95% 97%
22 0,37 1,78 1,87 2,01 2,49 2,96 3,10 3,19
23 0,39 1,77 1,86 2,01 2,51 3,01 3,15 3,24
24 0,41 1,75 1,85 2,00 2,52 3,04 3,19 3,29
25 0,43 1,73 1,83 1,98 2,53 3,07 3,22 3,32
26 0,44 1,69 1,79 1,96 2,52 3,09 3,25 3,35
27 0,46 1,65 1,76 1,92 2,51 3,10 3,27 3,37
28 0,48 1,60 1,71 1,88 2,49 3,10 3,28 3,39
29 0,49 1,54 1,65 1,83 2,47 3,10 3,28 3,39
30 0,51 1,47 1,59 1,78 2,43 3,08 3,27 3,39
31 0,53 1,40 1,52 1,71 2,39 3,06 3,25 3,38
32 0,54 1,31 1,44 1,64 2,34 3,03 3,23 3,36
33 0,56 1,22 1,35 1,56 2,28 3,00 3,20 3,33
34 0,58 1,12 1,26 1,47 2,21 2,95 3,16 3,30
35 0,60 1,02 1,16 1,37 2,14 2,90 3,11 3,25
36 0,61 0,90 1,05 1,27 2,05 2,84 3,06 3,20
37 0,63 0,78 0,93 1,16 1,96 2,77 3,00 3,14
Bảng 4. Các giá trị chỉ số S/a tương ứng với đường bách phân vị 3,5,10,50,90,95,97 theo tuổi 
thai 22-37 tuần
Biểu đồ 1. Bách phân vị chỉ S/a ống tĩnh mạch theo tuổi thai từ 22-37 tuần
NGUYỄN THỊ HỒNG, LÊ HOÀNG, PHAN TRƯỜNG DUYỆT, NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI, ĐẶNGTHỊ HỒNG THIỆN, HOÀNG THỊ NGỌC TRÂM
70
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
(2009) tại Brazil trên 60 thai phụ nguy cơ thấp có 
tuổi thai từ 20 - 40 tuần được siêu âm 4 tuần một 
lần [3]. Nghiên cứu của Kessles et al (2006) trên 
160 trường hợp thai nghén bình thường tuổi thai từ 
20- 40 tuần tại Anh [6]. 
4.2. Bàn luận về kết quả nghiên cứu
Phân tích giá trị của chỉ số S/a tại nghiên cứu 
này cho thấy tỉ lệ S/a của ống tĩnh mạch có tương 
quan chặt chẽ với tuổi thai và có xu hướng giảm 
khi tuổi thai tăng lên, chứng tỏ tuần hoàn trong các 
gai rau thuận lợi làm cho sự trao đổi chất giữa mẹ 
và thai dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát 
triển của thai không có nguy cơ thai chậm phát 
triển trong tử cung. Nhận định này phù hợp so với 
các nghiên cứu khác trên thế giới cùng tiến hành 
trên thai nghén bình thường Các giá trị về chỉ số 
S/a thu được trong nghiên cứu này, thấp hơn so 
với báo cáo của của Axt Fleidner và cộng sự (2004) 
[2] và Kessles và cộng sự (2006) [6], nhưng chỉ 
số này gần giống như các chỉ số trong báo cáo 
của Bahlmanm (2000) [4], Alessandra (2009) [3]. 
Khác biệt này có thể do quần thể nghiên cứu khác 
nhau, phương pháp thống kê khác nhau, chủng tộc 
dân số khác nhau, vì vậy xây dựng hằng số sinh về 
chỉ số Doppler ống tĩnh mạch là cần thiết.
Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy siêu 
âm đo Doppler ống tĩnh mạch là một phần quan 
trọng của siêu âm thai, trở thành một công cụ quan 
trọng để đánh giá chức năng tuần hoàn thai nhi 
trên lâm sàng. Các phạm vi tham chiếu thu được 
trong nghiên cứu này giúp chẩn đoán tình trạng 
bình thường của thai nhi từ đó phát hiện những thai 
nghén bất thường.
5. Kết luận
Chỉ số S/a của Doppler ống tĩnh mạch ở thai 
bình thường từ 22 đến 37 tuần có mối tương quan 
chặt chẽ với tuổi thai theo hàm số bậc 2: y = 
0,201x - 0,04x2 . Hàm số này là cơ sở để tính các 
giá trị tương ứng với đường bách phân vị 3, 5, 10, 
50, 90, 95, 97 để xây dựng biểu đồ bách phân vị 
của chỉ số S/a ống tĩnh mạch tương ứng với tuổi 
thai từ 22-37 tuần.
Tài liệu tham khảo
1. Axt-Fliedner, R., Diler, S., Georg, T. và cộng sự (2004). Reference 
values of ductus venosus blood flow velocities and waveform indices from 
10 to 20 weeks of gestation. Arch Gynecol Obstet, 269 (3), 199-204.
2. Axt-Fliedner, R., Wiegank, U., Fetsch, C. và cộng sự (2004). 
Reference values of fetal ductus venosus, inferior vena cava and hepatic 
vein blood flow velocities and waveform indices during the second and 
third trimester of pregnancy. Arch Gynecol Obstet, 270 (1), 46-55.
3. Alessandra, C. M., A. C., Aderson T. Berezowki, Gerson C. Crott và 
cộng sự (2009). Longitudinal reference values for ductus venosus doppler 
in low- risk pregnenciesJ Utrasound Med, 36 (3), 392-396.
4. Bahlmann, F., Wellek, S., Reinhardt, I. và cộng sự (2000). Reference 
values of ductus venosus flow velocities and calculated waveform indices. 
Prenat Diagn, 20 (8), 623-634.
5. Gilani, S. A., Javaid, A. và Bala, A. A. (2010). Fetal Doppler ultrasound 
assessment of ductus venosus in a 31-40 [corrected] weeks gestation 
normal fetus in the Pakistani population. Med Ultrason, 12 (2), 110-113.
6. Kessler, J., Rasmussen, S., Hanson, M. và cộng sự (2006). 
Longitudinal reference ranges for ductus venosus flow velocities and 
waveform indices. Ultrasound Obstet Gynecol, 28 (7), 890-898.
7. Tongprasert, F., Srisupundit, K., Luewan, S. và cộng sự (2012). 
Normal reference ranges of ductus venosus Doppler indices in the period 
from 14 to 40 weeks’ gestation. Gynecol Obstet Invest, 73 (1), 32-37.
8. Turan, O. M., Turan, S., Sanapo, L. và cộng sự (2014). Semiquantitative 
classification of ductus venosus blood flow patterns. Ultrasound Obstet 
Gynecol, 43 (5), 508-514.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_chi_so_sa_cua_doppler_ong_tinh_mach_o_thai_binh_t.pdf