Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh giãn não thất thai nhi phát hiện ở 3 tháng cuối thai kì tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm về hình ảnh siêu âm và kết cục thai kìở thai
nhi có giãn não thất 3 tháng cuối.
Phương pháp: Mô tả tiến cứu. Đối tượng gồm 41 sản phụ có tuổi thai
từ 28 tuần trở lên được chẩn đoán giãn não thất thai nhi tại Trung tâm
Chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong thời gian
từ 06/2017 đến 03/2018.
Kết quả: Tuổi thai trung bình tại thời điểm chẩn đoán giãn não thất 3
tháng cuối là 30,07 ± 2,94 tuần (28 tuần – 39 tuần). Giãn não thất nặng
chiếm 38% và giãn não thất nhẹ là 62 %. giãn não thất có thể đơn độc
(63,4%), có thể phối hợp với các bất thường hình thái khác (36,6%),
trong đó hay gặp nhất là bất sản thể chai (22%). Tỷ lệ ngừng thai nghén
là 29,2%.
Kết luận: Giãn não thất được chẩn đoán ở quý 3 của thai kì phần
lớn được phát hiện ở tuần 28-32 (82,9 %). Giãn não thất đơn độc hoặc
không tìm thấy nguyên nhân chiếm 63,4%. Tỷ lệ giãn não thất nặng
chiếm 38 % và tỷ lệ đình chỉ thai nghén là 29,2%.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh giãn não thất thai nhi phát hiện ở 3 tháng cuối thai kì tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TRẦN PHƯƠNG THANH, TRẦN DANH CƯỜNG, ĐẶNG PHƯƠNG THÚY 68 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Trần Phương Thanh(1), Trần Danh Cường(2), Đặng Phương Thúy(3) (1) Bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên, (2) Đại học Y Hà Nội, (3) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH GIÃN NÃO THẤT THAI NHI PHÁT HIỆN Ở 3 THÁNG CUỐI THAI KÌ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Trần Phương Thanh, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 02/04/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 02/04/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 27/04/2018 Từ khóa: Giãn não thất, siêu âm thai, kết cục thai kì. Keywords: Ventriculomegaly, fetal ultrasound, outcome. Tóm tắt Mục tiêu: Mô tả đặc điểm về hình ảnh siêu âm và kết cục thai kìở thai nhi có giãn não thất 3 tháng cuối. Phương pháp: Mô tả tiến cứu. Đối tượng gồm 41 sản phụ có tuổi thai từ 28 tuần trở lên được chẩn đoán giãn não thất thai nhi tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong thời gian từ 06/2017 đến 03/2018. Kết quả: Tuổi thai trung bình tại thời điểm chẩn đoán giãn não thất 3 tháng cuối là 30,07 ± 2,94 tuần (28 tuần – 39 tuần). Giãn não thất nặng chiếm 38% và giãn não thất nhẹ là 62 %. giãn não thất có thể đơn độc (63,4%), có thể phối hợp với các bất thường hình thái khác (36,6%), trong đó hay gặp nhất là bất sản thể chai (22%). Tỷ lệ ngừng thai nghén là 29,2%. Kết luận: Giãn não thất được chẩn đoán ở quý 3 của thai kì phần lớn được phát hiện ở tuần 28-32 (82,9 %). Giãn não thất đơn độc hoặc không tìm thấy nguyên nhân chiếm 63,4%. Tỷ lệ giãn não thất nặng chiếm 38 % và tỷ lệ đình chỉ thai nghén là 29,2%. Từ khóa: Giãn não thất, siêu âm thai, kết cục thai kì. Abstract PRENATAL DIAGNOSIS OF 3RD TRIMESTER FETAL CEREBRAL VENTRICULOMEGALY IN NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY Objectives: To describe the ultra - sonographic and outcome of 3rd trimester fetal cerebral ventriculomegaly. Methods: This is prospective study of forty one pregnant womens whose fetuses diagnosed with fetal cerebal ventriculomegaly in in Prenatal Diagnosis Central - National Hospital Obstetrics and Gynecology from the period starting June 2017 to March 2018. Result: Median gestational age at diagnosis was 30.07 ± 2.94 weeks (28 weeks - 39 weeks). There were 38% case severe ventriculomegaly TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 68 - 72, 2018 69 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 and 62% (83/106) cases mild ventriculomegaly. Many cases are associated with other abnormal findings, but im some fetuses ventriculomegaly is the only abnormality. There are five etiologic groups: agenesis corpus collosum accounted for 22%, absence septum pelucidum 7.3 %. There were 12 cases (29.2%) of elective pregnancy termination. Conclusion: Fetal cerebral ventriculomegaly can be diagnosed by ultrasound. Isolated ventriculomegaly accounted for 63.4%. Severe ventriculomegaly accounted for 38%. There were 12 cases (29.2%) of elective pregnancy termination. Keyword: Ventriculomegaly, fetal ultrasound, outcome. 1. Đặt vấn đề Giãn não thất (GNT) thai nhi là một trong những bất thường hệ thần kinh hay gặp nhất trong siêu âm sàng lọc trước sinh [1]. Giãn não thất thai nhi là khi kích thước của một hoặc cả hai não thất bên đo được tại ngã tư não thất từ 10 mm trở lên. Giãn não thất nhẹ là từ 10- 15 mm. Giãn não thất nặng khi kích thước não thất bên trên 15 mm. Giãn não thất có thể là đơn độc nhưng cũng có thể là triệu chứng của bất thường khác. Các nguyên nhân có thể là nhiễm trùng bẩm sinh (toxoplasma, rubella, cytomegalovirus, herpes), bất thường nhiễm sắc thể hoặc bất thường hệ thống thần kinh (bất sản thể chai, nứt đốt sống, Dandy Walker) [2]. Việc khảo sát thường quy hệ thần kinh trung ương (TKTW) được tiến hành vào tuần thứ 18-22 của thai kỳ (quý II). Một số bất thường của hệ TKTW có thể thấy được trong ngay quý I như không phân chia não trước, thai vô sọ, thoát vị não, màng não. Trong khi một số khác có thể xuất hiện muộn ở quý III như chứng lỗ não, chảy máu não thất. Chẩn đoán giãn não thất vào quý 3 của thai kì có thể do bệnh xuất hiện muộn, có thể do sự thiếu sót của bác sĩ chẩn đoán trước sinh. Việc chẩn đoán muộn trong những trường hợp như bất sản thể chai, spina bifida, nhẵn não sẽ gây ra những khó khăn trong quyết định đình chỉ thai nghén hay không, và tăng cao tỷ lệ sinh con dị tật hệ TKTW. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứuvới mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm và kết cục thai kỳ ở thai nhi giãn não thất được phát hiện ở quí 3 của thai kì. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu 41 thai phụ có chẩn đoán giãn não thất tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong thời gian 06/2017 – 03/2018 với những tiêu chuẩn sau: tuổi thai từ 28-40 tuần tính theo ngày kinh cuối hay theo kết quả siêu âm ở quý 1, não thất bên của thai nhi ≥ 10 mm, các hồ sơ có kết luận của hội đồng chẩn đoán trước sinh - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương xác định có giãn não thất thai nhi và có hướng xử trí. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp mô tả tiến cứu 2.3. Phương pháp siêu âm xác định giãn não thất Mặt cắt đo kích thước não thất bên nên đạt đầy đủ các tiêu chuẩn sau: Cấu trúc đường giữa được cách đều bởi vòm sọ gần và vòm sọ xa, vách trong suốt Hình 1. Phương pháp đo não thất bên trên siêu âm TRẦN PHƯƠNG THANH, TRẦN DANH CƯỜNG, ĐẶNG PHƯƠNG THÚY 70 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N được nhìn thấy như là mốc trước và hố quanh là mốc sau; thước đo đặt vị trí đối diện với rãnh đỉnh-chẩm trong; thước đo đặt thẳng góc với thành trong và thành ngoài của não thất (trục dọc của não thất bên); thước đo đặt ở mép trong của thành não thất [3]. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Kích thước não thất bên Nhận xét: Có 16 trường hợp giãn não thất nhẹ (39%) với kích thước não thất bên từ 10-15 mm và 25 trường hợp giãn não thất nặng (61%) với kích thước não thất bên trên 15 mm, trường hợp nặng nhất não thất giãn 34 mm. 3.2. Tuổi thai tại thời điểm chẩn đoán Nhận xét: Tuổi thai trung bình tại thời điểm chẩn đoán thai nhi có giãn não thất ở 3 tháng cuối của thai kì là 30,07 ± 2,94 tuần. Sớm nhất là 28 tuần, muộn nhất là 39 tuần. 82,8% trường hợp được chẩn đoán ở 28-32 tuần. Tuy nhiên tỷ lệ giãn não nặng phát hiện ở ngoài 32 tuần là 57,1% khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm 28-32 tuần (35,3%) với p = 0,025. 3.3. Phân bố một số nguyên nhân gây giãn não thất Biểu đồ 1. kích thước não thất bên GNT nhẹ GNT nặng p 28-32 tuần 22 (64,7%) 12 (35,3%) 0,025Trên 32 tuần 3 (43,9%) 4 (57,1%) Tổng 25 16 Bảng 1. Tuổi thai theo thời điểm chẩn đoán Biểu đồ 2. Phân bố một số nguyên nhân gây giãn não thất Nhận xét: 26 trường hợp giãn não thất đơn độc (63,4%). 15 trường hợp (36,6%) giãn não thất kèm theo các bất thường khác, trong đó hay gặp nhất là bất sản thể chai chiếm 22%. 3.4. Phân bố giữa mức độ giãn não thất với các bất thường đi kèm Nhận xét: Tỷ lệ giãn não thất nặng ở nhóm đơn độc là 42,3%, trong khi ở nhóm có bất thường đi kèm là 33,33% với p là 0,417 khác biệt không có ý nghĩa thống kê. 3.5. Giới tính của trẻ được chẩn đoán giãn não thất thai nhi Nhận xét: Trong số 41trường hợp thai nhi có chẩn đoán giãn não thất ở quý 3 thì tỷ lệ trẻ nam chiếm 65,9 %, gấp 1,9 lần trẻ nữ. Số trẻ nam giãn não thất nặng là 12 trường hợp (44,4 %) trong đó số trẻ nữ giãn não thất nặng là 4 trường hợp ( 28,6 %). Khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,03 3.6. Liên quan giữa đình chỉ thai nghén và các yếu tố Nhận xét: Trong số 41 trường hợp thai nhi có chẩn đoán giãn não thất ở quý 3 thì có 12 trường hợp đình chỉ thai nghén. Ở nhóm GNT nhẹ đình chỉ 9 TH chiếm 36% và GNT nặng đình chỉ 3 TH chiếm 18,8 %. Với p = 0,305 không có sự khác biệt về chỉ định đình chỉ trong hai nhóm giãn não thất nặng và giãn não thất nhẹ. Tuy nhiên tỉ lệ đình chỉ GNT nhẹ GNT nặng p Đơn độc 15 (57,7%) 11 (42,3%) 0,417Bất thường khác 10 (66,67%) 5 (33,33%) Tổng 25 16 Bảng 2. Phân bố giữa mức độ giãn não thất và các bất thường đi kèm Nam Nữ p GNT nhẹ 15 (55,6%) 10 (71,4%) 0,03GNT nặng 12 (44,4%) 4 (28,6%) Tổng 27 (100%) 14 (100%) Bảng 3. Giới tính Đình chỉ Giữ thai p GNT nhẹ 9 (36%) 16 (64%) 0,305GNT nặng 3 (18,8%) 13 (81,2%) Tổng 12 29 Bảng 4. Liên quan giữa đình chỉ thai nghén và mức độ giãn não thất Đình chỉ Giữ thai p Đơn độc 5 (18,5%) 22 (81,5%) 0,043Bất thường khác 7 (50 %) 7(50%) Tổng 12 29 Bảng 5. Liên quan giữa đình chỉ thai nghén và các bất thường khác đi kèm SẢ N K H O A – S Ơ S IN H TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 68 - 72, 2018 71 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 ở nhóm giãn não thất đơn độc (18,5%) và nhóm có bất thường khác kèm theo (50%) thì khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,043. 4. Bàn luận Giãn não thất có thể đơn độc hoặc cũng có thể là triệu chứng của bất thường hệ thần kinh khác. Nhiều trường hợp xuất hiện đơn độc sau lại tìm thấy những bất thường khác sau khi sinh, đặc biệt là giãn não thất trên 15mm. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ giãn não thất đơn độc hoặc chưa tìm thấy nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất là 63,4%, trong nhóm giãn não thất có nguyên nhân ở hệ thần kinh trung ương gặp nhiều nhất là bất sản thể chai chiếm 22%. Nguyên nhân của giãn não thất thai nhi có thể được phân chia thành mất mô não, tắc nghẽn của hệ thống não thất hoặc sản xuất quá mức dịch não tủy [4]. Teo não dẫn đến mất mô não có thể xảy ra do rối loạn chuyển hóa, nhiễm trùng hoặc thiếu oxy não hoặc nhồi máu và nó thường dẫn đến sự bất đối xứng giữa hai não thất bên. Tắc nghẽn xảy ra do hẹp cống não. Nguyên nhân phổ biến của hẹp cống não là nhiễm trùng thai hoặc xuất huyết nội sọ. Bất sản thể chai là bất thường phổ biến nhất trong giãn não thất thai nhi [5]. Tuy nhiên đây là bất thường dễ bị bỏ sót trên siêu âm. Có thể dùng Doppler màu để tìm kiếm sự vắng mặt của 1 phần hoặc toàn bộ động mạch quanh thể chai. Kết quả phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật của bác sĩ siêu âm. Để cải thiện kết quả chẩn đoán có thể chụp cộng hưởng từ thai nhi (MRI). MRI đặc biệt hữu ích để phát hiện các ổ xuất huyết não nhỏ, bất sản thể chai và đánh giá sự phát triển của vỏ não [6]. Hơn nữa một số bất thường chẳng hạn như nhẵn não, rối loạn di trú neuron, bệnh lý chất trắng có thể được phát hiện tốt hơn trên MRI so với siêu âm.Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 5 trường hợp chụp MRI thai nhi, có 3 trường hợp đồng thuận với kết quả trên siêu âm, 2 trường hợp loại trừ bất thường đang nghi ngờ là nhẵn não. Theo Kandula (2015) MRI phát hiện bổ sung nguyên nhân trong 17% trường hợp giãn não thất chưa tìm thấy nguyên nhân trên siêu âm [7]. Tuy nhiên khả năng tìm kiếm bất thường khác trên MRI lại phụ thuộc nhiều vào kết quả siêu âm trước đó, thay đổi từ 5- 50% trong các nghiên cứu khác nhau [8-11]. Hiện tại cũng chưa có sự đồng thuận về giá trị lâm sàng của phương pháp này. Hạn chế của MRI chất lượng kém chủ yếu do chuyển động của thai nhi. Trong số 41 trường hợp được nghiên cứu, có 7 ca được chụp MRI sau sinh, trong đó có 3 ca phát hiện thêm bất thường khác của hệ thần kinh là những bất thường: bất sản thể chai không hoàn toàn và nhẵn não. Với bất thường của cơ quan khác có 1 ca có bất thường tim được chẩn đoán trước sinh và 2 ca được chẩn đoán sau sinh bao gồm lỗ rò hậu môn, không có hậu môn và phình đại tràng bẩm sinh. Các tác giả của phân tích meta lưu ý rằng sau sinh có thể phát hiện những bất thường chưa được chẩn đoán trước đây (âm tính giả) ở 7,4% (95% CI: 3,1- 11,8%) của các trường hợp [12]. Giãn não thất gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái gấp khoảng 1,9 lần. Kết quả này cũng gần như nghiên cứu của Melchiorre là 1,7 lần [13]. Giãn não thất nặng cũng gặp ở trẻ trai nhiều hơn với 44,4 % so với nữ là 28,6 %. Tỷ lệ giới tính tự nhiên, nam chiếm ưu thế khoảng 51,7% [14], tuy nhiên tỷ lệ trẻ trai gặp nhiều hơn trẻ gái có thể liên quan tới bất thường gen lặn trên nhiễm sắc thể X. Đột biến gen tế bào bám dính phân tử L1 (L1CAM) liên kết với nhiễm sắc thể X gây ra một loạt các hội chứng thần kinh. Hội chứng L1 có thể bao gồm bất sản thể chai, phình đại tràng bẩm sinh, tắc ruột giả và các dị tật ở chân, tay. Nếu tiền sử gia đình gợi ý của một trong những bất thường, hoặc ở bào thai nam với giãn não thất nặng đơn độc, xét nghiệm ADN cho đột biến L1 nên được làm. Chấm dứt thai kì được đặt ra trong các trường hợp giãn não thất nặng kết hợp với các bất thường khác, hoặc bất thường nhiễm sắc thể hoặc giãn não thất tiển triển (kích thước não thất bên tăng > 3 mm/ tuần ) [12]. Trong 41 trường hợp nghiên cứu có 12 ca đình chỉ thai nghén chiếm 29, 2 %. Trong số này có 50% có bất thường hệ thần kinh khác kèm theo. 1 ca (8,3%) có bất thường nhiễm sắc thể chuyển đoạn không cân bằng NST số 1 và số 18, 1 ca (8,3%) có kết quả double test dương tính, tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh down là 1/112 và 1 ca có tiền sử gia đình, con lần 1 có giãn não thất thai kì, sau sinh được chẩn đoán loạn dưỡng chất trắng. Có 3 trường hợp chọc ối thì có 1 ca bất thường nhiễm sắc thể. Trong một tổng quan hệ thống bao gồm hơn 1200 thai nhi có giãn não thất 4,7% trường TRẦN PHƯƠNG THANH, TRẦN DANH CƯỜNG, ĐẶNG PHƯƠNG THÚY 72 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N hợp đã được tìm thấy có 1 karyotype bất thường [12]. Đáng ngạc nhiên tỷ lệ của thể dị bội là cao nhất trong nhóm giãn não thất nhẹ. Điều này gợi ý rằng mức độ nghiêm trọng của giãn não thất thai nhi không phải tiên đoán về nguy cơ của thể dị bội phù hợp với các dữ liệu báo cáo trước đó [15]. Tuổi thai phát hiện phần lớn ở tuần thai 28- 32 tuần (82,9%). Cá biệt có trường hợp phát hiện giãn não thất nặng ở tuần thai thứ 40. Đó là những trường hợp chảy máu não thất, bất sản thể chai. Một số trường hợp muộn này lẽ ra có thể phát hiện ở tuần thai sớm hơn từ tuần 20. Đa số các bất thường của hệ thống thần kinh có thể phát hiện ở quý 2 của thai kì. Một số trường hợp giãn não thất ở quý 2 có thể hết ở quý 3 [16] và tiến triển xảy ra ở 16% trường hợp, dẫn đến kết cục thai nghén tồi tệ hơn. Siêu âm chi tiết cần được thực hiện ở tuần 28-34. Theo McKechnie (2012) 13% trường hợp được tìm thấy các bất thường ở lần siêu âm này mà đã không được phát hiện ra từ trước [4]. 5. Kết luận Giãn não thất hoàn toàn có thể chẩn đoán trước sinh bằng siêu âm. Giãn não thất được phát hiện muộn vào quý 3, giãn não thất đơn độc hoặc không tìm thấy nguyên nhân chiếm 63,4 %, bất sản thể chai là nguyên nhân tại hệ thần kinh thường gặp nhất trên siêu âm.Tỷ lệ giãn não thất nặng chiếm 38% và tỷ lệ đình chỉ thai nghén là 29,2%. Những trường hợp đình chỉ thai nghén là những trường hợp có giãn não thất kèm theo bất thường khác bao gồm bất thường hệ thần kinh và bất thường nhiễm sắc thể. Tài liệu tham khảo 1. L.T. Hồng. Phát hiện dị tật bẩm sinh thần kinh trung ương qua siêu âm. Tạp chí nghiên cứu y học. 2012; 80: p. 176-181. 2. P. Greco, et al. Mild ventriculomegaly as a counselling challenge. Fetal Diagn Ther. 2001; 16(6): p. 398-401. 3. I. guideline. Sonographic examination of the fetal central nervous system: guilines for performing the “basis examination” and the “ fetal neurosonogram”. Ultrasound Obstet gynecol. 2007; p. 109-116. 4. L. McKechnie, C. Vasudevan, and M. Levene. Neonatal outcome of congenital ventriculomegaly. Semin Fetal Neonatal Med. 2012; 17(5): p. 301-7. 5. P.D. Griffiths, et al. A prospective study of fetuses with isolated ventriculomegaly investigated by antenatal sonography and in utero MR imaging. AJNR Am J Neuroradiol. 2010; 31(1): p. 106-11. 6. L. Cardoen, et al. The role of magnetic resonance imaging in the diagnostic work-up of fetal ventriculomegaly. Facts Views Vis Obgyn. 2011; 3(3): p. 159-63. 7. T. Kandula, et al. Isolated ventriculomegaly on prenatal ultrasound: what does fetal MRI add? J Med Imaging Radiat Oncol. 2015; 59(2): p. 154-62. 8. B.R. Benacerraf, et al. What does magnetic resonance imaging add to the prenatal sonographic diagnosis of ventriculomegaly? J Ultrasound Med. 2007; 26(11): p. 1513-22. 9. L.J. Salomon, et al. Third-trimester fetal MRI in isolated 10- to 12-mm ventriculomegaly: is it worth it? BJOG. 2006; 113(8): p. 942-7. 10. L. Manganaro, et al. Role of fetal MRI in the diagnosis of cerebral ventriculomegaly assessed by ultrasonography. Radiol Med. 2009; 114(7): p. 1013-23. 11. J.E. Morris, et al. The value of in-utero magnetic resonance imaging in ultrasound diagnosed foetal isolated cerebral ventriculomegaly. Clin Radiol. 2007; 62(2): p. 140-4. 12. G. Pagani, B. Thilaganathan, and F. Prefumo. Neurodevelopmental outcome in isolated mild fetal ventriculomegaly: systematic review and meta-analysis. Ultrasound Obstet Gynecol. 2014; 44(3): p. 254-60. 13. K. Melchiorre, et al. Counseling in isolated mild fetal ventriculomegaly. Ultrasound Obstet Gynecol. 2009; 34(2): p. 212-24. 14. S.H. Orzack, et al. The human sex ratio from conception to birth. Proc Natl Acad Sci U S A. 2015; 112(16): p. E2102-11. 15. P. Gaglioti, M. Oberto, and T. Todros. The significance of fetal ventriculomegaly: etiology, short- and long-term outcomes. Prenat Diagn. 2009; 29(4): p. 381-8. 16. P. Gaglioti, et al. Fetal cerebral ventriculomegaly: outcome in 176 cases. Ultrasound Obstet Gynecol. 2005; 25(4): p. 372-7. SẢ N K H O A – S Ơ S IN H
File đính kèm:
nghien_cuu_chan_doan_truoc_sinh_gian_nao_that_thai_nhi_phat.pdf

