Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh giãn não thất thai nhi phát hiện ở 3 tháng cuối thai kì tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm về hình ảnh siêu âm và kết cục thai kìở thai

nhi có giãn não thất 3 tháng cuối.

Phương pháp: Mô tả tiến cứu. Đối tượng gồm 41 sản phụ có tuổi thai

từ 28 tuần trở lên được chẩn đoán giãn não thất thai nhi tại Trung tâm

Chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong thời gian

từ 06/2017 đến 03/2018.

Kết quả: Tuổi thai trung bình tại thời điểm chẩn đoán giãn não thất 3

tháng cuối là 30,07 ± 2,94 tuần (28 tuần – 39 tuần). Giãn não thất nặng

chiếm 38% và giãn não thất nhẹ là 62 %. giãn não thất có thể đơn độc

(63,4%), có thể phối hợp với các bất thường hình thái khác (36,6%),

trong đó hay gặp nhất là bất sản thể chai (22%). Tỷ lệ ngừng thai nghén

là 29,2%.

Kết luận: Giãn não thất được chẩn đoán ở quý 3 của thai kì phần

lớn được phát hiện ở tuần 28-32 (82,9 %). Giãn não thất đơn độc hoặc

không tìm thấy nguyên nhân chiếm 63,4%. Tỷ lệ giãn não thất nặng

chiếm 38 % và tỷ lệ đình chỉ thai nghén là 29,2%.

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh giãn não thất thai nhi phát hiện ở 3 tháng cuối thai kì tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh giãn não thất thai nhi phát hiện ở 3 tháng cuối thai kì tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh giãn não thất thai nhi phát hiện ở 3 tháng cuối thai kì tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TRẦN PHƯƠNG THANH, TRẦN DANH CƯỜNG, ĐẶNG PHƯƠNG THÚY
68
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Trần Phương Thanh(1), Trần Danh Cường(2), Đặng Phương Thúy(3) 
(1) Bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên, (2) Đại học Y Hà Nội, (3) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH
GIÃN NÃO THẤT THAI NHI PHÁT HIỆN
Ở 3 THÁNG CUỐI THAI KÌ
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Phương Thanh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: Giãn não thất, siêu 
âm thai, kết cục thai kì.
Keywords: Ventriculomegaly, 
fetal ultrasound, outcome.
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm về hình ảnh siêu âm và kết cục thai kìở thai 
nhi có giãn não thất 3 tháng cuối. 
Phương pháp: Mô tả tiến cứu. Đối tượng gồm 41 sản phụ có tuổi thai 
từ 28 tuần trở lên được chẩn đoán giãn não thất thai nhi tại Trung tâm 
Chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong thời gian 
từ 06/2017 đến 03/2018. 
Kết quả: Tuổi thai trung bình tại thời điểm chẩn đoán giãn não thất 3 
tháng cuối là 30,07 ± 2,94 tuần (28 tuần – 39 tuần). Giãn não thất nặng 
chiếm 38% và giãn não thất nhẹ là 62 %. giãn não thất có thể đơn độc 
(63,4%), có thể phối hợp với các bất thường hình thái khác (36,6%), 
trong đó hay gặp nhất là bất sản thể chai (22%). Tỷ lệ ngừng thai nghén 
là 29,2%. 
Kết luận: Giãn não thất được chẩn đoán ở quý 3 của thai kì phần 
lớn được phát hiện ở tuần 28-32 (82,9 %). Giãn não thất đơn độc hoặc 
không tìm thấy nguyên nhân chiếm 63,4%. Tỷ lệ giãn não thất nặng 
chiếm 38 % và tỷ lệ đình chỉ thai nghén là 29,2%.
Từ khóa: Giãn não thất, siêu âm thai, kết cục thai kì.
Abstract 
 PRENATAL DIAGNOSIS OF 3RD TRIMESTER FETAL 
CEREBRAL VENTRICULOMEGALY IN NATIONAL 
HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY 
Objectives: To describe the ultra - sonographic and outcome of 3rd 
trimester fetal cerebral ventriculomegaly. 
Methods: This is prospective study of forty one pregnant womens 
whose fetuses diagnosed with fetal cerebal ventriculomegaly in in Prenatal 
Diagnosis Central - National Hospital Obstetrics and Gynecology from 
the period starting June 2017 to March 2018. 
Result: Median gestational age at diagnosis was 30.07 ± 2.94 weeks 
(28 weeks - 39 weeks). There were 38% case severe ventriculomegaly 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 68 - 72, 2018
69
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
and 62% (83/106) cases mild ventriculomegaly. Many cases are associated with other abnormal 
findings, but im some fetuses ventriculomegaly is the only abnormality. There are five etiologic groups: 
agenesis corpus collosum accounted for 22%, absence septum pelucidum 7.3 %. There were 12 cases 
(29.2%) of elective pregnancy termination. 
Conclusion: Fetal cerebral ventriculomegaly can be diagnosed by ultrasound. Isolated 
ventriculomegaly accounted for 63.4%. Severe ventriculomegaly accounted for 38%. There were 12 
cases (29.2%) of elective pregnancy termination.
Keyword: Ventriculomegaly, fetal ultrasound, outcome.
1. Đặt vấn đề
Giãn não thất (GNT) thai nhi là một trong 
những bất thường hệ thần kinh hay gặp nhất 
trong siêu âm sàng lọc trước sinh [1]. Giãn não 
thất thai nhi là khi kích thước của một hoặc cả hai 
não thất bên đo được tại ngã tư não thất từ 10 
mm trở lên. Giãn não thất nhẹ là từ 10- 15 mm. 
Giãn não thất nặng khi kích thước não thất bên 
trên 15 mm. Giãn não thất có thể là đơn độc nhưng 
cũng có thể là triệu chứng của bất thường khác. 
Các nguyên nhân có thể là nhiễm trùng bẩm sinh 
(toxoplasma, rubella, cytomegalovirus, herpes), 
bất thường nhiễm sắc thể hoặc bất thường hệ thống 
thần kinh (bất sản thể chai, nứt đốt sống, Dandy 
Walker) [2]. Việc khảo sát thường quy hệ thần 
kinh trung ương (TKTW) được tiến hành vào tuần 
thứ 18-22 của thai kỳ (quý II). Một số bất thường 
của hệ TKTW có thể thấy được trong ngay quý I 
như không phân chia não trước, thai vô sọ, thoát 
vị não, màng não. Trong khi một số khác có thể 
xuất hiện muộn ở quý III như chứng lỗ não, chảy 
máu não thất. Chẩn đoán giãn não thất vào quý 3 
của thai kì có thể do bệnh xuất hiện muộn, có thể 
do sự thiếu sót của bác sĩ chẩn đoán trước sinh. 
Việc chẩn đoán muộn trong những trường hợp như 
bất sản thể chai, spina bifida, nhẵn não sẽ gây 
ra những khó khăn trong quyết định đình chỉ thai 
nghén hay không, và tăng cao tỷ lệ sinh con dị tật 
hệ TKTW. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứuvới 
mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm và kết 
cục thai kỳ ở thai nhi giãn não thất được phát hiện 
ở quí 3 của thai kì.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
41 thai phụ có chẩn đoán giãn não thất tại 
Trung tâm Chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ Sản 
Trung ương trong thời gian 06/2017 – 03/2018 
với những tiêu chuẩn sau: tuổi thai từ 28-40 tuần 
tính theo ngày kinh cuối hay theo kết quả siêu âm ở 
quý 1, não thất bên của thai nhi ≥ 10 mm, các hồ 
sơ có kết luận của hội đồng chẩn đoán trước sinh 
- Bệnh viện Phụ Sản Trung ương xác định có giãn 
não thất thai nhi và có hướng xử trí.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp mô tả tiến cứu
2.3. Phương pháp siêu âm xác định 
giãn não thất
Mặt cắt đo kích thước não thất bên nên đạt đầy đủ 
các tiêu chuẩn sau: Cấu trúc đường giữa được cách 
đều bởi vòm sọ gần và vòm sọ xa, vách trong suốt 
Hình 1. Phương pháp đo não thất bên trên siêu âm
TRẦN PHƯƠNG THANH, TRẦN DANH CƯỜNG, ĐẶNG PHƯƠNG THÚY
70
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
được nhìn thấy như là mốc trước và hố quanh là mốc 
sau; thước đo đặt vị trí đối diện với rãnh đỉnh-chẩm 
trong; thước đo đặt thẳng góc với thành trong và 
thành ngoài của não thất (trục dọc của não thất bên); 
thước đo đặt ở mép trong của thành não thất [3].
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Kích thước não thất bên
Nhận xét: Có 16 trường hợp giãn não thất nhẹ 
(39%) với kích thước não thất bên từ 10-15 mm và 
25 trường hợp giãn não thất nặng (61%) với kích 
thước não thất bên trên 15 mm, trường hợp nặng 
nhất não thất giãn 34 mm.
3.2. Tuổi thai tại thời điểm chẩn đoán
Nhận xét: Tuổi thai trung bình tại thời điểm 
chẩn đoán thai nhi có giãn não thất ở 3 tháng 
cuối của thai kì là 30,07 ± 2,94 tuần. Sớm nhất 
là 28 tuần, muộn nhất là 39 tuần. 82,8% trường 
hợp được chẩn đoán ở 28-32 tuần. Tuy nhiên tỷ lệ 
giãn não nặng phát hiện ở ngoài 32 tuần là 57,1% 
khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm 28-32 tuần 
(35,3%) với p = 0,025.
3.3. Phân bố một số nguyên nhân gây 
giãn não thất 
Biểu đồ 1. kích thước não thất bên
GNT nhẹ GNT nặng p
28-32 tuần 22 (64,7%) 12 (35,3%)
0,025Trên 32 tuần 3 (43,9%) 4 (57,1%)
Tổng 25 16
Bảng 1. Tuổi thai theo thời điểm chẩn đoán
Biểu đồ 2. Phân bố một số nguyên nhân gây giãn não thất
Nhận xét: 26 trường hợp giãn não thất đơn 
độc (63,4%). 15 trường hợp (36,6%) giãn não thất 
kèm theo các bất thường khác, trong đó hay gặp 
nhất là bất sản thể chai chiếm 22%.
3.4. Phân bố giữa mức độ giãn não 
thất với các bất thường đi kèm
Nhận xét: Tỷ lệ giãn não thất nặng ở nhóm đơn 
độc là 42,3%, trong khi ở nhóm có bất thường đi 
kèm là 33,33% với p là 0,417 khác biệt không có 
ý nghĩa thống kê.
3.5. Giới tính của trẻ được chẩn đoán 
giãn não thất thai nhi
Nhận xét: Trong số 41trường hợp thai nhi có 
chẩn đoán giãn não thất ở quý 3 thì tỷ lệ trẻ nam 
chiếm 65,9 %, gấp 1,9 lần trẻ nữ. Số trẻ nam giãn 
não thất nặng là 12 trường hợp (44,4 %) trong đó 
số trẻ nữ giãn não thất nặng là 4 trường hợp ( 28,6 
%). Khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,03
3.6. Liên quan giữa đình chỉ thai nghén 
và các yếu tố 
Nhận xét: Trong số 41 trường hợp thai nhi có 
chẩn đoán giãn não thất ở quý 3 thì có 12 trường 
hợp đình chỉ thai nghén. Ở nhóm GNT nhẹ đình 
chỉ 9 TH chiếm 36% và GNT nặng đình chỉ 3 TH 
chiếm 18,8 %. Với p = 0,305 không có sự khác biệt 
về chỉ định đình chỉ trong hai nhóm giãn não thất 
nặng và giãn não thất nhẹ. Tuy nhiên tỉ lệ đình chỉ 
GNT nhẹ GNT nặng p
 Đơn độc 15 (57,7%) 11 (42,3%)
0,417Bất thường khác 10 (66,67%) 5 (33,33%)
Tổng 25 16
Bảng 2. Phân bố giữa mức độ giãn não thất và các bất thường đi kèm
Nam Nữ p
GNT nhẹ 15 (55,6%) 10 (71,4%)
0,03GNT nặng 12 (44,4%) 4 (28,6%)
Tổng 27 (100%) 14 (100%)
Bảng 3. Giới tính
Đình chỉ Giữ thai p
 GNT nhẹ 9 (36%) 16 (64%)
0,305GNT nặng 3 (18,8%) 13 (81,2%)
Tổng 12 29
Bảng 4. Liên quan giữa đình chỉ thai nghén và mức độ giãn não thất
Đình chỉ Giữ thai p
Đơn độc 5 (18,5%) 22 (81,5%)
0,043Bất thường khác 7 (50 %) 7(50%)
Tổng 12 29
Bảng 5. Liên quan giữa đình chỉ thai nghén và các bất thường khác đi kèm
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 68 - 72, 2018
71
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
ở nhóm giãn não thất đơn độc (18,5%) và nhóm có 
bất thường khác kèm theo (50%) thì khác biệt có ý 
nghĩa thống kê với p = 0,043.
4. Bàn luận
Giãn não thất có thể đơn độc hoặc cũng có thể 
là triệu chứng của bất thường hệ thần kinh khác. 
Nhiều trường hợp xuất hiện đơn độc sau lại tìm thấy 
những bất thường khác sau khi sinh, đặc biệt là giãn 
não thất trên 15mm. Trong nghiên cứu của chúng 
tôi, tỷ lệ giãn não thất đơn độc hoặc chưa tìm thấy 
nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất là 63,4%, trong 
nhóm giãn não thất có nguyên nhân ở hệ thần kinh 
trung ương gặp nhiều nhất là bất sản thể chai chiếm 
22%. Nguyên nhân của giãn não thất thai nhi có thể 
được phân chia thành mất mô não, tắc nghẽn của 
hệ thống não thất hoặc sản xuất quá mức dịch não 
tủy [4]. Teo não dẫn đến mất mô não có thể xảy 
ra do rối loạn chuyển hóa, nhiễm trùng hoặc thiếu 
oxy não hoặc nhồi máu và nó thường dẫn đến sự 
bất đối xứng giữa hai não thất bên. Tắc nghẽn xảy 
ra do hẹp cống não. Nguyên nhân phổ biến của 
hẹp cống não là nhiễm trùng thai hoặc xuất huyết 
nội sọ. Bất sản thể chai là bất thường phổ biến nhất 
trong giãn não thất thai nhi [5]. Tuy nhiên đây là 
bất thường dễ bị bỏ sót trên siêu âm. Có thể dùng 
Doppler màu để tìm kiếm sự vắng mặt của 1 phần 
hoặc toàn bộ động mạch quanh thể chai. Kết quả 
phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật của bác sĩ siêu âm. Để 
cải thiện kết quả chẩn đoán có thể chụp cộng hưởng 
từ thai nhi (MRI). MRI đặc biệt hữu ích để phát hiện 
các ổ xuất huyết não nhỏ, bất sản thể chai và đánh 
giá sự phát triển của vỏ não [6]. Hơn nữa một số 
bất thường chẳng hạn như nhẵn não, rối loạn di trú 
neuron, bệnh lý chất trắng có thể được phát hiện tốt 
hơn trên MRI so với siêu âm.Trong nghiên cứu của 
chúng tôi, có 5 trường hợp chụp MRI thai nhi, có 3 
trường hợp đồng thuận với kết quả trên siêu âm, 2 
trường hợp loại trừ bất thường đang nghi ngờ là 
nhẵn não. Theo Kandula (2015) MRI phát hiện bổ 
sung nguyên nhân trong 17% trường hợp giãn não 
thất chưa tìm thấy nguyên nhân trên siêu âm [7]. 
Tuy nhiên khả năng tìm kiếm bất thường khác trên 
MRI lại phụ thuộc nhiều vào kết quả siêu âm trước 
đó, thay đổi từ 5- 50% trong các nghiên cứu khác 
nhau [8-11]. Hiện tại cũng chưa có sự đồng thuận 
về giá trị lâm sàng của phương pháp này. Hạn chế 
của MRI chất lượng kém chủ yếu do chuyển động 
của thai nhi. 
Trong số 41 trường hợp được nghiên cứu, có 7 ca 
được chụp MRI sau sinh, trong đó có 3 ca phát hiện 
thêm bất thường khác của hệ thần kinh là những bất 
thường: bất sản thể chai không hoàn toàn và nhẵn 
não. Với bất thường của cơ quan khác có 1 ca có 
bất thường tim được chẩn đoán trước sinh và 2 ca 
được chẩn đoán sau sinh bao gồm lỗ rò hậu môn, 
không có hậu môn và phình đại tràng bẩm sinh. 
Các tác giả của phân tích meta lưu ý rằng sau sinh 
có thể phát hiện những bất thường chưa được chẩn 
đoán trước đây (âm tính giả) ở 7,4% (95% CI: 3,1-
11,8%) của các trường hợp [12].
Giãn não thất gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái 
gấp khoảng 1,9 lần. Kết quả này cũng gần như 
nghiên cứu của Melchiorre là 1,7 lần [13]. Giãn 
não thất nặng cũng gặp ở trẻ trai nhiều hơn với 
44,4 % so với nữ là 28,6 %. Tỷ lệ giới tính tự nhiên, 
nam chiếm ưu thế khoảng 51,7% [14], tuy nhiên tỷ 
lệ trẻ trai gặp nhiều hơn trẻ gái có thể liên quan tới 
bất thường gen lặn trên nhiễm sắc thể X.
Đột biến gen tế bào bám dính phân tử L1 
(L1CAM) liên kết với nhiễm sắc thể X gây ra một loạt 
các hội chứng thần kinh. Hội chứng L1 có thể bao 
gồm bất sản thể chai, phình đại tràng bẩm sinh, tắc 
ruột giả và các dị tật ở chân, tay. Nếu tiền sử gia 
đình gợi ý của một trong những bất thường, hoặc ở 
bào thai nam với giãn não thất nặng đơn độc, xét 
nghiệm ADN cho đột biến L1 nên được làm. 
Chấm dứt thai kì được đặt ra trong các trường 
hợp giãn não thất nặng kết hợp với các bất thường 
khác, hoặc bất thường nhiễm sắc thể hoặc giãn 
não thất tiển triển (kích thước não thất bên tăng > 3 
mm/ tuần ) [12]. Trong 41 trường hợp nghiên cứu 
có 12 ca đình chỉ thai nghén chiếm 29, 2 %. Trong 
số này có 50% có bất thường hệ thần kinh khác 
kèm theo. 1 ca (8,3%) có bất thường nhiễm sắc thể 
chuyển đoạn không cân bằng NST số 1 và số 18, 
1 ca (8,3%) có kết quả double test dương tính, tỷ lệ 
nguy cơ mắc bệnh down là 1/112 và 1 ca có tiền 
sử gia đình, con lần 1 có giãn não thất thai kì, sau 
sinh được chẩn đoán loạn dưỡng chất trắng. Có 3 
trường hợp chọc ối thì có 1 ca bất thường nhiễm 
sắc thể. Trong một tổng quan hệ thống bao gồm 
hơn 1200 thai nhi có giãn não thất 4,7% trường 
TRẦN PHƯƠNG THANH, TRẦN DANH CƯỜNG, ĐẶNG PHƯƠNG THÚY
72
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
hợp đã được tìm thấy có 1 karyotype bất thường 
[12]. Đáng ngạc nhiên tỷ lệ của thể dị bội là cao 
nhất trong nhóm giãn não thất nhẹ. Điều này gợi ý 
rằng mức độ nghiêm trọng của giãn não thất thai 
nhi không phải tiên đoán về nguy cơ của thể dị bội 
phù hợp với các dữ liệu báo cáo trước đó [15].
Tuổi thai phát hiện phần lớn ở tuần thai 28-
32 tuần (82,9%). Cá biệt có trường hợp phát hiện 
giãn não thất nặng ở tuần thai thứ 40. Đó là những 
trường hợp chảy máu não thất, bất sản thể chai. 
Một số trường hợp muộn này lẽ ra có thể phát hiện 
ở tuần thai sớm hơn từ tuần 20. Đa số các bất 
thường của hệ thống thần kinh có thể phát hiện ở 
quý 2 của thai kì. Một số trường hợp giãn não thất 
ở quý 2 có thể hết ở quý 3 [16] và tiến triển xảy ra 
ở 16% trường hợp, dẫn đến kết cục thai nghén tồi 
tệ hơn. Siêu âm chi tiết cần được thực hiện ở tuần 
28-34. Theo McKechnie (2012) 13% trường hợp 
được tìm thấy các bất thường ở lần siêu âm này mà 
đã không được phát hiện ra từ trước [4].
5. Kết luận
Giãn não thất hoàn toàn có thể chẩn đoán 
trước sinh bằng siêu âm. Giãn não thất được 
phát hiện muộn vào quý 3, giãn não thất đơn độc 
hoặc không tìm thấy nguyên nhân chiếm 63,4 %, 
bất sản thể chai là nguyên nhân tại hệ thần kinh 
thường gặp nhất trên siêu âm.Tỷ lệ giãn não thất 
nặng chiếm 38% và tỷ lệ đình chỉ thai nghén là 
29,2%. Những trường hợp đình chỉ thai nghén là 
những trường hợp có giãn não thất kèm theo bất 
thường khác bao gồm bất thường hệ thần kinh và 
bất thường nhiễm sắc thể. 
Tài liệu tham khảo
1. L.T. Hồng. Phát hiện dị tật bẩm sinh thần kinh trung ương qua siêu 
âm. Tạp chí nghiên cứu y học. 2012; 80: p. 176-181.
2. P. Greco, et al. Mild ventriculomegaly as a counselling challenge. Fetal 
Diagn Ther. 2001; 16(6): p. 398-401.
3. I. guideline. Sonographic examination of the fetal central nervous 
system: guilines for performing the “basis examination” and the “ fetal 
neurosonogram”. Ultrasound Obstet gynecol. 2007; p. 109-116.
4. L. McKechnie, C. Vasudevan, and M. Levene. Neonatal outcome of 
congenital ventriculomegaly. Semin Fetal Neonatal Med. 2012; 17(5): p. 301-7.
5. P.D. Griffiths, et al. A prospective study of fetuses with isolated 
ventriculomegaly investigated by antenatal sonography and in utero MR 
imaging. AJNR Am J Neuroradiol. 2010; 31(1): p. 106-11.
6. L. Cardoen, et al. The role of magnetic resonance imaging in the 
diagnostic work-up of fetal ventriculomegaly. Facts Views Vis Obgyn. 
2011; 3(3): p. 159-63.
7. T. Kandula, et al. Isolated ventriculomegaly on prenatal ultrasound: what 
does fetal MRI add? J Med Imaging Radiat Oncol. 2015; 59(2): p. 154-62.
8. B.R. Benacerraf, et al. What does magnetic resonance imaging add 
to the prenatal sonographic diagnosis of ventriculomegaly? J Ultrasound 
Med. 2007; 26(11): p. 1513-22.
9. L.J. Salomon, et al. Third-trimester fetal MRI in isolated 10- to 12-mm 
ventriculomegaly: is it worth it? BJOG. 2006; 113(8): p. 942-7.
10. L. Manganaro, et al. Role of fetal MRI in the diagnosis of cerebral 
ventriculomegaly assessed by ultrasonography. Radiol Med. 2009; 
114(7): p. 1013-23.
11. J.E. Morris, et al. The value of in-utero magnetic resonance imaging 
in ultrasound diagnosed foetal isolated cerebral ventriculomegaly. Clin 
Radiol. 2007; 62(2): p. 140-4.
12. G. Pagani, B. Thilaganathan, and F. Prefumo. Neurodevelopmental 
outcome in isolated mild fetal ventriculomegaly: systematic review and 
meta-analysis. Ultrasound Obstet Gynecol. 2014; 44(3): p. 254-60.
13. K. Melchiorre, et al. Counseling in isolated mild fetal ventriculomegaly. 
Ultrasound Obstet Gynecol. 2009; 34(2): p. 212-24.
14. S.H. Orzack, et al. The human sex ratio from conception to birth. Proc 
Natl Acad Sci U S A. 2015; 112(16): p. E2102-11.
15. P. Gaglioti, M. Oberto, and T. Todros. The significance of fetal 
ventriculomegaly: etiology, short- and long-term outcomes. Prenat Diagn. 
2009; 29(4): p. 381-8.
16. P. Gaglioti, et al. Fetal cerebral ventriculomegaly: outcome in 176 
cases. Ultrasound Obstet Gynecol. 2005; 25(4): p. 372-7.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_chan_doan_truoc_sinh_gian_nao_that_thai_nhi_phat.pdf