Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh dị dạng bạch mạch dạng nang tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm về hình ảnh siêu âm và kết quả
tế bào di truyền trong dị dạng bạch mạch dạng nang.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu phân tích kết quả
siêu âm của106thai nhi có chẩn đoán là dị dạng bạch mạch dạng nang
từ tháng 8/ 2016 đến tháng 3/ 2017tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh
– Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.
Kết quả: Tuổi thai trung bình tại thời điểm chẩn đoán dị dạng bạch
mạch dạng nang là 13,3 ± 2,1 tuần(11 tuần 1 ngày – 22 tuần 6 ngày).
Độ dày da gáy trung bình là 9,1 ± 4,2 mm(3,5 – 22,6 mm). Dị dạng
bạch mạch dạng nang có thể đơn độc(21,7 %), có thể phối hợp với các
bất thường hình thái khác (78,3 %), trong đó hay gặp nhất là phù toàn
thân (88 %).Tỷ lệ ngừng thai nghén là 93,4 %. Có 6,6 % trường hợp dị
dạng bạch mạch dạng nang được chọc ối làm nhiễm sắc đồ. 42,9 %
dị dạng bạch mạch dạng nang có bất thường nhiễm sắc thể, trong đó
Monosomie X( hội chứng Turner) và Trisomie 21 (hội chứng Down)
chiếm nhiều nhất.
Kết luận: 82,1 % dị dạng bạch mạch dạng nang được chẩn đoán sớm
vào quý I của thai kỳ. 7/106 trường hợp được làm nhiễm sắc đồ thai nhi.
78,3 % dị dạng bạch mạch dạng nang kèm theo bất thường hình thái
khác trong đó hay gặp nhất là phù toàn thân chiếm 88 %. Tỷ lệ ngừng
thai nghén là 93,4 %. Có 42,9 % dị dạng bạch mạch dạng nang mang
bất thường nhiễm sắc thể,hội chứng Turner và hội chứng Down là hai
bất thường nhiễm sắc thể hay gặp nhất.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh dị dạng bạch mạch dạng nang tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 95 - 99, 2017 95 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 Phạm Xuân Minh(1), Trần Danh Cường(2) (1) Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn, (2) Trường Đại học Y Hà Nội NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH DỊ DẠNG BẠCH MẠCH DẠNG NANG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Phạm Xuân Minh, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 01/03/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/03/2017 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 28/04/2017 Từ khóa: Dị dạng bạch mạch dạng nang,chẩn đoán trước sinh, phù toàn thân, bất thường nhiễm sắc thể. Keywords: Cystic hygroma, prenatal diagnosis, hydrops, chromosomal abnormalities. Tóm tắt Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm về hình ảnh siêu âm và kết quả tế bào di truyền trong dị dạng bạch mạch dạng nang. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu phân tích kết quả siêu âm của106thai nhi có chẩn đoán là dị dạng bạch mạch dạng nang từ tháng 8/ 2016 đến tháng 3/ 2017tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh – Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Kết quả: Tuổi thai trung bình tại thời điểm chẩn đoán dị dạng bạch mạch dạng nang là 13,3 ± 2,1 tuần(11 tuần 1 ngày – 22 tuần 6 ngày). Độ dày da gáy trung bình là 9,1 ± 4,2 mm(3,5 – 22,6 mm). Dị dạng bạch mạch dạng nang có thể đơn độc(21,7 %), có thể phối hợp với các bất thường hình thái khác (78,3 %), trong đó hay gặp nhất là phù toàn thân (88 %).Tỷ lệ ngừng thai nghén là 93,4 %. Có 6,6 % trường hợp dị dạng bạch mạch dạng nang được chọc ối làm nhiễm sắc đồ. 42,9 % dị dạng bạch mạch dạng nang có bất thường nhiễm sắc thể, trong đó Monosomie X( hội chứng Turner) và Trisomie 21 (hội chứng Down) chiếm nhiều nhất. Kết luận: 82,1 % dị dạng bạch mạch dạng nang được chẩn đoán sớm vào quý I của thai kỳ. 7/106 trường hợp được làm nhiễm sắc đồ thai nhi. 78,3 % dị dạng bạch mạch dạng nang kèm theo bất thường hình thái khác trong đó hay gặp nhất là phù toàn thân chiếm 88 %. Tỷ lệ ngừng thai nghén là 93,4 %. Có 42,9 % dị dạng bạch mạch dạng nang mang bất thường nhiễm sắc thể,hội chứng Turner và hội chứng Down là hai bất thường nhiễm sắc thể hay gặp nhất. Từ khóa: Dị dạng bạch mạch dạng nang,chẩn đoán trước sinh, phù toàn thân, bất thường nhiễm sắc thể. Abstract PRENATAL DIAGNOSIS OF CYSTIC HYGROMA IN NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY PHẠM XUÂN MINH, TRẦN DANH CƯỜNG 96 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Objectives: To describe the ultra - sonographic and fetal karyotyping of fetuses with cystic hygroma. Patients & methods: 106 cases of fetal cystic hygroma were described cross – sectional from August 2016 to March 2017 in Prenatal Diagnosis Central - National Hospital Obstetrics and Gynecology. Result: Median gestational age at diagnosis was 13.3 ± 2.1 weeks (11 weeks 1 day – 22 weeks 6 days). Median of nuchal translucency was 9.1 ± 4.2 mm (3.5 – 22.6 mm). There were 21.7% cases (23/106) had a single of cystic hygroma and 78.3 % (83/106) cases had multiple characteristics of structural abnormalies. In which, hydrops were the leading major structural (88%). There were 99 cases (93.4%) of elective pregnancy termination. There were 7 cases (6.6%) who agreed amniotic fluid sampling for karyotype. Chromosomal abnormalities were present in 42.9% (3/7) with 2 cases of Turner syndrome and 1 case of Trisomy 21 syndrome. Conclusion: 82.1% cases of cystic hygroma were diagnosised early in the first trimester. 78.3% cases had multiple characteristics of structural abnormalies with cystic hygroma (hydrops were found mostly: 88%). There were 99 cases (93.4%) of elective pregnancy termination. Chromosomal abnormalities were present in 42.9% with Turner syndrome and Down syndrome. Keyword: Cystic hygroma, prenatal diagnosis, hydrops, chromosomal abnormalities. 1. Đặt vấn đề Dị dạng bạch mạch dạng nanglà một bất thường của hệ thống bạch mạch vùng gáy. Đây là những tổn thương do hiện tượng tắc và ứ đọng sự lưu thông bạch huyết vùng cổ và vùng gáy dẫn đến giãn các mạch bạch huyếtlàm biến dạng cả vùng này [1, 2]. Đặc điểm của dị dạng bạch mạch dạng nang có xu thế phát triển một cách cân xứng sang hai bên của cổ, bên trong chứa dịch đồng nhất, có vách ngăn có thể một, hai, hoặc ba vách chia vùng này thành những khoang rất cân xứng [1, 2]. Theo nghiên cứu của Traufer năm 2003 báo cáo 39 trường hợpdị dạng bạch mạch dạng nang trong tổng số 7189 bệnh nhân thì tỷ lệ dị dạng bạch mạch dạng nanglà 0,54%. Về mặt phôi thai học, dị dạng bạch mạch dạng nang được đặc trưng bởi sự giãn hệ thống bạch huyết do mất sự lưu thông giữa hệ thống bạch huyết và tĩnh mạch. Giả thuyết về bệnh lý lần đầu tiên được mô tả bởi Van der Putte (1977), được khẳng định bởi Smith và Graham (1982), cho rằng sự lưu thông của mạch bạch huyết với tĩnh mạch cảnh thông thường sẽ xảy ra vào ngày thứ 40 của thai kỳ, nếu không có sự lưu thông này sẽ gây ra tình trạng bệnh lý [3]. Dị dạng bạch mạch dạng nang xuất hiện từ rất sớm ngay trong quý đầu, có thể đơn độc hay kèm theo bất thường nhiễm sắc thể hoặc kèm theo bất thường hình thái khác: phù toàn thân, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim, tràn dịch màng bụng, bất thường chi,thoát vị rốn đặc biệt bất thường này có tỷ lệ dị dạng nhiễm sắc thể rất lớn. Ở Việt Nam, những năm gần đây, kỹ thuật siêu âm chẩn đoándị dạng bạch mạch dạng nang, kỹ thuật chọc hút nước ối nhằm xác định bộ NST và xét nghiệm máu mẹ được đưa vào sử dụng chẩn đoán tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh - Bệnh viện Phụ Sản Trung ươngthu được nhiều kết quả khả quan. Đã có những đề tài nghiên cứu tại đây, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể nào vềdị dạng bạch mạch dạng nang. Do vậy, chúng tôi TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 95 - 99, 2017 97 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 tiến hành nghiên cứu với mục tiêu chính: Mô tả đặc điểm về hình ảnh siêu âm và kết quả tế bào di truyền trong dị dạng bạch mạch dạng nang. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Các trường hợp thai phụ có kết quả siêu âm dị dạng bạch mạch dạng nangđến hội chẩn tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ T8/2016 – T3/2017. - Tiêu chuẩn lựa chọn: + Các hồ sơ có kết luận của hội đồng chẩn đoán trước sinh - Bệnh viện Phụ Sản Trung ươngxác định thai dị dạng bạch mạch dạng nangvà có hướng xử trí. + Có đủ thông tin cần cho nghiên cứu. - Tiêu chuẩn loại trừ: + Đa thai. + Các trường hợp tăng khoảng sáng sau gáy đơn thuần. + Những hồ sơ không mô tả rõ ràng và chi tiết dị dạng. 2.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả tiến cứu 2.3. Phương pháp siêu âm xác định dị dạng bạch mạch dạng nang - Chẩn đoán xác định: Dựa trên 2 đường cắt: + Đường cắt dọc giữa chuẩn: Tiêu chuẩn đánh giá theo bảng điểm Herman, điểm phải đạt ≥ 4 điểm [4], da gáy ≥ 3mm . Là những nang chứa dịch,biểu hiện là hình trống âm ở vùng chẩm và sau gáy, có thể phát triển về một bên hay hai bên, rất khó xác định hết tổn thương trên đường cắt này. +Đường cắt ngang cổ: Hình ảnh thưa âm vang nằm ở vùng gáy, có xu thế phát triển bè ra hai bên cổ, có ít nhất 2 khoang cân đốitrong có chứa các vách ngăn (có 1- 3 vách), chia vùng này thành những khoang chứa dịch cân xứng.Đồng thời, hình ảnh hộp sọ và cấu trúc não đều bình thường. Ngoài ra, dị dạng bạch mạch dạng nang cũng có thể được chẩn đoán trên siêu âm 3D. + Hình ảnh phù toàn thân: Phù tổ chức dưới da ở mặt, ngực, thân, không kèm theo phù chi. Da thai nhi dầy trên 5mm, có hình ảnh hai vòng khi có phù da đầu kèm theo. + Hình ảnh tràn dịch các màng: Tràn dịch màng bụng, màng phổi và màng ngoài tim (phù thai). + Hình ảnh bất thường khác: Bất thường chi, thoát vị rốn - Chẩn đoán phân biệt: Dày da gáy đơn thuần, thoát vị não vùng chẩm với tổn thương xương chẩm, thoát vị não - màng não, u quái dạng nang (tổn thương hỗn hợp, đơn độc hay chỉ chứa dịch). 2.4. Phương pháp lấy mẫu làm nhiễm sắc đồ thai nhi Phương pháp chọc hút nước ối. Thủ thuật được tiến hành dưới hướng dẫn của siêu âm sau khi chẩn đoán và có sự đồng ý của thai phụ và gia đình. Chọc ối ở tuổi thai 16-20 tuần hoặc chọc muộn hơn khi thai trên 20 tuần. Nước ối (khoảng 20ml) thu được sẽ được nuôi cấy hoặc làm QF tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh – Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Chọc ối có thể có tác dụng không mong muốn như sảy thai (1%), rò nước ối, nhiễm trùng ối. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Tuổi mẹ Độ tuổi trung bình tại thời điểm chẩn đoán dị dạng bạch mạch dạng nang là 27,43 ± 5,24 tuổi. Tuổi thấp nhất là 16 tuổi, cao nhất là 41 tuổi. 3.2. Tuổi thai tại thời điểm chẩn đoán Tuổi thai trung bình tại thời điểm chẩn đoán dị dạng bạch mạch dạng nanglà 13,3 ± 2,1 tuần. Sớm nhất là 11tuần 1 ngày, muộn nhất là 22 tuần 6 ngày. 3.3. Độ dày da gáy Độ dày da gáy trung bình là 9,1± 4,2mm. Thấp nhất là 35 mm, dày nhất là 22,6 mm. Từ 6 mm trở lên có 85 trường hợp chiếm 80,19%. 3.4. Các hình thái bất thường kèm theo trên siêu âm 23 Trường hợp dị dạng bạch mạch dạng nangđơn độc(21,7 %) chỉ với dày da gáy, bên trong Phân loại theo nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ % <20 tuổi 01 0,9 20 – 34 tuổi 93 87,8 ≥ 35 tuổi 12 11,3 Tổng 106 100 Bảng 1. Phân loại theo nhóm tuổi Phân loại theo tuổi thai Số lượng Tỷ lệ % ≤ 14 tuần 87 82,1 >14 tuần 19 17,9 Tổng 106 100 Bảng 2. Tuổi thai theo thời điểm chẩn đoán PHẠM XUÂN MINH, TRẦN DANH CƯỜNG 98 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Phân loại theo tuổi thai Số lượng Tỷ lệ % Đơn độc 23 21,7 Phối hợp, trong đó: 83 78,3 - Phù toàn thân 73 88 - Tràn dịch màng ngoài tim 2 2,4 - Tràn dịch màng phổi 14 16,9 - Tràn dịch màng bụng 2 2,4 - Thoát vị rốn 5 6 - Bất thường chi 6 7,2 - Bất thường tim 3 3,6 - Phù thai 2 2,4 Bảng 3. Phân loại các bất thường kèm theo trên siêu âm có vách. 73 trường hợp (78,3 %) dị dạng bạch mạch dạng nangkèm theo các bất thường khác, trong đó hay gặp nhất là phù toàn thânchiếm 88 %. 3.5. Hướng xử trí dị dạng bạch mạch dạng nang Có 99 trường hợp bệnh nhân (93,4 %) yêu cầu đình chỉ thai nghén khi phát hiệndị dạng bạch mạch dạng nang. Chỉ có 7 trường hợp đồng ý chọc hút nước ối làm nhiễm sắc thể đồ. Đây là những trường hợp mà đa số không kèm theo bất thường hình thái nào (6 trường hợp) hoặc chỉ kèm theo 1 bất thường hình thái (1 trường hợp có kèm tràn dịch màng phổi). 3.6. Kết quả nhiễm sắc đồ thai nhi Trong số 7 bệnh nhân được làm nhiễm sắc đồcó 3 trường hợp (42,9 %) bất thường. 3.7. Phân loại các bất thường nhiễm sắc thể Trong các loại bất thường nhiễm sắc thể, hội Hướng xử trí Số lượng Tỷ lệ% Đình chỉ thai nghén 99 93,4 Chọc hút nước ối 7 6,6 Tổng 106 100 Bảng 4. Hướng xử trí dị dạng bạch mạch dạng nang Kết quả NSĐ thai nhi Số lượng Tỷ lệ % Bình thường 4 57,1 Bất thường 3 42,9 Tổng 7 100 Bảng 5. Kết quả nhiễm sắc đồ thai nhi Phân loại bất thường NST Số lượng Tỷ lệ % Turner 2 66,7 Trisomie 13 0 0 Trisomie 18 0 0 Trisomie 21 1 33,3 Chuyển đoạn NST 0 0 Tổng 3 100 Bảng 6. Phân loại các bất thường nhiễm sắc thể chứng Turner và hội chứng Down là hay gặp nhất với tỷ lệ lần lượt là 66,7 % và 33,3%. 4. Bàn luận 4.1. Tuổi mẹ Độ tuổi trung bình thời điểm chẩn đoán dị dạng bạch mạch dạng nanglà 27,43 ± 5,24 tuổi. Tuổi thấp nhất là 16 tuổi, cao nhất là 41 tuổi. Trong đó: 87,8 % các trường hợp (93/106) nằm trong độ tuổi sinh đẻ (20- 34 tuổi).0,9 % (1/106) các trường hợp ở độ tuổi <20 tuổi và 11,3 % những bà mẹ ≥35 tuổi. 4.2. Tuổi thai tại thời điểm chẩn đoán Tuổi thai trung bình tại thời điểm chẩn đoán là 13,3 ± 2,1 tuần (11 tuần 1 ngày–22 tuần 6 ngày). Không có trường hợp nào được chẩn đoán sau 23 tuần vì hình ảnh siêu âm của bệnh lý này khá đặc trưng, hơn nữa nguy cơ lớn nhất của dị dạng bạch mạch dạng nanglà thai chết lưu nên ít khi chẩn đoán muộn. Trong đó, đa số các trường hợp(82,1 %) dị dạng bạch mạch dạng nang được phát hiện từ tuổi thai 11 – 14 tuần. Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Ducarme G. là 10 – 14 tuần [5] và Kharrat R. là 11 – 14 tuần [6]. Một số nghiên cứu cho rằng dị dạng bạch mạch dạng nangcó thể chẩn đoán sớm từ quý I nhưng không nên chẩn đoán trước 10 tuần vì trong giai đoạn này hình ảnh của da thai nhi thưa âm vang rất dễ nhầm với phù toàn thân. 4.3. Độ dày da gáy Trong nghiên cứu này, độ dày da gáy trung bình là 9,1 ± 4,2 mm. Thấp nhất là 3,5 mm, dày nhất là 22,6 mm. Theo nghiên cứu của Ducarme G. là 7,4 ± 2,9 mm [7], trong nghiên cứu của C. Lajeunesse, độ dày da gáy trung bình là 6,3 ± 2,4 mm [8]. 4.4. Các hình thái bất thường kèm theo Trong nghiên cứu này, tỷ lệ dị dạng bạch mạch dạng nangđơn độc chiếm 21,7 %, dị dạng bạch mạch dạng nangkèm theo bất thường hình thái khác là 78,3 %, trong đó phù toàn thân chiếm tỷ lệ cao nhất là 88 %. Tỷ lệ này trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của LajeunesseC. khi dị dạng bạch mạch dạng nangkèm theo bất thường hình thái khác là 54 %, trong đó phù toàn thân chiếm tỷ lệ cao nhất là 45 % [8]. 4.5. Hướng xử trí dị dạng bạch mạch dạng nang Các trường hợp dị dạng bạch mạch dạng TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 95 - 99, 2017 99 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 nangđơn độc hoặc kèm theo 1 bất thường hình thái (như tràn dịch màng phổi, tràn dịch ổ bụng) được tư vấn chọc ối làm nhiễm sắc đồ thai nhi từ tuần 16 trở đi. Sau khi tư vấn: Có 6,6 % thai phụ (7 trường hợp) đồng ý theo dõi tiếp và chọc ối làm NST đồ thai nhi.93,4 % thai phụ đề nghị đình chỉ thai nghén, trong đó đa số là các trường hợp là phù toàn thân. Chẩn đoán các bất thường nhiễm sắc thể có ý nghĩa quyết định đưa ra hướng xử trí tiếp theo đối với thai nghén. 4.6. Kết quả nhiễm sắc đồ thai nhi Trong nghiên cứu này 7 trường hợp đồng ý chọc ối được lấy bệnh phẩm của thai bằng chọc hút nước ối dưới hướng dẫn của siêu âm, không có trường hợp nào thất bại, sau đó nuôi cấy tế bào ối hoặc làm QFđể phân tích nhiễm sắc thể của thai. Kết quả tỷ lệ gặp bất thường nhiễm sắc thể chiếm 3/7 (42.9 %) các trường hợp làm nhiễm sắc đồ (n = 7), những bệnh nhân này đã được đình chỉ thai nghén. Có 4/7 trường hợp (57,1 %) có kết quả nhiễm sắc đồ bình thường và được theo dõi tiếp. 3/4 trường hợpnhiễm sắc đồ bình thường đã sinh ra con khỏe mạnh bình thường, 1/4 trường hợp đang theo dõi đến tuần 30 với tiến triển tốt về hình thái trên siêu âm. Trong nghiên cứu của Lajeunesse C. tỷ lệ bất thường nhiễm sắc thể là 53 % [8]. Trong nghiên cứu của Tanriverdi H.A là 50% [9]. 4.7. Phân loại các bất thường nhiễm sắc thể Trong các bất thường nhiễm sắc thể, hay gặp nhất là hội chứng Turner (66,6 %) và hội chứng Down (33,3 %). Trong nghiên cứu của Ducarme G. hội chứng Turner hay gặp nhất chiếm 40,9 % [7].Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, đây là nhóm những bất thường nhiễm sắc thể hay gặp nhất trongdị dạng bạch mạch dạng nang. Tuy nhiên, tỷ lệ các hội chứng có một số khác biệt. 5. Kết luận Phần lớndị dạng bạch mạch dạng nangđược chẩn đoán sớm bằng siêu âm trong 13 tuần đầu tiên của thai kì bởi các dấu hiệu đặc trưng của siêu âm là các khối chứa dịch ở vùng gáy thai nhi, trong có vách ngăn.Một số bất thường kèm theo ( 78,3 %) có thể quan sát thấy, hay gặp nhất là phù toàn thân (88 %). Tỷ lệ ngừng thai nghén là 93,4 %. Có 7/106 trường hợpdị dạng bạch mạch dạng nangđược làm nhiễm sắc thể đồ thai nhi, trong đó có 42,9 % mang bất thường nhiễm sắc thể, chủ yếu là hội chứng Turner và hội chứng Down. Tài liệu tham khảo 1. Body. J. La pratique du diagnostic prenatal. Masson. 2001. 2. Brun.J - L. Diagnostic prenatal des oedemes de la nuque et des hygromas kystique du cou. J. Gunecol. Obstet. Biol. Reprod. 1995;24, 162 – 169. 3. Chervenak FA, Isaacson G, Blakemore KJ, editors. Fetal kystique hygroma. Cause and natural history. N Engl J Med.1983; 309: 822-5. 4. Temizkan O, Abike F, Ayvaci H, editors, Fetal axillary Cystic hygroma: A case report an review. Rare Tumors. 2011; 3:39 5. Noia G, editors. Fetal Cystic hygroma: the importance of natural history. Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol. 2013; 170(2):407-13 6. Gallagher PG, Mahoney MJ, Gosche JR, Cystic hygroma in the fetus and newborn. Semin Perinatol. 1999; 23:341-56 7. Ducarme G, Hyperclarte nucale et hygroma cervical au premier trimester de la grossesse: diagnistic prénatal et devenir neonatal, Gynecol Obstet Fertil. 1999; 33:750-4 8. Lajeuneses C, Hygroma Kystique decouvert à l’echographie obstétricale au premier trimester: caractéristiques eschographiques, caryotypiques et devenir de la grossesse. J Obstet Gynecol Reprod Biol. 2013; S0368-2315(13):121-128 9. Tanriverdi HA, Ertan AK, Hendrick HJ. Outcome of cystic hygroma in fetuses with normal karyotypes depends on associated findings. Eu JObstet Gynecol Reprod Biol. 2005; 118(1):40-46
File đính kèm:
nghien_cuu_chan_doan_truoc_sinh_di_dang_bach_mach_dang_nang.pdf

