Nghiên cứu cắt tử cung đường nội soi tại khoa phụ ngoại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

mục tiêu: Đánh giá kết quả cắt tử cung qua nội soi tại

khoa Phụ Ngoại – Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.

Đối tượng: 114 trường hợp cắt TC qua nội soi tại

khoa Phụ ngoại trong tổng số 684 ca cắt tử cung qua

nội soi tại Bệnh viện phụ sản Trung ương từ tháng

6/2011 đến tháng 9/2012.

phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang tiến cứu

Kết quả :

- Chỉ định mổ vì UXTC chiếm 94,7% .

- Thời gian phẫu thuật trên 60 phút chiếm 61,4%

- Trọng lượng tử cung sau khi mổ: trung bình

264,8±73,9 gr

- Lượng máu mất trung bình trong phẫu thuật là

115,9±64,7 ml

- Thời gian nằm viện trung bình là 3,9 ± 1,9 ngày.

-Nhiễm trùng mỏm cắt âm đạo: 4,4%

Kết luận: Phẫu thuật cắt tử cung qua nội soi có

nhiều các ưu điểm về thẩm mỹ, thời gian phẫu thuật

nhanh, lượng máu mất ít, thời gian nằm viện ngắn

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu cắt tử cung đường nội soi tại khoa phụ ngoại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu cắt tử cung đường nội soi tại khoa phụ ngoại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Nghiên cứu cắt tử cung đường nội soi tại khoa phụ ngoại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
89
 Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 89 - 92, 2013
NGHIÊN CỨU CẮT TỬ CUNG ĐƯỜNG NỘI SOI
TẠI KHOA PHỤ NGOẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
nguyễn Bá phê 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
tóm tắt
mục tiêu: Đánh giá kết quả cắt tử cung qua nội soi tại 
khoa Phụ Ngoại – Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.
Đối tượng: 114 trường hợp cắt TC qua nội soi tại 
khoa Phụ ngoại trong tổng số 684 ca cắt tử cung qua 
nội soi tại Bệnh viện phụ sản Trung ương từ tháng 
6/2011 đến tháng 9/2012.
phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang tiến cứu
Kết quả : 
- Chỉ định mổ vì UXTC chiếm 94,7% .
- Thời gian phẫu thuật trên 60 phút chiếm 61,4%
- Trọng lượng tử cung sau khi mổ: trung bình 
264,8±73,9 gr
- Lượng máu mất trung bình trong phẫu thuật là 
115,9±64,7 ml
- Thời gian nằm viện trung bình là 3,9 ± 1,9 ngày. 
-Nhiễm trùng mỏm cắt âm đạo: 4,4% 
Kết luận: Phẫu thuật cắt tử cung qua nội soi có 
nhiều các ưu điểm về thẩm mỹ, thời gian phẫu thuật 
nhanh, lượng máu mất ít, thời gian nằm viện ngắn. 
từ khóa : cắt tử cung qua nội soi
ABStRACt 
Objectives: To evaluate result of laparoscopic 
hysterectomy
Subjects: 114 patients out of 684 patients were 
laparoscopic hysterectomy at National Hospital of 
Obstetrics and Gynecology from 6/2011 to 9/2012
Methodology: Cross-sectional study 
Results:
- Uterine fibroma (94.7%)
- Ages from 40 to 49 at the rate of 68,9%
- Operative duration more than 60 minutes: 61.4%.
- Average weight of uterus: 264,8±73,9 g
- Blood loss: 115,9±64,7 ml
- Hospitalization: 3.9±1.9 days. 
- Complication rate: 4.4%. 
Conclusion: Laparoscopic hysterectomy has 
aesthetic advantages, fast surgical time, less blood 
loss, short hospital stay.
Keywords: laparoscopic hysterectomy
i. Đặt vấn Đề
Ca phẫu thuật cắt tử cung qua nội soi đầu tiên được 
thực hiện bởi Reich (Mỹ) năm 1989. Tại Mỹ mỗi năm 
có khoảng 600.000 cắt tử cung được thực hiện, có 3 
phương pháp cắt tử cung chính là đường bụng, đường 
âm đạo và cắt tử cung qua nội soi. Ngày nay cùng với sự 
phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và các máy 
móc hỗ trợ thì phẫu thuật cắt tử cung qua nội soi đang là 
khuynh hướng trong phẫu thuật phụ khoa hiện đại. So 
với các phẫu thuật khác thì cắt tử cung qua nội soi được 
biết đến với các ưu điểm như: Giảm triệu chứng đau, 
mất máu ít hơn, ít biến chứng hơn, vết sẹo nhỏ, thời gian 
nằm viện ngắn hơn, sự trở lại để hoạt động bình thường 
hàng ngày nhanh hơn, giảm nguy cơ nhiễm trùng. 
 Từ năm 1993, Bệnh viên Từ Dũ bắt đầu phẫu thuật 
nôi soi cắt tử cung, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương áp 
dụng cắt tử cung qua nội soi từ tháng 12/2004. 
Đây là một kỹ thuật tiên tiến, mang lại những ích 
lợi thiết thực cho người bệnh (về thẩm mỹ, thời gian 
phẫu thuật ngắn hơn, ít ra máu). Hiện nay một số 
bệnh viện Phụ Sản có khuynh hướng giảm dần cắt tử 
cung đường âm đạo vì có liên quan đến một số yếu tố 
gây tai biến vì vậy chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu này nhằm đánh giá một số yếu 
tố liên quan đến phương pháp cắt TC qua nội soi để 
góp phần phát triển phương pháp này .
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả cắt tử cung 
qua nội soi tại khoa Phụ Ngoại BVPSTW năm 2011 -2012.
ii. Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu 
1. Đối Tượng nghiên cứu
114 bệnh nhân đã được mổ cắt TC qua nội soi tại khoa 
Phụ ngoại trong tổng số 684 ca cắt tử cung qua nội soi 
Có 03 case thời gian phẫu thuật dưới 30 phút, lâu 
nhất : 120 phút , 61.4% trường hợp thời gian phẫu 
thuật trên 60 phút . 
Đường kính ngang trung bình của tử cung là 71,2 
± 7.4 mm. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
giữa thời gian phẫu thuật với đường kính ngang của 
tử cung (p=0.18).
Thời gian phẫu thuật lâu trên 60 phút thường 
có trọng lượng trung bình tử cung là 276,6 gram 
và phẫu thuật dưới 60 phút thì trọng lượng trung 
bình tử cung là 247,7gram. Trọng lượng lớn nhất 
là 500g. Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê 
với p <0,05.
Bảng 4. Liên quan của thời gian phẫu thuật với lượng máu mất trong phẫu thuật 
và lượng hemoglobin giảm trước và sau phẫu thuật
* p = 0,2, ** p = 0.45
*** Cỡ mẫu là 93 vì có 21 trường hợp phải truyền 
máu trước phẫu thuật.
Về thời gian phẫu thuật và lượng máu mất trung 
bình liên quan không có ý nghĩa thống kê. Đối với 
phẫu thuật dưới 60 phút lượng máu mất là 106 ml 
và phẫu thuật trên 60 phút lượng máu mất là 122 
ml. Lượng máu mất trung bình là 115.9±64.7 ml. 
Mất nhiều nhất là 400 ml và ít nhất là 20ml.
Có 21 bệnh nhân bị thiếu máu cần truyền máu 
trước khi phẫu thuật và chúng tôi không đưa vào 
so sánh. Lượng Hemoglobin mất trung bình là 
17,4 ± 9,5g/l. Mất nhiều ở nhóm phẫu thuật trên 
60 phút. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê liên quan giữa thời gian phẫu thuật và sự giảm 
lượng Hemoglobin với p =0,45.
 Bảng 5. Liên quan giữa đường khâu mỏm cắt và thời gian phẫu thuật
*p= 0,426
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời 
gian phẫu thuật với đường khâu mỏm cắt âm đạo. 
 4 . Thời gian nằm viện sau Phẫu ThuậT
nguyễn Bá phêPHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
90
tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ 6/2011 đến tháng 
9/2012 có hồ sơ bệnh án, cách thức phẫu thuật đầy đủ.
2. Phương PháP nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu
- Nhóm biến số thu thập :
nhóm tuổi; Số con; Các chỉ định phẫu thuật; Thế tích 
TC qua khám lâm sàng, trọng lượng tử cung sau phẫu 
thuật, thời gian phẫu thuật; Tai biến và biến chứng, giải 
phẫu bệnh lý, thời gian nằm viện sau phẫu thuật
- Xử lý số liệu : Bằng phần mềm SPSS 16.0
iii. Kết quả
1. nhóm Tuổi
Bảng 1: phân bố theo tuổi và số con của nhóm nghiên cứu
Tỷ lệ cắt TC qua nội soi cao nhất ở lứa tuổi 40 – 49 
là 73,7%, tiếp theo là nhóm tuổi 50-59 chiếm 24,6%. 
Tuổi trung bình là 47,3 ± 3,7.
Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều có ít nhất 1 con, 
nhóm có 2 con chiếm tỷ lệ cao nhất là 61,4%. Tỷ lệ có ≥ 3 
con cũng khá cao là 35,1%. Số con trung bình là 2,4 ± 0,7.
2. Thế Tích Tc qua Thăm Khám lâm sàng
Bảng 2. Thế tích TC qua thăm khám lâm sàng và chỉ định phẫu thuật
- Qua khám lâm sàng phần lớn TC có thể tích bằng 
TC có thai 3 tháng chiếm 86,6%. 
- Các chỉ định phẫu thuật chủ yếu là UXTC chiếm 
94,7%, tỷ lệ cắt tử cung do polyp BTC là 5,3%. 
3. Thời gian Phẫu ThuậT và mộT số yếu Tố 
liên quan.
Bảng 3. Liên quan của thời gian phẫu thuật với đường kính ngang tử cung trên 
siêu âm và trọng lượng tử cung.
*p= 0, 18, ** p < 0,05, 
1 con (%) 2 con (%) ≥3 con (%) Tổng số (%)
30-39 0 (0%) 2(100%) 0 (0%) 2 (1,8%)
40-49 3 (3,6%) 51 (60,7%) 30 (35,7%) 84 (73,7 %)
50-59 1 (3,6%) 17 (60,7%) 10(35,7%) 28 (24,6%)
Tổng số (%) 4 (3,5%) 70 (61,4%) 40 (35,1%) 114 (100%)
nhóm tuổi Số con
uXTC polyp BTC Tổng số (%)
Bằng thai 2 tháng 11 (73,3%) 4(26,7%) 15 (13,2%)
Bằng thai 3 tháng 97 (98%) 2 (2%) 99 (86,8%)
Tổng số (%) 108(94,7%) 6 (5,3%) 114 (100%)
Kích thước TC Chỉ định pT
60 phút Tổng số (%)
Khâu qua nội soi 16(36,4%) 28(63,6%) 44 (38,6%)
 Khâu đường âm đạo 28 (40%) 42 (60%) 70 (61,4%)
Tổng số (%) 44(38,6%) 70 (61,4%) 114 (100%)
Đường khâu mỏm cắt Thời gian pT
Thời gian phẫu thuật Số lượng Đường kính ngang TC Trọng lượng TC trung bình
< 60 phút 44 (38,6%) 70,0± 7,1 mm 247,7± 72,8 gr
≥ 60 phút 70 (61,4%) 72,0± 7,5 mm 276,6±73,1 gr
Tổng số 114 (100%) 71,2±7,4 *mm 264,8±73,9 gr**
Thời gian phẫu thuật Số lượng
Lượng máu mất 
trung bình
hb giảm sau phẫu 
thuật***
< 60 phút 44 (38,6%) 106,1± 70,2 ml 16,4±10,4g/l
≥ 60 phút 70 (61.4%) 122,0± 60,7 ml 17,9± 9,1g/l
Tổng số 114 (100%) 115,9±64,7 ml* 17,4±9,5**g/l
 Bảng 6. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật
Thời gian nằm viện trung bình là 3,9 ± 1,9 ngày. Ít 
nhất là 3 ngày và lâu nhất là 14 ngày, các trường hợp 
nằm viện trên 5 ngày là do nhiễm trùng mỏm cắt. 
5. các Tai biến và biến chứng
Không có trường hợp tai biến và biến chứng nào 
trong số bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi.
iv.Bàn luận
Qua nghiên cứu 114 trường hợp cắt tử cung qua 
nội soi tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 
6/2011 đến tháng 9/2012 chúng tôi thu được một số 
kết quả như sau.
Tỷ lệ bệnh nhân cắt tử cung cao nhất ở nhóm 40-
49 tuổi, kết quả này cũng tương tự như nhóm tuổi 
được ghi nhận của Nguyễn Văn Học 70,9% [1] và 
Nguyễn Quốc Tuấn 68,5% [2]. Tuổi trung bình của 
bệnh nhân được cắt TC qua nội soi của chúng tôi là 
47,3 gần tương tự với của Nguyễn Quốc Tuấn [2] và 
Trương Quang Vinh [3] là 46,9 và 45,1. Các nghiên 
cứu này đều trong khoảng năm 2010 nên về các chỉ 
định gần với nghiên cứu của chúng tôi nên tuổi phẫu 
thuật cũng không có khác biệt nhiều. 
Tất cả các bệnh nhân mổ cắt TC qua nội soi ít nhất 
có một con nhiều nhất là có 4 con, trong đó nhóm có 
2 con chiếm 61,4%, gần giống với kết quả nghiên cứu 
của Vũ Bá Quyết [4], Nguyễn Thị Minh Yên[5], nhưng 
nghiên cứu của Vũ Bá Quyết [4], và Nguyễn Quốc 
Tuấn(2) vẫn có một số trường hợp chưa sinh con lần 
nào (2,2% và 0,9%).
- Qua khám lâm sàng phần lớn TC có thể tích 
bằng TC có thai 3 tháng chiếm 86,8% cao hơn với 
Nguyễn Quốc Tuấn[2] và Nguyễn Thị Minh Yên(5) 
tỷ lệ này là 72,1% và 56,2%. Các trường hợp tương 
đương với TC có thai 2 tháng là 13,2% so với 40,1% 
của Nguyễn Thị Minh Yên[5]. 
- Các chỉ định phẫu thuật chủ yếu liên quan đến 
UXTC chiếm 94,7%, nghiên cứu của Vũ Bá Quyết [4] 
là 84,5% , nghiên cứu của Trương Quang Vinh(3) là 
62,7% . Tỷ lệ polyp buồng TC là 13,2% . 
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
91
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 89 - 92, 2013
Thời gian nằm viện Số lượng Tỷ lệ,%
3 ngày 54 47,4
4 ngày 53 46,5
5 ngày 2 1,8
8 ngày 1 0,9
11 ngày 2 1,8
14 ngày 2 1,8
Tổng số 114 100
Thời gian phẫu thuật nhanh nhất: 30 phút, lâu 
nhất: 120 phút , Có 54,4% trường hợp thời gian phẫu 
thuật trên 60 – 90 phút trong khi tỷ lệ này của Trương 
Quang Vinh[3] là 19,6%, còn phẫu thuật dưới 60 phút 
là 43,1%. Tuy nhiên so với báo cáo của Bộ môn Phụ 
Sản, đại học Y Dược Huế [6] thì thời gian phẫu thuật 
của chúng tôi vẫn nhanh hơn. Thời gian phẫu thuật 
còn phụ thuộc vào sự thành thạo của phẫu thuật viên 
và các chỉ định phẫu thuật. 
Đường kính ngang trung bình của tử cung là 71,2 
mm là phù hợp với thực tế vì các tử cung được chỉ 
định cắt đều trong tình trạng bệnh lý. Không có sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thời gian phẫu 
thuật với đường kính ngang của tử cung (p=0.18). Kết 
quả này cũng cao hơn với nghiên cứu của Nguyễn 
Quốc Tuấn [2] với đường kính ngang trung bình của 
tử cung là 63mm. 
Trọng lượng tử cung liên quan một cách có ý 
nghĩa thống kê với thời gian phẫu thuật. Thời gian 
phẫu thuật lâu trên 60 phút thường có trọng lượng 
trung bình tử cung là 276 gram và phẫu thuật dưới 60 
phút thì trọng lượng trung bình tử cung là 247gram. 
Điều này cho thấy một sự thật hiển nhiên là tử cung 
càng to thì phẫu thuật càng khó khăn hơn và thời 
gian sẽ lâu hơn cho nên việc khám lâm sàng và lựa 
chọn đường phẫu thuật chính xác trước phẫu thuật 
là hết sức quan trọng. Trọng lượng tử cung trung bình 
của chúng tôi là 264 cao hơn với nghiên cứu của 
Trương Quang Vinh [3] và Nguyễn Quốc Tuấn [2] là 
218 gram và 194,9 gram nhưng thấp hơn nhiều so với 
Bạch Cẩm An [7]và Holub Z [8] là 380 gram và 326 
gram . Có lẽ do hai nghiên cứu trên chỉ thực hiện ở 
các bệnh nhân có chỉ định mổ là UXTC, còn chúng 
tôi thì có cả đối tượng bệnh nhân là UXTC và polyp 
buồng tử cung. 
Về thời gian phẫu thuật và lượng máu mất trung 
bình cũng liên quan không có ý nghĩa thống kê với 
p=0,2. Đối với phẫu thuật dưới 60 phút lượng máu 
mất là 106 ml và phẫu thuật trên 60 phút lượng máu 
mất là 122 ml.
Trong nghiên cứu này chúng tôi phân tích 
lượng máu mất do phẫu thuật ở một khía cạnh 
cận lâm sàng dựa vào hiệu số Hemoglobin trước 
và sau phẫu thuật, tất cả các đối tượng nghiên cứu 
đều được xét nghiệm công thức máu trước và sau 
phẫu thuật để đánh giá tình trạng thiếu máu của 
bệnh nhân. Lượng Hemoglobin mất trung bình là 
17,4g/l. Mất nhiều ở nhóm phẫu thuật trên 60 phút 
và ít ở nhóm phẫu thuật dưới 60 phút. Tuy nhiên khi 
so sánh bằng test ANOVA thì không có sự khác biệt 
nguyễn Bá phê PHỤ KHOA & KHHGĐ
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
92
có ý nghĩa thống kê liên quan giữa thời gian phẫu 
thuật và sự giảm lượng Hemoglobin với p =0,45. 
Lượng Hemoglobin mất trung bình trong nghiên 
cứu của Bạch Cẩm An[7] là 10,0g/l thấp hơn so với 
của chúng tôi.
Có 61,4% bệnh nhân khâu mỏm cắt đường âm 
đạo, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 
thời gian phẫu thuật và đường khâu mỏm cắt. Tuy 
nhiên theo kinh nghiệm của các phẫu thuật viên khi 
khâu mỏm cắt đường nội soi mép mỏm cắt sẽ lộn vào 
trong ổ bụng, điều này giúp cho phẫu thuật viên cẩm 
máu và kiểm tra mỏm cắt sẽ tốt hơn đồng thời trong 
thời gian hậu phẫu ít ra dịch âm đạo hơn do đó giảm 
được các nguy cơ nhiễm trùng mỏm cắt.
Thời gian nằm viện trung bình là 3,9 ± 1,9 ngày. Ít 
nhất là 3 ngày và lâu nhất là 14 ngày. Có 5 trường hợp 
nằm viện trên 6 ngày vì bệnh nhân bị nhiễm trùng 
mỏm cắt. So với nghiên cứu của Vũ Bá Quyết [9] thì 
thời gian nằm viện trung bình là 5 ngày còn của Đại 
học Y Dược Huế [6] thời gian nằm viện trung bình là 
4 ngày. Sự khác biệt lớn như vậy có lẽ liên quan nhiều 
hơn đến điều kiện chăm sóc hậu phẫu và quan điểm 
điều trị. Với nghiên cứu của Vũ Bá Quyết [4] là thống 
kê trong 5 năm từ 2004 đến 2008 thì điều kiện chăm 
sóc cũng như kháng sinh sau mổ không thể tốt bằng 
nghiên cứu của chúng tôi thực hiện nhiều năm sau 
đó cũng tại BVPSTW nên bệnh nhân được lưu lại lâu 
hơn để theo dõi.
05 trường hợp nhiễm trùng mỏm cắt chiếm 4,4%, 
tỷ lệ này cũng gần với nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Minh Yên [5] là 4,17%. 
Kết luận
Các bệnh nhân cắt TC qua nội soi đều có ít nhất 1 
con, tập trung nhiều ở lứa tuổi 40 – 49 chiếm 73,7%. 
Thăm khám lâm sàng TC to hơn bình thường 
chiếm 100%. Trong đó to bằng thai 3 tháng chiếm 
86,8%. Chỉ định phẫu thuật chủ yếu là do UXTC 
(94,7%), còn lại là polyp BTC. Kích thước ngang tử 
cung trung bình trên siêu âm là 71,2mm. Thời gian 
phẫu thuật trên 60 phút chiếm 61,4% , thời gian phẫu 
thuật lâu hơn 60 phút có liên quan có ý nghĩa thống 
kê đến trọng lượng tử cung. Trọng lượng trung bình 
của tử cung là 264,8 ± 73,9gr và lượng máu mất trung 
bình trong phẫu thuật là 115,9±64,7 ml. 
Mức giảm Hemoglobin trước và sau phẫu thuật 
trung bình ở nhóm đối tượng không phải truyền máu 
là 17,4 g/l ± 9,5. 
Trong nghiên cứu có 05 trường hợp bị nhiễm 
trùng mỏm cắt âm đạo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Học. Kết quả 103 ca áp dụng 
phương pháp cắt tử cung hoàn toàn ngả âm đạo có hỗ 
trợ của nội soi tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng. Kỷ 
yếu Hội nghị Sản Phụ khoa Việt Pháp. 2011. Tr 234-7.
2. Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Phương Mai, 
Nguyễn Phương Tú . Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt 
tử cung hoàn toàn qua nội soi tại BVPSTW năm 2010. 
Tạp chí Phụ Sản, Tập 09 . Số 03/2011 tr. 51-7.
3. Trương Quang Vinh, Võ Văn Đức, Trần Mạnh 
Linh. Nghiên cứu ứng dụng cắt tử cung qua nội soi 
trong các bệnh lý tử cung không sa. Tạp chí Phụ Sản, 
Tập 09. Số 03/2011 tr. 31-9.
4. Vũ Bá Quyết, Nguyễn Viết Tiến, Nguyễn Đức 
Hinh. Kết quả cắt tử cung qua nội soi tại BVPSTW từ 
năm 2004-2008. Kỷ yếu Đại hội Toàn quốc & Hội nghị 
khoa học Hội Phụ Sản khoa & Sinh đẻ có kế hoạch 
Việt Nam lần thứ XVI. 2009. Tr 233-9.
5. Nguyễn Thị Minh Yên. Kết quả phẫu thuật nội 
soi cắt tử cung hoàn toàn tại khoa Phụ Sản Bệnh viện 
Trung ương Quân đội 108. Tạp chí Y Dược lâm sàng 
108, tập 6, Số đặc biệt 03/2011 tr. 431-6.
6. Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y dược Huế. Tổng 
quan cắt tử cung qua nội soi. Chuyên đề Sản Phụ 
khoa, nhà xuất bản Đại học Huế 2007. Tr 76-84.
7. Bạch Cẩm An và cộng sự . Đánh giá kết quả 
phẫu thuật nội soi cắt tử cung toàn phần có hỗ trợ 
của cần nâng có nắp tử cung tại khoa Sản Bệnh viện 
Trung ương Huế. Tạp chí Phụ Sản, Số đặc biệt 03-
04/2007 tr. 230-7.
8. Holub Z, Bartos P. The definition of Laparoscopic 
Hysterectomy. Ceska. Gyneko. Sep, 1999, 64(5). P326-7.
9. Vũ Bá Quyết, Nguyễn Quốc Tuấn. Đánh giá phẫu 
thuật nội soi trong phẫu thuật ung thư niêm mạc tử 
cung tại BVPSTW. Kỷ yếu Hội nghị Sản phụ Khoa Việt 
Pháp 2009. Tr.78-80.
10. Lê Quang Thanh. So sánh các kỹ thuật cắt tử 
cung trong điều trị bệnh phụ khoa lành tính. Thời sự y 
học. Tháng 1&2/2007 . Tr 13-5.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cat_tu_cung_duong_noi_soi_tai_khoa_phu_ngoai_benh.pdf