Nghiên cứu cải tiến kỹ thuật mổ rau cài răng lược

Đặt vấn đề: rau cài răng lược là nguyên nhân thường gặp nhất của

cắt tử cung cầm máu trong sản khoa, đây cũng là bệnh lý dễ gây biến

cố trong mổ và tử vong mẹ.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 8 sản phụ được chẩn đoán rau

cài răng lược trước sinh, phẫu thuật theo phương pháp cắt tử cung bán

phần ngược dòng từ tháng 11/2016 đến tháng 2/2017. Phương pháp

nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng không đối chứng.

Kết quả: Kỹ thuật mổ cắt tử cung bán phần ngược dòng cho phép

hạn chế chảy máu trong mổ, bóc tách bàng quang tối đa kể cả ở những

bệnh nhân có gai rau đâm xuyên, cũng như là hạn chế tổn thương niệu

quản. Trong loạt bệnh nhân này chúng tôi không gặp biến chứng nào

trong mổ và sau mổ cho mẹ, một trường hợp thai nhi cần hồi sức sơ sinh

do non tháng. Lượng máu truyền trung bình là 1050±320 ml.

Kết luận: phương pháp cắt tử cung bán phần ngược dòng là một kỹ

thuật cắt tử cung cầm máu cấp cứu an toàn, hiệu quả, ít tai biến trong

các trường hợp rau cài răng lược

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu cải tiến kỹ thuật mổ rau cài răng lược", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu cải tiến kỹ thuật mổ rau cài răng lược

Nghiên cứu cải tiến kỹ thuật mổ rau cài răng lược
VŨ BÁ QUYẾT, NGUYỄN THÁI GIANG, NGUYỄN VĂN THẮNG
178
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
Vũ Bá Quyết(1), Nguyễn Thái Giang(2), Nguyễn Văn Thắng(1) 
(1) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà nội
NGHIÊN CỨU CẢI TIẾN KỸ THUẬT MỔ
RAU CÀI RĂNG LƯỢC
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thái Giang, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: mổ lấy thai, cắt tử 
cung bán phần ngược dòng, 
rau cài răng lược, rau tiền đạo.
Keywords: cesarean section, 
posterior retrograde subtotal 
hysterectomy, placenta accreta, 
placenta previa.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: rau cài răng lược là nguyên nhân thường gặp nhất của 
cắt tử cung cầm máu trong sản khoa, đây cũng là bệnh lý dễ gây biến 
cố trong mổ và tử vong mẹ. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 8 sản phụ được chẩn đoán rau 
cài răng lược trước sinh, phẫu thuật theo phương pháp cắt tử cung bán 
phần ngược dòng từ tháng 11/2016 đến tháng 2/2017. Phương pháp 
nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng không đối chứng. 
Kết quả: Kỹ thuật mổ cắt tử cung bán phần ngược dòng cho phép 
hạn chế chảy máu trong mổ, bóc tách bàng quang tối đa kể cả ở những 
bệnh nhân có gai rau đâm xuyên, cũng như là hạn chế tổn thương niệu 
quản. Trong loạt bệnh nhân này chúng tôi không gặp biến chứng nào 
trong mổ và sau mổ cho mẹ, một trường hợp thai nhi cần hồi sức sơ sinh 
do non tháng. Lượng máu truyền trung bình là 1050±320 ml. 
Kết luận: phương pháp cắt tử cung bán phần ngược dòng là một kỹ 
thuật cắt tử cung cầm máu cấp cứu an toàn, hiệu quả, ít tai biến trong 
các trường hợp rau cài răng lược.
Từ khóa: mổ lấy thai, cắt tử cung bán phần ngược dòng, rau cài răng 
lược, rau tiền đạo. 
Abstract 
A STUDY FOR IMPROVING CESAREAN TECHNIQUES 
IN PLACENTA ACCRETA
Background: Placenta praevia/accreta is associated with significant 
maternal morbidity and mortality and is a common cause of obstetric 
hysterectomy. 
Materials and methods: This paper describes posterior retrograde 
subtotal hysterectomy, a new surgical technique for caesarean 
hysterectomy, in 8 women from November 2016 to February 2017 with 
placenta percreta, increta or accreta. 
Results: There were no intraoperative or postoperative maternal 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 178 - 182, 2017
179
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
complications, and only one fetus required admission to the neonatal unit, for prematurity. Mean 
blood transfusion was 1050±320 ml. 
Conclusions: Our technique in placenta praevia/accreta allows early uterine devascularisation and 
safe resection of the involved urinary bladder in women with placenta percreta, as well as preventing 
ureteral injury. Analytical studies are needed to confirm our findings.
Keywords: cesarean section, posterior retrograde subtotal hysterectomy, placenta accreta, 
placenta previa. 
1. Đặt vấn đề
Tỷ lệ rau cài răng lược (RCRL) tăng song song 
với sự gia tăng của mổ lấy thai, chiếm khoảng 5% 
các trường hợp rau tiền đạo. Rau cài răng lược 
là một loại bệnh lý sản khoa xảy ra khi các gai 
rau bám đến lớp cơ tử cung, hoặc đâm xuyên qua 
thành tử cung. Hiện nay, RCRL có thể được chẩn 
đoán sớm trước khi chuyển dạ với sự trợ giúp của 
siêu âm. Việc chẩn đoán sớm RCRL giúp thầy thuốc 
chuẩn bị chủ động khi xử trí phẫu thuật, nhất là với 
các trường hợp nhiều nguy cơ như tiền sử mổ đẻ 
cũ nhiều lần, rau tiền đạo. RCRL là một biến chứng 
nghiêm trọng của thai nghén, có thể gây nên tình 
trạng mất máu tối cấp và đe dọa tính mạng của 
bệnh nhân trong và sau đẻ. Có đến 90% bệnh 
nhân RCRL cần truyền máu, và 40% trường hợp 
cần truyền hơn 10 đơn vị máu hồng cầu khối [1]. 
Trên thực tế RCRL là nguyên nhân hàng đầu của 
chỉ định mổ lấy thai kèm cắt tử cung. Khó khăn 
nhất trong xử trí phẫu thuật rau cài răng lược là 
vấn đề cầm máu, đặc biệt đối với các sản phụ có 
sẹo mổ đẻ cũ, rau đâm xuyên mặt trước ăn thủng 
bàng quang. 
Các khó khăn trong kỹ thuật mổ RCRL
Tiền sử mổ đẻ nhiều lần làm tăng tần xuất của 
RCRL trong lần có thai tiếp theo. Hơn nữa, sẹo mổ 
cũ và rau tiền đạo cắm vào thành trước của tử cung 
là một nguy cơ rất lớn của RCRL. Tình trạng chảy 
máu ồ ạt hay nguy cơ tổn thương bàng quang có 
thể xảy ra trong cắt tử cung cấp cứu cầm máu. 
Trong một nghiên cứu, Tan và cộng sự đã thấy cắt 
tử cung cấp cứu trong RCRL làm tăng nguy cơ biến 
chứng cho mẹ và nguy cơ tổn thương hệ tiết niệu rất 
cao trong những trường hợp rau đâm xuyên. Thêm 
vào đó, việc cắt tử cung có thể cũng không đạt 
được hiệu quả cầm máu do tình trạng mất máu cấp 
tính xảy ra khi phẫu tích bàng quang- tử cung nơi 
bánh rau đâm xuyên và có nhiều mạch máu tăng 
sinh. Nếu thực hiện việc phẫu tích bàng quang sớm 
như trong kỹ thuật mổ cắt tử cung thường quy, chảy 
máu sau bước này có thể đe dọa tính mạng sản 
phụ. Do đó, cắt tử cung cấp cứu trong RCRL luôn 
là một thách thức. Nhiều tác giả đã nghiên cứu 
nhiều cách thức mổ khác nhau cho RCRL. Chúng 
tôi đã thử nghiệm và thử xây dựng một quy trình 
phẫu thuật cho những trường hợp này có tham 
khảo phương pháp mổ của các tác giả trên thế 
giới. Chúng tôi gọi là phương pháp “cắt tử cung 
bán phần ngược dòng”. Phần sau đây chúng tôi sẽ 
mô tả chi tiết các bước chính của phẫu thuật
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 
Tất cả những sản phụ được chẩn đoán RCRL 
trước sinh theo tiêu chuẩn [2], được phẫu thuật theo 
VŨ BÁ QUYẾT, NGUYỄN THÁI GIANG, NGUYỄN VĂN THẮNG
180
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
phương pháp cắt tử cung bán phần ngược dòng từ 
tháng 11/2016 đến tháng 2/2017.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không đối chứng
2.3. Các bước của phẫu thuật cắt tử 
cung bán phần ngược dòng
3. Kết quả phẫu thuật và đặc 
điểm bệnh nhân RCRL
3.1. Mô tả các bước phẫu thuật
Sản phụ nhân ở tư thế nằm, được gây mê toàn 
thân bệnh, chuẩn bị các đường truyền cần thiết để 
có thể đảm bảo việc hồi sức trong mổ.
Tiến hành cắt bỏ sẹo mổ cũ đường giữa dưới 
rốn hoặc ngang trên vệ để vào ổ bụng.
Rạch dọc thân về phía đáy tử cung lấy thai. Sau 
đó kẹp cầm máu mép nơi mở tử cung, tránh mất 
máu không cần thiết trong quá trình cắt tử cung. 
Bánh rau để tại chỗ, kiểm tra vị trí bám của bánh 
rau và mạch máu tăng sinh.
Tiến hành cắt tử cung từ dây chằng tròn và dây 
chằng tử cung-buồng trứng. Sau đó đẩy thấp dây 
chằng rộng 2 bên.
Lật mặt sau tử cung, nắn vị trí cổ tử cung, xác 
định eo tử cung và tiến hành cắt tử cung bán phần 
ngược dòng ở vị trí dưới eo tử cung 1 cm (thấp hơn 
chỗ bám của bánh rau). Dùng dao rạch ngang vị 
trí này đến ống cổ tử cung. Dùng pince kẹp vòng 
quanh cổ tử cung sang bên (cùng động mạch cổ tử 
cung-âm đạo) và ra trước sau khi mở đường hầm ở 
tổ chức giữa bàng quang và mặt trước cổ tử cung. 
Lưu ý rằng cổ tử cung trong thời kì mang thai rất 
mềm và phúc mạc mặt sau bàng quang đoạn này 
lỏng lẻo, dễ bóc tách.
1. Gây mê toàn thân
2. Cắt bỏ sẹo mổ cũ đường giữa dưới rốn hoặc ngang trên vệ
3. Mở dọc thân tử cung lấy thai, không bóc rau
4. Kẹp cầm máu các mép vết mổ
5. Cắt dây chằng tròn, dây chằng tử cung-buồng trứng
6. Tiếp cận mặt sau tử cung, xác định vị trí cổ tử cung, đoạn eo
7. Rạch mặt sau cổ tử cung (thấp hơn eo tử cung 1cm) cho đến khi chạm ống cổ tử cung
8. Dùng pince kẹp và cắt vòng quanh cổ tử cung sang bên và ra trước
9. Lật ngược cổ tử cung ra sau và lên trên
10. Dùng ngón tay tách dây chằng rộng 2 bên, kẹp cắt ĐM tử cung
11. Phẫu tích tiếp bằng ngón tay ở mặt sau bàng quang và mặt trước tử cung
12. Tách rời bàng quang khỏi mặt trước tử cung
13. Khâu mỏm cắt cổ tử cung
14. Phục hồi tổn thương bàng quang nếu có
15. Khâu phục hồi thành bụng
Lật ngược cổ tử cung ra sau và lên trên. Dùng 
ngón tay tách phía sau bên bàng quang sang dây 
chằng rộng 2 bên. Xác định và kẹp cắt bó mạch 
tử cung 2 bên.
Lúc này, chỉ còn bàng quang dính vào đoạn 
dưới tử cung, nơi nghi ngờ có bánh rau đâm xuyên. 
Tại đây, dùng ngón tay phẫu tích mặt sau bàng 
quang (theo hướng từ dưới lên trên) ra khỏi tử cung. 
Tiếp đó, khâu đóng mỏm cắt cổ tử cung, các tổn 
thương bàng quang nếu có sẽ được phục hồi, kiểm 
tra chảy máu và đóng thành bụng thường quy.
3.2. Kết quả nghiên cứu
Từ tháng 11/2016 đến tháng 2/2017 có 8 
bệnh nhân RCRL được áp dụng kỹ thuật cắt tử cung 
bán phần ngược dòng. Tuổi trung bình của sản 
phụ, tuổi thai trung bình, thời gian nằm viện lần lượt 
là 35 tuổi (24-37), 37 tuần (34-38), 72 phút (40-
150), 5 ngày (4-7). 8/8 bệnh nhân được truyền 
máu, lượng máu truyền trung bình là 1050±320 ml 
(1-4 đơn vị khối hồng cầu). Không bệnh nhân nào 
gặp biến chứng trong và sau mổ, không trường hợp 
nào gặp tổn thương niệu quản. 2/8 trường hợp có 
gai rau đâm xuyên thủng bàng quang cần phải cắt 
lọc và khâu phục hồi bàng quang 2 lớp dễ. Không 
có trường hợp nào phải mổ lại hay phải nhập viện 
lại vì biến chứng. 1 trường hợp cần chăm sóc sơ 
sinh tích cực do thai non tháng 34 tuần.
Theo nghiên cứu của Lê Hoài Chương năm 
2012, tỷ lệ RCRL là 1/711 ca đẻ, gặp ở 7% tổng 
số người bệnh rau tiền đạo và ghi nhận một kỷ lục 
về truyền máu tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
là 23 đơn vị ở người bệnh thai 29 tuần- Rau tiền 
đạo trung tâm- rau cài răng lược – mổ đẻ cũ 2 
lần [3]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Hinh 
tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương tỉ lệ này trong 2 
năm 1989-1990 là 2,9% và 2 năm 1993-1994 là 
6,4%. Như vậy tỉ lệ rau cài răng lược ngày càng 
tăng ở các sản phụ rau tiền đạo, tương tự nhận xét 
của một số tác giả trên thế giới. Nghiên cứu của 
Miller D.A cho thấy, khi đã có 1 lần mổ lấy thai 
nguy cơ bị RCRL là 0,24%, tỷ lệ này tăng lên là 
0,31% ở người đã mổ lấy thai 2 lần và với người 
đã có 3 lần mổ lấy thai thì nguy cơ này lên tới 
0,57% [4]. Nghiên cứu của Nguyễn Liên Phương 
và Trần Danh Cường năm 2015 thấy rằng, 100% 
bệnh nhân có tiền sử mổ lấy thai (chủ yếu là mổ 1 
hoăc 2 lần), và thấy tầm quan trọng của siêu âm 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 178 - 182, 2017
181
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
trong chẩn đoán RCRL khi có đến 91,4% trường 
hợp được chẩn đoán trước mổ, tương đương nghiên 
cứu của Miller cũng cho thấy độ nhạy của siêu âm 
lên tới 90% [5].
4. Bàn luận
Do RCRL là một tình trạng bệnh lý sản khoa có 
nguy cơ chảy máu đe dọa tính mạng sản phụ và 
thai nhi, do đó, tiến hành cắt tử cung cầm máu 
một cách khẩn trương và an toàn luôn là việc cần 
thiết. Nhiều nghiên cứu trước đây mô tả phương 
pháp phẫu thuật liên quan đến nguy cơ chảy máu 
cấp tính ở thai phụ. Bởi vậy, kỹ thuật “cắt tử cung 
bán phần ngược dòng” có thể cho phép kiểm soát 
chảy máu, phẫu tích tối đa bàng quang khỏi tử 
cung trước khi cắt lọc và hạn chế nguy cơ tổn 
thương hệ tiết niệu.
4.1. Kiểm soát chảy máu
Đường mở bụng
Chúng tôi thường cắt bỏ sẹo mổ cũ và vào ổ 
bụng. Ở lớp cân thành bụng chúng tôi cố gắng 
rạch ở vị trí cao hơn chỗ bám của bánh rau để 
tránh chảy máu ở thì vào bụng. Trong trường hợp 
phẫu thuật viên còn ít kinh nghiệm chúng tôi cho 
rằng có thể mở bụng đường dọc giữa dưới rốn, mở 
lên trên rốn nếu cần thiết. Do cách tiếp cận này 
giúp tránh được chảy máu ngay trong thì mở bụng 
khi bánh rau đâm xuyên cơ tử cung và có nhiều 
mạch máu tăng sinh ở sẹo mổ cũ thành bụng. Hơn 
thế nữa, với đường mổ này có thể mở rộng phẫu 
trường khi cần một cách dễ dàng và giúp lấy thai ở 
đáy tử cung dễ hơn. 
Mở tử cung lấy thai
Từ năm 2013, chúng tôi tiến hành kĩ thuật mở 
tử cung bằng đường rạch dọc thân về phía đáy tử 
cung lấy thai. Bánh rau để tại chỗ, không bóc rau 
và tiến hành cắt tử cung luôn cho những sản phụ 
không còn nguyện vọng có thai. Với phương thức 
xử trí chủ động này, việc chảy máu đã giảm đi 
đáng kể, trung bình mỗi trường hợp chỉ còn cần 
khoảng 4 đơn vị máu [6].
Cắt tử cung bán phần ngược dòng
Kỹ thuật cắt tử cung ngược dòng từ lâu đã được 
sử dụng trong phẫu thuật phụ khoa, được phát 
triển và mô tả lần đầu bởi Bony từ năm 1964. Có 
thể áp dụng kỹ thuật này trong trường hợp khối u 
tiểu khung làm biến dạng giải phẫu và xâm lấn 
như trong u xơ tử cung trong dây chằng rộng hay 
trong ung thư buồng trứng di căn vào thành chậu. 
Các tác giả như AE Selman, Sato Hiroshi có đề 
xuất phương pháp cắt tử cung hoàn toàn ngược 
dòng trong RCRL qua đường tiếp cận từ cùng đồ 
sau [7,8].
Đoạn dưới tử cung, cổ tử cung và phần trên âm 
đạo được cấp máu bởi nhóm mạch máu chạy dưới 
phúc mạc cổ tử cung âm đạo (nhánh của động 
mạch thẹn), các mạch máu phụ trợ từ động mạch 
chậu trong, động mạch cổ tử cung và động mạch 
bàng quang dưới. Do đó, thắt động mạch hạ vị 
đơn thuần không hiệu quả trong những trường hợp 
chảy máu thứ phát do RCRL, hơn nữa thủ thuật này 
đòi hỏi kinh nghiệm của phẫu thuật viên, gia tăng 
thời gian mất máu và tăng tỷ lệ biến chứng. Trong 
trường hợp này cần phải cầm máu theo phương 
pháp khác, một số tác giả đã gợi ý có thể bơm 
bóng gây tắc động mạch, tuy nhiên tiềm ẩn nguy 
cơ như nhiễm khuẩn, huyết khối và có thể hoại tử tổ 
chức. Với những chứng cứ hiện có ACOG cho rằng 
chưa đủ để khuyến cáo gây tắc mạch để làm giảm 
lượng máu mất và cải thiện kết quả phẫu thuật.
Trong điều kiện hiện tại kể từ khi triển khai kĩ 
thuật cắt tử cung bán phần ngược dòng, chúng tôi 
thấy sau khi kẹp cắt vòng quanh cổ tử cung, việc 
kiểm soát cầm máu chủ động và dễ dàng hơn, hạn 
chế lượng máu phải truyền trong và sau mổ. Số 
lượng máu phải truyền trung bình ở 8 bệnh nhân 
này là 1050 ml máu, ít hơn so với nghiên cứu của 
chúng tôi trước đây năm 2014 và ít hơn nhiều so 
với nghiên cứu của Nguyễn Liên Phương.
4.2. Phẫu tích tối đa bàng quang
Phẫu tích bàng quang sớm gây chảy máu, 
làm tăng nguy cơ mất máu và phải truyền máu. 
Một khó khăn không nhỏ là khi đã chảy máu rất 
khó bóc tách được đúng lớp và khi đó dễ làm tổn 
thương nghiêm trọng bàng quang, nhất là ở vùng 
tam giác bàng quang. Kĩ thuật được chúng tôi triển 
khai là kiểm soát việc chảy máu trước khi phẫu tích 
bàng quang. Do phúc mạc mặt sau bàng quang 
và cổ tử cung dễ bóc tách, chúng tôi chủ động mở 
đường hầm nhờ phẫu tích bằng đầu kéo tù. Sau đó 
kẹp cắt cổ tử cung nhằm kiểm soát chảy máu. Sau 
đó, phẫu tích ngược dòng bàng quang từ dưới lên 
trên bằng tay cho đến khi không tách được nữa do 
dính chặt hoặc gai rau đâm xuyên. Lúc này chúng 
VŨ BÁ QUYẾT, NGUYỄN THÁI GIANG, NGUYỄN VĂN THẮNG
182
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
tôi mới phẫu tích bằng kéo và có thể cắt lọc lỗ rách 
bàng quang do gai rau đâm xuyên. Với phương 
pháp phẫu tích bàng quang ngược dòng bằng tay, 
2/8 trường hợp chúng tôi phải khâu phục hồi bàng 
quang nhưng đều rất thuận lợi do cách xa vùng 
tam giác bàng quang.
4.3. Hạn chế nguy cơ tổn thương hệ 
tiết niệu
Tổn thương bàng quang
Trong trường hợp có gai rau đâm xuyên, có thể 
sẽ có tổn thương bàng quang, tuy nhiên cách phẫu 
tích ngược dòng bàng quang giúp tránh xa vùng 
tam giác bàng quang. Do dó, việc khâu phục hồi 
bàng quang 2 lớp là dễ dàng, kết hợp với việc lưu 
sonde tiểu 5 ngày, không có trường hợp nào có 
biến chứng dò bàng quang – âm đạo.
Tổn thương niệu quản
Một số tác giả như AE Selman, Sato Hiroshi có 
đề xuất phương pháp cắt tử cung hoàn toàn ngược 
dòng nhưng nhìn chung vẫn còn gặp tổn thương 
niệu quản [7,8].
Trước khi phẫu thuật chúng tôi đã kiểm tra 
đường đi của niệu quản. Để tăng thêm độ an toàn 
với niệu quản, chúng tôi chọn giải pháp cắt tử cung 
bán phần nhằm tránh những biến chứng như dò 
niệu quản hay hẹp, gấp khúc niệu quản trong một 
phẫu thuật chảy máu như RCRL.
Theo một số tác giả Pháp, Mỹ có thể đặt sonde 
JJ niệu quản trước mổ nhằm dễ xác định niệu quản 
và có điểm mốc để phục hồi tổn thương niệu quản 
nếu có [9]. Theo chúng tôi, tổn thương niệu quản 
là một tai biến khá thường gặp trong phẫu thuật 
chảy máu như RCRL bởi khó đánh giá chính xác 
các mốc giải phẫu do phúc mạc phù nề trong thời 
kì thai nghén. Với phẫu thuật cắt tử cung bán phần 
ngược dòng, dù số lượng cas bệnh còn khiêm tốn 
(8 trường hợp) nhưng chúng tôi chưa gặp trường 
hợp nào có biến chứng niệu quản.
5. Kết luận
Như vây, qua nghiên cứu 8 trường hợp thực 
hiện kỹ thuật cắt tử cung bán phần ngược dòng cầm 
máu trong RCRL cho thấy đây là một phương pháp 
phẫu thuật triển vọng với điểm chính là đường mở 
bụng dọc và cắt tử cung bán phần ngược dòng. Ưu 
điểm của phương pháp này là giúp kiểm soát chảy 
máu, phẫu tích bàng quang ngược dòng tối đa và 
hạn chế các tổn thương tiết niệu.
Tài liệu tham khảo
1. Lê Thị Hương Trà. Nghiên cứu về rau cài răng lược có can thiệp 
phẫu thuật tại bệnh viện Phụ Sản trung ương trong 5 năm 2007-2011. 
Luận văn thạc sĩ y học, 2012; tr.31.
2. Trần Danh Cường. Chẩn đoán rau cài răng lược bằng siêu âm 
Doppler màu. Hội nghị Sản phụ khoa Việt- Pháp năm 2011, chuyên đề 
chẩn đoán trước sinh- sơ sinh, 2011; tr.119-124.
3. Lê Hoài Chương. Nghiên cứu xử trí các trường hợp rau tiền đạo tại 
Bệnh viện Phụ sản trung ương tử 01/01/2012 đến 31/12/2012. Tạp chí 
Y học lâm sàng, 2012; số 70
4. Miller D.A, Chollet J.A and Goodwin T.M. Clinical risk factor of previa 
placenta accreta, Am J. Obstet Gynecol. July,1997; 177(1), p.210-4.
5. Nguyễn Liên Phương, Trần Danh Cường. Nhận xét về chẩn đoán 
và xử trí rau cài răng lược tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Kỷ yếu 
hội nghị sản phụ khoa Việt Pháp 2015.
6. Vũ Bá Quyết, Trần Danh Cường, Trần Vũ Quang. Đánh giá phương 
pháp mổ dọc tử cung trong xử trí rau cài răng lược. Tạp chí Phụ sản, 
2013; 11(2), 43-45
7. Hiroshi S, Nao T, Saeko I, Kanako K, Takako S, Masaya. Modified 
retrograde cesarean hysterectomy for placenta previa accreta. J Case 
Rep Images Gynecol Obstet 2016;2:25–30.
8. Selman AE. Caesarean hysterectomy for placenta praevia/accreta 
using an approach via the pouch of Douglas. BJOG 2016;123:815–819.
9. Laura M.R., Cotton D.B. Modern management of placenta previa and 
placenta accrete. Sciarra Gynecology and Obstetrics, Revised edition, 
1997; 49(2), p.1-11.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cai_tien_ky_thuat_mo_rau_cai_rang_luoc.pdf