Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên y tế khoa cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2019

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt

ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính, tiến

hành từ tháng 04/2019 đến tháng 07/2019. Đối tượng

nghiên cứu là Lãnh đạo Bệnh viện, Trưởng phòng Tổ

chức cán bộ, bác sĩ, điều dưỡng, thư ký, hộ lý, nhân viên

phục vụ tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy. Nghiên

cứu định lượng thông qua việc thu thập số liệu bằng bảng

câu hỏi khảo sát nhằm đánh giá sự hài lòng công việc của

nhân viên y tế (NVYT). Nghiên cứu định tính bằng phỏng

vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm phân tích một số yếu tố

ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của NVYT tại khoa

Cấp cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy.

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên y tế khoa cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên y tế khoa cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2019

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên y tế khoa cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2019
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 63
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÓM TẮT
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt 
ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính, tiến 
hành từ tháng 04/2019 đến tháng 07/2019. Đối tượng 
nghiên cứu là Lãnh đạo Bệnh viện, Trưởng phòng Tổ 
chức cán bộ, bác sĩ, điều dưỡng, thư ký, hộ lý, nhân viên 
phục vụ tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy. Nghiên 
cứu định lượng thông qua việc thu thập số liệu bằng bảng 
câu hỏi khảo sát nhằm đánh giá sự hài lòng công việc của 
nhân viên y tế (NVYT). Nghiên cứu định tính bằng phỏng 
vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm phân tích một số yếu tố 
ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của NVYT tại khoa 
Cấp cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy. Kết quả: Có 3 nhóm yếu tố 
ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của NVYT bao gồm: 
1. Nhóm thuộc về NVYT với các yếu tố như: đặc điểm cá 
nhân; vị trí công tác, kinh nghiệm làm việc; thu nhập; định 
hướng nghề nghiệp. 2 Nhóm môi trường bên ngoài với 
các yếu tố như: Quy định của cơ quan quản lý nhà nước; 
đặc thù của ngành Y tế; tiền lương và phúc lợi xã hội hiện 
tại. 3. Nhóm môi trường bên trong với các yếu tố như: 
Sự quan tâm của Lãnh đạo Bệnh viện/khoa Cấp cứu; các 
chính sách và quy định về nhân sự; cơ cấu tổ chức và phân 
công công việc; cơ sở vật chất và mặt bằng; điều kiện môi 
trường làm việc và áp lực công việc
Từ khóa: Hài lòng, NVYT, khoa Cấp cứu, Bệnh 
viện Chợ Rẫy
ABSTRACT:
STUDY ON FACTORS AFFECTING JOB 
SATISFACTION OF THE HEALTH CARE 
WORKERS AT THE EMERGENCY DEPARTMENT 
IN CHO RAY HOSPITAL IN 2019
The study uses cross-sectional research method, 
combining quantitative and qualitative; conducted from 
April 2019 to July 2019. The subjects of the study were 
hospital leaders, head of the Department of Personnel 
and Organization, doctors, nurses, secretaries, midwives, 
and staff at the Emergency Department in Cho Ray 
Hospital. Quantitative research through data collection 
using questionnaire to assess job satisfaction of the health 
workers. Qualitative research through in-depth interviews 
and group discussions to analyze some factors affecting 
the job satisfaction of the health workers at the Emergency 
Department, in Cho Ray Hospital.
Results: There are 3 groups of factors that affect job 
satisfaction of the health workers, including:
1. The factors relating to health workers such as: 
individual characteristics; working positions, working 
experience; income; career orientation.
2. The external factors such as: Regulations of state 
management agencies; characteristics of the health sector; 
salaries and social benefits.
3. The internal factors such as: The care of the 
hospital leaders / Emergency department; policies and 
regulations on personnel; organizational structure and 
work assignment; facilities and premises; working 
environment conditions and work pressure.
Key Words: Job satisfaction, health care workers, 
emergency department, Cho Ray Hospital
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm qua, ngành Y tế nước ta đã có những 
bước tiến vượt bậc trong hoạt động khám chữa bệnh nhằm 
đảm bảo và nâng cao sức khỏe của người dân. Hiệu quả 
hoạt động của một cơ sở y tế chịu tác động của nhiều yếu 
tố, trong đó nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng, 
Ngày nhận bài: 31/01/2020 Ngày phản biện: 07/02/2020 Ngày duyệt đăng: 13/02/2020
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG 
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ KHOA CẤP CỨU BỆNH 
VIỆN CHỢ RẪY NĂM 2019
Hoàng Cao Sạ1, Võ Tuấn Ngọc1, Nguyễn Duy Tiến2
1. Viện Đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành Y tế- Trường Đại học Y tế Công cộng
2. Khoa Khoa học cơ bản – Trường Đại học Y tế Công cộng
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn64
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công 
tác khám chữa bệnh[3]. 
Ðể thực hiện hiệu quả công tác khám chữa bệnh, song 
song với việc đảm bảo nguồn nhân lực, đầu tư xây dựng 
cơ sở vật chất, đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn  
thì cần phải nâng cao hiệu quả lao động của nguồn nhân 
lực hiện có. Muốn làm được điều này, các cơ sở y tế cần 
phải đánh giá được thực trạng nguồn nhân lực cũng như 
các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của đội 
ngũ nhân viên y tế (NVYT), từ đó đề xuất các giải pháp 
nhằm nâng cao mức độ hài lòng[2][4][6][7].
Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy là một khoa 
lớn của Bệnh viện với 170 NVYT (bao gồm bác sĩ, 
điều dưỡng, hộ lý, nhân viên phục vụ), hàng ngày đang 
phải hoạt động với cường độ cao; trung bình mỗi ngày 
tiếp nhận từ 350-400 bệnh nhân cấp cứu; vì vậy, việc 
duy trì đội ngũ hiện tại và tăng cường nhân lực là hết 
sức cần thiết[1]. Để làm được điều này, Lãnh đạo Bệnh 
viện, khoa cần phải nắm bắt được nguyện vọng, mức 
độ hài lòng công việc hiện tại của NVYT và các yếu 
tố liên quan làm cơ sở để đề ra các giải pháp và quyết 
định cải tiến. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: 
“Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài 
lòng công việc của nhân viên y tế khoa Cấp cứu Bệnh 
viện Chợ Rẫy năm 2019”, nhằm tìm cơ sở khoa học 
cho các giải pháp cải thiện sự hài lòng của nhân viên y 
tế với công việc, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh 
tại Bệnh viện.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
- NVYT (bao gồm: bác sĩ, điều dưỡng, thư ký, hộ 
lý, nhân viên phục vụ) đang công tác tại khoa Cấp cứu, 
Bệnh viện Chợ Rẫy.
- Lãnh đạo Bệnh viện, lãnh đạo khoa Cấp cứu, lãnh 
đạo phòng Tổ chức cán bộ
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Khoa Cấp cứu, bệnh viện Chợ Rẫy.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 04/2019 đến tháng 
07/2019.
2.3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt 
ngang, kết hợp định lượng và định tính.
- Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua 
việc thu thập số liệu bằng bảng câu hỏi khảo sát tại khoa 
Cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy. 
- Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua 
việc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Khảo sát toàn bộ NVYT đang công tác tại khoa 
Cấp cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy.
- Phỏng vấn sâu 05 cuộc, bao gồm: 01 lãnh đạo 
bệnh viện, 01 lãnh đạo khoa Cấp cứu, 01 lãnh đạo phòng 
Tổ chức – cán bộ, 01 Bác sĩ và 01 Điều dưỡng.
- Thảo luận nhóm 02 cuộc (mỗi cuộc 5 người) với 
đội ngũ NVYT bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, nhân 
viên phục vụ.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Sự ảnh hưởng của yếu tố đặc điểm nhân viên y 
tế với sự hài lòng công việc 
Khác biệt về giới tính của NVYT có tác động nhất 
định đối với sự hài lòng công việc. NVYT trẻ thường 
không có làm việc ở khoa lâu dài một phần vì mong đợi 
và yêu cầu của bản thân lớn, mong muốn có chế độ hỗ trợ 
và thu nhập tốt, mong được hỗ trợ học tập nâng cao trình 
độ chuyên môn nên có nhiều trường hợp không chịu nổi 
áp lực công việc dẫn đến sự không hài lòng và xin điều 
chuyển sang bộ phận khác. Ngoài ra, có sự khác nhau về 
nhu cầu và định hướng cá nhân của đội ngũ NVYT. 
Không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi với sự 
hài lòng chung về công việc (p = 0,304), khoảng tin cậy 
95% (0,724; 2,818); không có sự khác biệt giữa giới 
tính với sự hài lòng chung về công việc (p = 0,817), 
khoảng tin cậy 95% (0,527; 2,254); không có sự khác 
biệt giữa số năm công tác tại khoa hiện nay với sự hài 
lòng chung về công việc (p = 0,116), khoảng tin cậy 
95% (0,906; 2,470); không có sự khác biệt giữa chuyên 
môn phụ trách với sự hài lòng chung về công việc (p = 
0,327), khoảng tin cậy 95% (0,777; 1,088); không có sự 
khác biệt giữa phân công kiêm nhiệm với sự hài lòng 
chung về công việc (p = 0,697), khoảng tin cậy 95% 
(0,541; 1,508); không có sự khác biệt giữa số lần trực/ 
tháng với sự hài lòng chung về công việc (p = 0,353), 
khoảng tin cậy 95% (0,485; 7,582). Kết quả nghiên cứu 
có sự tương đồng với: Nghiên cứu của Nguyễn Hữu 
Thắng và cộng sự (2015) cho biết nhìn chung sự hài 
lòng ít liên quan tới các yếu tố nhân khẩu như tuổi, giới 
tính, tình trạng hôn nhân, và liên quan nhiều đến thời 
gian làm việc, chuyên môn, cơ hội làm việc và thăng 
tiến [9].
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 65
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 3.1. Mối liên quan giữa đặc điểm của NVYT với sự hài lòng chung 
Đặc điểm cá nhân
Sự hài hài lòng chung
χ2
OR
CI (95%)
P value 
(OR)Chưa hài lòng 
N (%)
Hài lòng
N (%)
Chuyên môn đào tạo chính
Bác sỹ 11 (31,4) 24 (68,6)
5,605
1,442 
(1,024; 2,030)
0,036
Điều dưỡng, hộ sinh 26 (23,6) 84 (76,4)
Khác (Kỹ thuật viên, nhân viên 
phục vụ)
1 (5,3) 18 (94,7)
Bằng cấp cao nhất
Sau đại học (Cao học, CKI) 3 (42,9) 4 (57,1)
10,789
1,429 
(1,019; 2,003)
0,038Đại học 18 (20,9) 68 (79,1)
Khác (cao đẳng, trung cấp, THPT) 17 (23,9) 54 (76,1)
Số năm công tác trong ngành y
<= 3 năm 18 (32,7) 37 (67,3)
5,086
1,662
(1,060; 2,605)
0,027Từ 4-10 năm 11 (22,4) 38 (77,6)
> 10 năm 9 (15,0) 51 (85,0)
Số năm công tác tại khoa hiện nay
<= 01 năm 5 (25,0) 15 (75,0)
4,854
1,496
(0,906; 2,470)
0,116Từ 2-5 năm 18 (32,7) 37 (67,3)
> 5 năm 15 (16,9) 74 (83,1)
Vị trí công tác hiện tại
Nhóm lãnh đạo (lãnh đạo khoa, điều 
dưỡng trưởng)
2 (50,0) 2 (50,0)
8,168
1,686
(1,066; 2,665)
0,025
Nhóm không là lãnh đạo 36 (22,5) 124 (77,5)
Có sự khác biệt giữa chuyên môn đào tạo chính với 
sự hài lòng chung về công việc (p = 0,036 < 0,05), khoảng 
tin cậy 95% (1,024; 2,030). Có sự khác biệt giữa bằng cấp 
cao nhất với sự hài lòng chung về công việc (p = 0,038 
< 0,05), khoảng tin cậy 95% (1,019; 2,003). Có sự khác 
biệt giữa số năm công tác trong ngành y với sự hài lòng 
chung về công việc (p = 0,027 < 0,05), khoảng tin cậy 
95% (1,060; 2,605). Có sự khác biệt giữa vị trí công tác 
hiện tại với sự hài lòng chung về công việc (p = 0,025 < 
0,05), khoảng tin cậy 95% (1,066; 2,665). Nghiên cứu của 
Vũ Xuân Phú và Vũ Thị Lan Hương (2011) cũng đã chỉ 
ra rằng sự hài lòng công việc của NVYT có liên quan đến 
các yếu tố về đặc điểm cá nhân như trình độ học vấn, vị trí 
công tác hiện tại [7]
Nhân viên nữ thường không có thời gian chăm sóc 
gia đình do phải trực đêm thường xuyên, làm liên tục. 
Tăng thu nhập là nhu cầu, mong muốn của tất cả NVYT, 
thu nhập tốt mới có thể toàn tâm dành thời gian cống hiến. 
Hiện tại, Bệnh viện có hỗ trợ thêm thu nhập cho NVYT 
của khoa Cấp cứu, tuy nhiên tổng thu nhập không bằng 
các khoa khác, vì vậy nhân viên ở khoa Cấp cứu không 
muốn gắn bó lâu dài. “Thực sự đa số bác sĩ làm thêm ở 
ngoài như ở nhà, phòng khám, còn điều dưỡng thì không 
có thời gian làm thêm, do vậy điều dưỡng thu nhập không 
đủ lo cho cuộc sống, mức sống ngày càng cao, thu nhập 
không tăng” [Lãnh đạo Bênh viện].
 Có sự khác nhau, bác sĩ trẻ có nhu cầu khác, bác sĩ 
lâu năm có nhu cầu khác từ tuổi và giới tính, chuyên 
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn66
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
môn, vị trí công tác, mức thu nhập. “Ví dụ như bác sĩ trẻ 
thì cần môi trường trải nghiệm nhiều, học hỏi nhiều để 
nâng cao tay nghề, bác sĩ lâu năm thì công bằng minh 
bạch, cho thời gian đào tạo, nguyên cứu khoa học, thu 
nhập ổn định. Một số cá nhân nhu cầu mở phòng khám 
hoặc làm thêm ở phòng khám tư nhân.” [Bác sĩ]. 
 Nghiên cứu của Nguyễn Duy Luật, Ngô Thu Hương 
và cộng sự (2015) cho thấy các yếu tố đặc điểm cá nhân 
sẽ ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc như độ tuổi, 
giới tính, tính chất công việc (ngại tiếp xúc với người 
bệnh, sợ bị kỳ thị ) [5].
3.2. Sự ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên ngoài 
với sự hài lòng công việc của nhân viên y tế. 
Do đặc thù của ngành Y khiến đội ngũ NVYT phải 
hy sinh nhiều về thời gian và sức khỏe vì phải làm việc 
liên tục, trực ca thường xuyên, chịu áp lực về tinh thần và 
thể chất từ bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Trong thời 
gian qua, các quy định của cơ quan quản lý nhà nước đã 
được bệnh viện và khoa Cấp cứu đưa vào vận hành như: 
tiêu chuẩn về tuyển dụng NVYT, chế độ chính sách và các 
nguồn hỗ trợ trong quá trình làm việc một cách đầy đủ và 
cụ thể, đáp ứng các yêu cầu cơ bản về chế độ hỗ trợ cho 
NVYT của khoa Cấp cứu. 
 “Công tác quản lý bệnh viện cần phải triển khai 
các chính sách, quy định đến toàn thể nhân sự của Bệnh 
viện, tập trung cải tiến chất lượng; các tiêu chuẩn, tiêu chí 
ngày càng cao, rõ ràng, tác động đến công tác hằng ngày 
của NVYT sẽ được đo lường, đong đếm một cách cụ thể” 
[Lãnh đạo Bệnh viện]. 
Ngành Y là một ngành đặc thù liên quan đến sức 
khỏe con người, rất nhạy cảm, nên những yếu tố bên ngoài 
sẽ tác động đến tâm lý, hành vi và sự hài lòng đối với công 
việc của NVYT; vì vậy cần sự hỗ trợ cảm thông từ xã hội 
và có những chính sách ưu tiên hơn: “NVYT đi học nhiều, 
áp lực làm nhiều nhưng thu nhập chưa tương xứng; bác sĩ 
hầu như 3 đêm thì thức trắng 1 đêm liên tục, lễ tết, ngày 
nghỉ, phải trực; tuy nhiên lương chưa trả đúng sức lao 
động, không đủ lo cho gia đình, nên đa số bác sĩ phải lầm 
thêm bên ngoài” [Bác sĩ]. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự tương đồng 
với: Nghiên cứu ở Melbourne – Úc của Kate Anne Walker 
(2007) cho biết sự đa dạng của đặc điểm ngành nghề công 
việc, sự tin tưởng vào công việc đang thực hiện và sự 
khích lệ và động viên từ các cấp lãnh đạo có ảnh hưởng tới 
sự hài lòng của NVYT[10]. Nghiên cứu của Lê Trí Khải 
và cộng sự (2015) cho biết có mối liên quan giữa sự hài 
lòng chung đối với công việc và các yếu tố: Ðịa bàn phân 
bổ công tác (theo đặc trưng ngành nghề), chính sách trong 
lĩnh vực y tế ở các địa phương khác nhau [4].
3.3. Sự ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên trong 
với sự hài lòng công việc của nhân viên y tế
- Sự quan tâm của lãnh đạo: Sự quan tâm của lãnh 
đạo bệnh viện/ khoa sẽ có tác động tích cực đối với sự 
hài lòng công việc của NVYT. Cụ thể, có nhiều chính 
sách hỗ trợ như: Ban giám đốc luôn tạo điều kiện tốt 
nhất, khi số lượng bệnh nhân quá tải sẽ yêu cầu khoa/ 
phòng khác hỗ trợ ngay trong điều kiện cho phép; mở 
rộng mặt bằng để giảm tải thời gian tiếp nhận người 
bệnh. “Lãnh đạo BV đã có hướng giải quyết là xây Bệnh 
viện Chợ Rẫy 2 để giảm áp lực về môi trường và tiếng 
ồn, tình trạng bệnh ngày càng nhiều, mặt bằng chật hẹp, 
bệnh nhân lo lắng phiền hà” [Lãnh đạo bệnh viện]. - 
Các chính sách và quy định về nhân sự: Khoa Cấp cứu 
là khoa thường trực của BV, NVYT được chia làm 3 kíp 
trực luân phiên nhau. Khoa hiện tại chưa đáp ứng yêu 
cầu đời sống của nhân viên, chế độ chính sách chưa đầy 
đủ để tạo động lực làm việc tốt nhất. Mức thu nhập chưa 
phù hợp với sức lao động bỏ ra, nên nhân viên thường đề 
nghị luân chuyển sang khoa khác để công việc bớt cực 
khổ, và giảm chịu áp lực từ bệnh nhân, người nhà bệnh 
nhân. “NVYT thường không được truyền thông nhiều, do 
môi trường làm việc không đầy đủ, yêu cầu xã hội nhiều, 
đáp ứng không được dẫn đến áp lực cho NVYT, NVYT 
lo lắng, căng thẳng, không tập trung chuyên môn. Chế 
độ hỗ trợ chỉ dựa theo quy định của nhà nước dành cho 
khoa và theo Bộ Y tế dựa thêm hệ số lương bệnh viện 
60% tiền ưu đãi nghề.” [Lãnh đạo khoa]. 
- Cơ cấu tổ chức và phân công công việc: Về số 
lượng nhân sự hiện tại của khoa Cấp cứu có tác động tiêu 
cực đến sự hài lòng của NVYT do trình độ không đồng 
đều, những nhân viên giỏi thường không muốn ở lại lâu 
dài do làm việc áp lực, cực nhọc mà chế độ không thỏa 
đáng, tuyển dụng nhân viên mới phải đào tạo lại. “Điều 
dưỡng của Khoa làm việc rất vất vả, phải liên tục đào tạo 
nhân viên mới và đa số nhân viên trẻ nhiều so với các 
khoa khác,... Khoa Cấp cứu thường không có ai muốn 
kiêm nhiệm và những khoa nội khác không thể kiêm nhiệm 
được, do khác biệt về chuyên khoa”. [Lãnh đạo khoa].
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn 67
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Việc phân công tương đối hợp lý cho các chức danh 
nghề nghiệp dẫn đến có những tác động tích cực đối với 
sự hài lòng của NVYT. Khoa đã có bộ phận để giám sát 
và hướng dẫn, trong mỗi ca trực đều có phân công 1 điều 
dưỡng công tác kiêm nhiệm xét BHYT cho người bệnh, 
có chế độ chính sách cho bệnh nhân, sắp xếp bố trí để 
hạn chế rủi ro, sai sót xuống mức thấp nhất và không ảnh 
hưởng đến thời gian công tác của NVYT. 
- Về điều kiện môi trường làm việc và áp lực công 
việc: Đây là yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực đến sự hài lòng 
của người bệnh do sự quá tải trong công việc và tiểm ẩn 
những rủi ro, nguy cơ có thể bị bạo lực từ người bệnh/
người nhà người bệnh. Khoa Cấp cứu luôn trong tình trạng 
quá tải về bệnh nhân, cho nên nhiều bệnh nhân vẫn phải 
chờ 1-.3h mới được khám. Vì vậy nhiều người bệnh cảm 
thấy bức xúc, bệnh nhân không hiểu được dồn bức xúc 
lên NVYT. “Mặt bằng hiện tại chật hẹp và áp lực công 
việc nhiều, bệnh nhân nhiều, quá chật, buộc nhân viên 
phải di chuyển bệnh nhân ra ngoài để lấy lối đi, chăm sóc 
người bệnh, sau đó di chuyển lại dẫn đến làm mất nhiều 
thời gian công sức của NVYT” [NVYT]. “Cơ sở vật chất 
rất chật, gần như chỉ để phục vụ bệnh nhân, nơi nghỉ ngơi 
của nhân viên rất hẹp, mong muốn được mở rộng khoa 
Cấp cứu, để thêm giường bệnh, trang thiết bị, để phục vụ 
bệnh nhân tốt”. [Lãnh đạo phòng Tổ chức cán bộ].
Về công tác chống nhiễm khuẩn: Do chật hẹp nên 
khoảng cách an toàn, chống lây nhiễm sẽ khó khăn hơn, 
khoa Cấp cứu cũng đã khử môi trường, thanh lọc môi 
trường để giảm độ lây nhiễm tối đa. “Môi trường làm việc 
chống nhiễm khuẩn làm vệ sinh tất cả các bề mặt của 
băng ca, sàn, dụng cụ, tủ phương tiện bảo hộ lao động 
phải luôn có để hạn chế rủi ro” [NVYT]. 
Mặt bằng khoa Cấp cứu chỉ đủ kê 60 giường bệnh mà 
có khi lên đến 120 – 150 bệnh nhân. “Bệnh viện đã đầu 
tư trang thiết bị, tuy nhiên không còn chỗ để, mặt bằng 
không còn, đây là bài toán khó cho lãnh đạo khoa Cấp 
cứu chúng tôi, phải luân chuyển liên tục, có giải pháp để 
đáp ứng kịp thời tình hình”. [Lãnh đạo bệnh viện].
 Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương đồng với: 
Nghiên cứu của Lê Thanh Nhuận và Lê Cự Linh (2009) về 
sự hài lòng đối với công việc của NVYT tuyến cơ sở cho 
biết sự hài lòng đối với công việc có liên quan đến các yếu 
tố từ cơ sở y tế như: môi trường làm việc; lương thưởng và 
chế độ phúc lợi; cơ sở vật chất và các điều kiện làm việc; 
mối quan hệ với lãnh đạo cấp trên và đồng nghiệp; được 
đào tạo tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn  [6].
 Bệnh viện đã hỗ trợ NVYT đi học và đào tạo để nâng 
cao chuyên môn; tuy nhiên cơ hội, thời gian đi đào tạo bồi 
dưỡng còn hạn chế, Bệnh viện hỗ trợ lãnh đạo khoa Cấp 
cứu làm một số đề án cải thiện công tác tại khoa Cấp cứu 
để rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng. “Áp lực nhiều 
nhất của khoa Cấp cứu là đối mặt người bệnh, nhân viên 
mới đã được huấn luyện, đào tạo nhưng đáp ứng chưa 
hiệu quả, sau một đợt chúng tôi rút kinh nghiệm, đưa ra 
phương án mới để cải thiện những thiếu sót đó, hoàn thiện 
hơn” [Điều dưỡng trưởng bệnh viện].
Nghiên cứu của Phạm Thị Phương Thảo và cộng sự 
(2015) cũng cho thấy hài lòng của điều dưỡng viên có mối 
liên quan đồng biến tương đối chặt chẽ với tính chất công 
việc, với cơ hội đào tạo, thăng tiến và với mối quan hệ với 
đồng nghiệp. Từ đó nhận thấy, để tăng sự hài lòng nghề 
nghiệp của NVYT thì cần thúc đẩy quan tâm hỗ trợ về các 
yếu tố bên trong của cơ sở y tế (về môi trường công việc, 
chế độ đãi ngộ, cơ hội đào tạo) [8].
IV. KẾT LUẬN
Có 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công 
việc của NVYT bao gồm:
•	 Nhóm yếu tố từ đặc điểm của NVYT: Tuổi, giới 
tính, trình độ chuyên môn; vị trí công tác, kinh nghiệm 
làm việc; mức thu nhập; nhu cầu và mục tiêu cá nhân.
•	 Nhóm yếu tố môi trường bên ngoài: Quy định 
của cơ quan quản lý nhà nước; đặc thù của ngành Y; tiền 
lương và phúc lợi xã hội hiện tại.
•	 Nhóm yếu tố môi trường bên trong: Sự quan tâm 
của lãnh đạo bệnh viên/khoa Cấp cứu; các chính sách và 
quy định về nhân sự; cơ cấu tổ chức và phân công công 
việc; cơ sở vật chất và mặt bằng; điều kiện môi trường làm 
việc và áp lực công việc.
V. KIẾN NGHỊ
- Tăng thêm thu nhập dựa trên các nguồn thu hiện tại 
của Khoa và các khoản hỗ trợ mềm. 
- Điều chỉnh lại chính sách chi lương phù hợp đặc thù 
của khoa và cơ chế tự chủ tài chính của Bệnh viện.
- Bố trí mặt bằng rộng hơn để đủ chỗ tiếp nhận bệnh 
nhân, để có không gian cho bác sĩ khám và điều trị, để tiết 
kiệm thời gian công sức.
- Cần có chương trình đào tạo chuyên sâu cho NVYT 
của khoa Cấp cứu.
SỐ 2 (55) - Tháng 03-04/2020
Website: yhoccongdong.vn68
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2020
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bệnh viện Chợ Rẫy (2018), Báo cáo tổng kết các hoạt động của khoa Cấp cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM 
năm 2018;
2. Trần Văn Bình (2016), Sự hài lòng của nhân viên y tế tại các bệnh viện thuộc tỉnh Kon Tum năm 2016, Sở Y 
tế tỉnh Kon Tum, tr 4-5;
3. Bộ Y tế - Nhóm đối tác y tế (Health Partnership Group - HPG) (2016), “Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế 
năm 2016 (JAHR 2016)”, tr18-19;
4. Lê Trí Khải và cộng sự (2015), “Sự hài lòng của nhân viên y tế tại các bệnh viện thuộc tỉnh Kon Tum”, Tạp 
chí Y học Dự phòng, Tập 27, số 8 2017, tr 374-379;
5. Nguyễn Duy Luật, Ngô Thu Hương và cộng sự (2014), “Sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc chăm 
sóc và điều trị HIV AIDS tại các Bệnh viện của tỉnh Hòa Bình và Nghệ An”, Tạp chí Y học Dự phòng, Tập XXIV, số 
7 (156),
6. Lê Thanh Nhuận & Phạm Cự Linh (2009), “Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở”, Tạp 
chí Y tế Công cộng, 9.2009, số 13 (13), tr 51-56;
7. Vũ Xuân Phú và Vũ Thị Lan Hương (2012), Thực trạng nguồn nhân lực và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự 
hài lòng với công việc của nhân viên y tế Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn, Hà Nội năm 2011, Tạp chí Y học Thực hành, 
821-5/2012, tr 153-159.
8. Phạm Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Hường, Trần Thu Hiền (2015), Khảo sát mức độ hài lòng của đội ngũ 
điều dưỡng viên đối với công việc tại Bệnh viện Trường đại học Y Dược Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học và công nghệ, 
134(04): tr 187 – 191;
9. Nguyễn Hữu Thắng, Lê Thanh Hà, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Phương Thảo, Dương Kim Tuấn, Ngô 
Trí Hiệp (2015), “Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại Việt Nam: Nghiên cứu tổng quan có hệ thống, 
giai đoạn 2000-2014”, Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXV, số 6 (166) 2015 Số đặc biệt, tr 245-249;
10. Kate Anne Walker (2007), What keeps Melbourne GPs satisfied in their jobs?, Reprinted from Australian 
Family Physician Vol. 36, No. 10, October 2007, pp 877-880;
11. Laubach W & Fischbeck S (2007), Job Satisfaction and the Work Situation of Physicians: a survey at a 
German University hospital, International Journal of Public Health 52(1): pp 54-59

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_yeu_to_anh_huong_den_su_hai_long_cong_viec_cu.pdf