Nghiên cứu các đặc điểm chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh và tình trạng thụ thể nội tiết bệnh ung thư vú tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế

Mục tiêu: Chúng tôi nghiên cứu các đặc điểm siêu âm, chụp hình vú, giải phẫu bệnh và tình

trạng thụ thể nội tiết của các bệnh nhân ung thư vú tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá giá trị của các phương pháp này trong chẩn đoán

ung thư vú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu thu thập từ 60 bệnh

nhân ung thư vú từ 5/2010 đến 4/2012. Nhuộm Giêm-sa các mẫu tế bào học và nhuộm HE các

mẫu mô bệnh học tại khoa giải phẫu bệnh, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Nhuộm

hóa mô miễn dịch các thụ thể nội tiết (ER, PR) tại Bệnh viện K Hà Nội. Kết quả: Hầu hết bệnh

nhân ung thư vú ở nhóm 50-59 tuổi (45%). Đa số các trường hợp ung thư vú là ung thư biểu

mô thể ống xâm nhập (75%). Độ chính xác của siêu âm, chụp hình vú và xét nghiệm tế bào

học chọc hút kim nhỏ trong chẩn đoán ung thư vú lần lượt là 80%, 85% và 90%. Kết luận: Siêu

âm, chụp hình vú, xét nghiệm tế bào học là bộ ba dùng để sàng lọc và chẩn đoán bệnh ung

thư vú có giá trị.

pdf 8 trang phuongnguyen 540
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các đặc điểm chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh và tình trạng thụ thể nội tiết bệnh ung thư vú tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu các đặc điểm chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh và tình trạng thụ thể nội tiết bệnh ung thư vú tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế

Nghiên cứu các đặc điểm chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh và tình trạng thụ thể nội tiết bệnh ung thư vú tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế
250 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
NGHIÊN CỨU CÁC ĐẶC ĐIỂM CHẨN ĐOÁN 
HÌNH ẢNH, GIẢI PHẪU BỆNH VÀ TÌNH TRẠNG 
THỤ THỂ NỘI TIẾT BỆNH UNG THƯ VÚ 
TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
Đặng Công Thuận
Tóm tắt
Mục tiêu: Chúng tôi nghiên cứu các đặc điểm siêu âm, chụp hình vú, giải phẫu bệnh và tình 
trạng thụ thể nội tiết của các bệnh nhân ung thư vú tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. 
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá giá trị của các phương pháp này trong chẩn đoán 
ung thư vú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu thu thập từ 60 bệnh 
nhân ung thư vú từ 5/2010 đến 4/2012. Nhuộm Giêm-sa các mẫu tế bào học và nhuộm HE các 
mẫu mô bệnh học tại khoa giải phẫu bệnh, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Nhuộm 
hóa mô miễn dịch các thụ thể nội tiết (ER, PR) tại Bệnh viện K Hà Nội. Kết quả: Hầu hết bệnh 
nhân ung thư vú ở nhóm 50-59 tuổi (45%). Đa số các trường hợp ung thư vú là ung thư biểu 
mô thể ống xâm nhập (75%). Độ chính xác của siêu âm, chụp hình vú và xét nghiệm tế bào 
học chọc hút kim nhỏ trong chẩn đoán ung thư vú lần lượt là 80%, 85% và 90%. Kết luận: Siêu 
âm, chụp hình vú, xét nghiệm tế bào học là bộ ba dùng để sàng lọc và chẩn đoán bệnh ung 
thư vú có giá trị.
Summary
Study on the image diagnostic, histopathologic features and hormone
Receptors status in breast cancer at hue university hospital
Objectives: We examined the ultrasound, mammographic and histopathologic features 
and hormone receptors status of the breast cancer patients at Hue University Hospital. The 
aim of this study was to evaluate the value of these methods in breast cancer diagnosis. 
Materials and methods: From May 2010 to April 2012, samples were collected from 60 
breast carcinoma patients. FNAC samples were stained by Giemsa stain and histopathologic 
samples were stained by Hematoxylin – Eosin stain at Pathology Department, Hue University 
Hospital. Steroid receptors (estrogen receptor and progesterone receptor) were stained by 
immunohistochemistry stain at K hospital, Hanoi. Results: Most breast cancer patients were 
among the age of 50-59; 45% of cases. The great majority of breast cancers were invasive 
ductal carcinoma (75%). The accuracy of ultrasound, mammogram and FNAC in breast 
cancer diagnosis is 80%, 85% and 90%, respectively. Conclusion: We found that ultrasound, 
mammogram and FNAC were valued triple to screening and diagnosing in breast cancer.
 Key words: Breast cancer, accuracy, ultrasound, mammogram, FNAC
Đại học Y Dược Huế
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 250-257, 2012
Đặng Công Thuận l 251
Đặt vấn đề
Ung thư vú là loại ung thư thường gặp 
gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ và tâm 
lý của người phụ nữ. Ung thư vú cũng là 
nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư 
ở nữ giới. 
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2006 
toàn thế giới có 1,2 triệu người bị ung thư 
vú. Tỷ lệ ung thư vú thay đổi tuỳ từng 
khu vực, từng quốc gia. Ở Mỹ mỗi năm 
có khoảng 180.000 trường hợp mới mắc và 
44.000 trường hợp bị chết do ung thư vú, tỷ 
lệ mắc khoảng 90,7/100.000 dân. Ở các nước 
châu Á và châu Phi có xu hướng thấp hơn.
Ở Việt Nam, tỉ lệ mắc ung thư vú đứng 
đầu trong các loại ung thư ở nữ giới. Trong 
đó, tỷ lệ này ở Hà Nội là 20,3/100.000 dân, ở 
thành phố Hồ Chí Minh là 17,1/100.000 dân, 
đứng hàng thứ hai sau ung thư cổ tử cung.
Ở Bệnh viện Trường Đại học Y Dược 
Huế, hàng năm có hàng trăm phụ nữ đến 
khám và điều trị bệnh tuyến vú, và ung thư 
vú là một trong số các bệnh ung thư thường 
gặp. Đa số bệnh nhân được chỉ định siêu 
âm tuyến vú, chụp hình vú, xét nghiệm tế 
bào học trước phẫu thuật và xét nghiệm mô 
bệnh học, xác định tình trạng thụ thể nội tiết 
sau phẫu thuật.
Để tìm hiểu về các đặc điểm và giá trị của 
siêu âm, chụp hình vú và xét nghiệm tế bào 
học chọc hút kim nhỏ trong chẩn đoán bệnh 
ung thư vú tại Bệnh viện Trường Đại học Y 
Dược Huế, chúng tôi tiến hành đề tài này 
với các mục tiêu sau:
1. Mô tả các đặc điểm siêu âm, chụp hình vú, 
giải phẫu bệnh và tình trạng thụ thể nội tiết các 
trường hợp ung thư vú.
2. Nhận xét về giá trị và độ chính xác của 
siêu âm, chụp hình vú và xét nghiệm tế bào học 
trong chẩn đoán ung thư vú.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 60 bệnh nhân đến khám và điều 
trị ung thư vú nguyên phát tại Bệnh viện 
Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 05 
năm 2010 đến tháng 04 năm 2012.
Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Siêu âm tuyến vú và chụp hình vú: 
Được thực hiện tại Khoa Chẩn đoán 
hình ảnh, Bệnh viện Trường Đại học Y 
Dược Huế. Siêu âm bằng máy siêu âm 
SONOLINE của SIEMENS - Đức. Chụp 
hình vú bằng máy MAMMOMAT C3 của 
SIEMENS - Đức. Ghi nhận các đặc điểm và 
đánh giá kết quả siêu âm và chụp hình vú 
theo BIRADS [9].
- Xét nghiệm tế bào học chọc hút kim nhỏ và 
xét nghiệm mô bệnh học: Được thực hiện tại 
khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Trường Đại 
học Y Dược Huế. Nhuộm tế bào học bằng 
phương pháp nhuộm giêm-sa. Nhuộm 
mảnh mô bằng phương pháp nhuộm 
Hematoxylin-Eosin.
Phân độ mô học và phân loại ung thư vú 
theo Tổ chức Y tế Thế giới 2003. 
- Kỹ thuật hoá mô miễn dịch: Được thực 
hiện tại Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện 
K Hà Nội
Cách đánh giá xét nghiệm thụ thể 
estrogen, progesteron: dựa theo tiêu chuẩn 
của Allred và nhà sản xuất [10].
- Xử lý số liệu : Số liệu được lưu trữ bằng 
chương trình Excel và xử lý bằng SPSS 10.0 
Kết quả nghiên cứu
Các đặc điểm chung
13,3
41,7 45,0
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45Tỷ lệ%
30 - 39 40 - 49 50 - 59
Tuổi 
Biểu đồ 1. Phân bố bệnh ung thư vú theo tuổi
Tuổi ung thư vú thường gặp nhất là 
50-59 tuổi (45,0%).
252 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Bảng 1. Lý do vào viện
Lý do vào viện Số lượng Tỷ lệ %
Tự khám phát hiện u 54 90,0
Biến đổi ở núm vú 3 5,0
Tình cờ phát hiện 3 5,0
Tổng 60 100
Bảng 2. Thời gian từ lúc phát hiện đến lúc khám
Thời gian ≤1 tháng 1- ≤3 tháng 3-≤6 tháng >6 tháng Tổng
Số lượng 8 21 14 17 60
Tỷ lệ % 13,3 35,0 23,4 28,3 100
Đặc điểm tổn thương trên siêu âm
Bảng 3. Đặc điểm tổn thương trên siêu âm
Đặc điểm trên siêu âm Số lượng Tỷ lệ %
Dạng tổn 
thương
Khu trú 53 88,3
Lan toả 7 11,7
Ranh giới
Rõ 13 21,7
Không rõ 47 78,3
Độ hồi âm
Giảm âm 58 96,7
Đồng âm 2 3,3
Cấu trúc
Đặc 59 98,3
Hỗn hợp 1 1,7
Xâm lấn
Không xâm lấn 15 25
Mô vú xung quanh 26 43,3
Lớp mỡ dưới da 6 10
Lớp mỡ sau mô tuyến 8 13,3
Cân và cơ ngực 5 8,4
Đặc điểm trên phim chụp hình vú
Bảng 4. Đặc điểm tổn thương trên phim chụp hình vú
Đặc điểm tổn thương Số lượng Tỷ lệ
Dạng tổn thương
Khu trú 52 86,7
Lan toả 8 13,3
 Bờ
Rõ 11 18,3
Không rõ 49 81,7
Dấu hình sao
Có 12 20
 Không 48 80
Đặng Công Thuận l 253
Nốt vôi hoá
Có 43 71,7
Không 17 28,3
Dấu co kéo
Có 5 8,3
Không 55 91,7
Tăng đậm độ
Có 51 85
Không 9 15
Bảng 8. Tình trạng di căn hạch nách 
cùng bên
Di căn hạch Số lượng Tỷ lệ %
N0 29 48,3
N1 16 26,7
N2 11 18,3
N3 4 6,7
Tổng 60 100
5. Kết quả xét nghiệm thụ thể nội tiết 
ER và PR
Có 37 bệnh nhân được tiến hành xét 
nghiệm hoá mô miễn dịch.
Bảng 9. Sự bộc lộ thụ thể estrogen và 
progesteron
ER,PR Số lượng Tỷ lệ %
ER(-), PR(-) 17 45,9
ER(+), PR(-) 7 18,9
ER(+), PR(+) 13 35,2
ER(-), PR(+) 0 0
Tổng 37 100
6. Đối chiếu kết quả siêu âm, chụp hình 
vú, tế bào học với kết quả mô bệnh học
Lấy kết quả mô bệnh học làm tiêu 
chuẩn vàng để đối chiếu với kết quả siêu 
âm, chụp hình vú và tế bào học để đánh 
giá sự phù hợp.
Đặc điểm giải phẫu bệnh
Kết quả tế bào học chọc hút kim nhỏ
- Ung thư vú: 54 trường hợp. 
- Không phải ung thư vú: 6 trường hợp.
Kết quả mô bệnh học
Bảng 5. Kích thước u sau phẫu thuật
Kích thước u (cm) Số lượng Tỷ lệ %
≤ 2 20 33,3
2 – 5 29 48,4
> 5 11 18,3
Tổng 60 100
Bảng 6. Phân loại mô bệnh học ung thư 
biểu mô tuyến vú
Mô bệnh học Số 
lượng
Tỷ lệ %
UTBM ống xâm 
nhập
45 75,0
UTBM thuỳ xâm 
nhập
12 20,0
UTBM ống tại chỗ 3 5,0
Tổng 60 100
Bảng 7. Phân độ mô học ung thư biểu mô 
tuyến vú
Độ mô học Số lượng Tỷ lệ %
I 12 20,0
II 21 35,0
III 27 45,0
Tổng 60 100
254 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Bảng 10. Đối chiếu kết quả siêu âm, chụp hình vú, tế bào học với mô bệnh học
Đối chiếu kết quả
Siêu âm Chụp hình vú Tế bào học
n % n % n %
Phù hợp 48 80,0 51 85,0 54 90,0
Không phù hợp 12 20,0 9 15,0 6 10,0
Tổng 60 100 60 100 60 100
Trong chẩn đoán ung thư vú, độ chính 
xác của siêu âm là 80,0%, chụp hình vú là 
85,0% và tế bào học là 90,0%.
Bàn luận
Về đặc điểm chung
- Tuổi: Nhóm bệnh nhân chúng tôi nghiên 
cứu chỉ gặp từ 30 tuổi đến 59 tuổi. Tỷ lệ ung 
thư vú tăng nhanh theo tuổi. Cao nhất là 2 
nhóm tuổi 40-49 là 41,7% và 50-59 là 45,0%. 
Theo Nguyễn Sào Trung tỷ lệ ung thư 
vú cao nhất ở độ tuổi 40-59 chiếm 63,1% [8]. 
Theo Đặng Công Thuận, lứa tuổi mắc ung 
thư vú cao nhất từ 40-59 tuổi (68,3%) [5]. Võ 
Hồ Quỳnh Như cũng cho kết quả tương tự 
với tỷ lệ là 73,6% [1].
Từ kết quả trên cho thấy độ tuổi mắc ung 
thư ở hai nhóm tuổi này rất cao, điều này 
có lẽ là do đây là giai đoạn tiền mãn kinh và 
mãn kinh, có những sự xáo trộn do giảm nội 
tiết trong cơ thể mà tuyến vú là cơ quan chịu 
ảnh hưởng bởi nội tiết tố rất rõ rệt.
- Lý do vào viện: Trong nghiên cứu chúng 
tôi bệnh nhân tự khám phát hiện thấy khối u 
ở vú chiếm 90%, có 5% các trường hợp thấy 
biến đổi ở núm vú và 5% tình cờ phát hiện. 
Đặc biệt không có bệnh nhân nào phát hiện 
thấy khối u nhờ thăm khám định kỳ. 
Theo Phùng Phướng, có 95% bệnh nhân 
tự phát hiện bất thường ở vú, 5% còn lại 
tình cờ phát hiện do thăm khám các bệnh 
lý khác [3].
Bệnh nhân ung thư vú đến khám tại 
bệnh viện hầu hết do đã sờ thấy khối u hay 
biến đổi ở vú. Qua đó cho thấy tỷ lệ bệnh 
ung thư vú được sàng lọc phát hiện sớm 
bằng tự khám vú và chụp hình vú định 
kỳ là rất thấp. Điều này có lẽ là do chưa 
có các chương trình tuyên truyền phương 
pháp tự khám vú và giá trị của nó trong 
cộng đồng, một phần do ý thức của người 
dân chưa tốt nên vấn đề này chưa được họ 
quan tâm.
- Thời gian từ lúc phát hiện đến lúc khám: 
Thời gian từ lúc phát hiện khối u đến lúc 
khám thường dưới 6 tháng (72,7%). Trong 
đó chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 1-3 tháng (35%). 
Dưới 1 tháng là 13,3%.
So sánh với kết quả nghiên cứu của Lê 
Trọng Lân (2000), thời gian này từ 1-6 tháng 
chiếm 56,5%. Điều này cho thấy đã có một 
bộ phận người dân đã có ý thức hơn về 
sức khoẻ của mình, đã đi đến bệnh viện 
sớm hơn, khi phát hiện bất thường trên cơ 
thể. Điều này có ý nghĩa lớn đối với bệnh 
nhân ung thư vú vì bệnh phát hiện càng 
sớm kết quả điều trị và tiên lượng càng 
khả quan hơn.
Đặc điểm tổn thương trên siêu âm
Tổn thương ung thư vú trên siêu âm 
thường có các đặc điểm: khu trú (88,3%), 
ranh giới không rõ (78,3%), cấu trúc thường 
đặc (98,3%) và xâm lấn xung quanh (43,3%). 
Theo Võ Hồ Quỳnh Như ngoài các đặc 
điểm nói trên, còn có những tổn thương 
gợi ý khác như gập góc, đa cung và tổn 
thương không đồng nhất thì cho phép nghĩ 
đến u ác tính [1].
Siêu âm vú không có giá trị trong việc 
sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú nhưng 
có giá trị phát hiện các tổn thương nằm sâu, 
không sờ nắn được khi thăm khám và xác 
Đặng Công Thuận l 255
định được u dạng nang, dạng đặc hay hỗn 
hợp [11]. 
Đặc điểm tổn thương trên phim chụp 
hình vú
Tổn thương trên phim X quang tuyến 
vú hầu hết là tổn thương khu trú (86,7%), 
bờ không rõ (81,7%), có nốt vôi hoá (71,7%) 
và tăng đậm độ (85%). Một số trường hợp 
có hình ảnh hình sao (20%), có dấu co kéo 
(8,3%). Có tới 13,3% là tổn thương lan toả, bờ 
rõ (18,3%), không tăng đậm độ cản quang.
Dấu hiệu tổn thương trên X quang tuyến 
vú rất đa dạng và có những giá trị khác 
nhau. Trong đó tổn thương khu trú, bờ 
không rõ và nốt vôi hóa là các dấu hiệu có 
giá trị gợi ý tổn thương ác tính [10]. 
Đặc điểm giải phẫu bệnh 
- Tế bào học: Có 54/60 trường hợp 
ung thư vú (90%) được chẩn đoán chính 
xác bằng xét nghiệm này. Theo Phùng 
Phướng độ chính xác này là 93,2% [3] và 
theo Lê Thị Xuân Quý là 89,3% [4].
Phương pháp chọc hút tế bào bằng kim 
nhỏ là phương pháp chẩn đoán nhanh, ít tốn 
kém, dễ thực hiện và có độ chính xác cao, do 
đó rất có ý nghĩa trong việc sàng lọc và chẩn 
đoán sớm bệnh lý tuyến vú nói chung, ung 
thư vú nói riêng.
- Mô bệnh học: 
+ Kích thước u sau phẫu thuật: Tỷ lệ cao nhất 
là khối u có kích thước từ 2-5cm, đứng thứ hai 
là khối u ≤ 2cm, thấp nhất là khối u >5cm với 
các tỷ lệ lần lượt là 48,4%, 33,3%, 18,3%. 
Nghiên cứu của Đỗ Doãn Thuận cho thứ 
tự tương tự là 74,4%, 17%, 8,6% [6]. Tỷ lệ 
này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu 
của các tác giả Nguyễn Sào Trung [8], Đặng 
Công Thuận [5] và Tạ Văn Tờ [7].
+ Phân loại mô bệnh học: Kết quả nghiên 
cứu gần đây về phân loại mô bệnh học ung 
thư biểu mô tuyến vú tại Thừa Thiên Huế 
được tổng hợp trong bảng dưới đây:
Bảng 11. Phân loại mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến vú qua các nghiên cứu gần đây
Tác giả
Thể ống xâm 
nhập
Thể thùy 
xâm nhập
Thể ống 
tại chỗ
Thể thuỳ 
tại chỗ
Võ Hồ Quỳnh Như [1] 73% 24,3% 2,7%
Nguyễn Thị Thu Phương [2] 73,4% 13,3% 0 13,3%
Nghiên cứu này 75% 20% 5% 0
Tỷ lệ ung thư biểu mô thể ống xâm 
nhập chiếm cao nhất trong đa số các 
nghiên cứu về ung thư vú. Điều này là do 
cấu tạo mô học và chức năng của tuyến 
vú chủ yếu là cấu trúc ống tuyến và mô 
tuyến vú chịu ảnh hưởng bởi nội tiết tố 
nữ rất rõ rệt nên ung thư thường xuất 
phát từ nơi này.
+ Tình trạng di căn hạch: Chiếm tỷ lệ cao 
nhất là ung thư vú chưa di căn hạch chiếm 
tỷ lệ 48,3%, di căn hạch nách chiếm 45% và 
có 6,7% di căn hạch vú trong. Theo tác giả 
Đặng Công Thuận, tỷ lệ ung thư vú chưa di 
căn hạch nách là 63% [5]. Theo tác giả Phùng 
Phướng tỷ lệ này là 75,8% [3].
Tỷ lệ ung thư vú di căn hạch trong 
nghiên cứu của chúng tôi cao hơn của các 
tác giả khác. Điều này có thể là do số liệu 
của chúng tôi ít và đa số bệnh nhân của 
chúng tôi đến muộn, khi kích thước u đã 
lớn và có độ mô học cao, độ III chiếm đa 
số (45%).
Sự bộc lộ thụ thể nội tiết
Từ bảng 9 cho thấy tình trạng bộc lộ 
thụ thể nội tiết ở nghiên cứu này với kiểu 
hình ER(-)PR(-) chiếm tỷ lệ cao nhất 45,9%; 
ER(+)PR(+) là kiểu bộc lộ thường gặp thứ 
hai (35,9%). So sánh với kết quả nghiên cứu 
của các tác giả khác được trình bày ở bảng 
dưới đây:
256 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Bảng 12. Sự bộc lộ ER, PR trong ung thư vú qua các nghiên cứu trong nước
ER,PR
Lê Đình Roanh
n = 442
Đặng Thế Căn
n = 606
Nghiên cứu này
n = 37
ER(-), PR(-) 30,3% 39,8% 45,9%
ER(+), PR(-) 7,8% 17,7% 18,9%
 ER(+), PR(+) 53,4% 36% 35,9%
ER(-), PR(+) 8,5% 6,5% 0
Từ so sánh trên cho thấy có sự tương 
đồng giữa nghiên cứu chúng tôi với các tác 
giả khác. Sự khác biệt không có trường hợp 
ER(-),PR(+) là do mẫu nghiên cứu của chúng 
tôi ít.
Giá trị và độ chính xác của siêu âm, chụp 
hình vú và tế bào học trong chẩn đoán ung 
thư vú
Bảng 10 cho thấy có sự phù hợp khá cao 
giữa các phương pháp chẩn đoán so với kết 
quả mô bệnh học. Độ chính xác của tế bào 
học là 90%, của chụp hình vú là 85% và của 
siêu âm vú là 80%.
Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết 
quả nghiên cứu của một số tác giả khác. Theo 
Phùng Phướng độ chính xác của phương 
pháp tế bào học là 93,2% [3]. 
Kết quả này cũng cho thấy trong chẩn 
đoán bệnh tuyến vú, siêu âm - chụp hình 
vú - xét nghiệm tế bào học là bộ ba dùng để 
sàng lọc phát hiện sớm các tổn thương vú 
nói chung và ung thư vú nói riêng có giá trị 
và có hiệu quả bởi độ chính xác tăng dần với 
sự chuyên biệt cao của mỗi phương pháp 
chẩn đoán. 
Kết luận
Đặc điểm chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu 
bệnh và hoá mô miễn dịch của ung thư vú
- Siêu âm: Tổn thương khu trú (88,3%), 
không rõ ranh giới (78,3%), giảm hồi âm 
(96,7%), cấu trúc đặc (98,3%), xâm lấn mô vú 
xung quanh (43,3%).
- Phim chụp hình vú: tổn thương khu trú 
(86,7%), bờ không rõ (81,7%), có nốt vôi hoá 
(71,7%), tăng đậm độ (85%), hình ảnh hình 
sao (20%) và dấu co kéo (8,3%).
- Giải phẫu bệnh: Kích thước u 2-5 cm 
(48,4%), đa số là ung thư biểu mô thể ống 
xâm nhập (75%), độ mô học III (45%) và 
chưa di căn hạch (48,3%). 
- Hoá mô miễn dịch: ER(-)PR(-) chiếm 
45,9% và ER(+)PR(+) chiếm 35,9%.
Độ chính xác và giá trị của siêu âm, chụp 
hình vú và tế bào học trong chẩn đoán ung 
thư vú
- Độ chính xác của tế bào học là 90%, 
chụp hình vú là 85%, siêu âm vú là 80%
- Siêu âm, chụp hình vú, xét nghiệm tế 
bào học là bộ ba dùng để sàng lọc và chẩn 
đoán ung thư vú có giá trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Võ Hồ Quỳnh Như (2009), ”Nghiên cứu 
đặc điểm hình ảnh siêu âm và X Quang 
vú trong chẩn đoán khối u vú”, Luận văn 
Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Huế.
2. Nguyễn Thị Thu Phương (2010), “Nghiên 
cứu đặc điểm Giải phẫu bệnh - Chẩn đoán 
hình ảnh các bệnh lý tuyến vú tại Bệnh 
viện Trường Đại học Y Dược Huế”, Luận 
văn tốt nghiệp bác sĩ Y khoa, Trường Đại học 
Y Dược Huế.
3. Phùng Phướng (1999), Góp phần nghiên 
cứu giá trị của sự kết hợp khám lâm sàng, 
chụp X quang tuyến vú và xét nghiệm chọc 
hút tế bào trong chẩn đoán ung thư vú, 
Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học 
Y Dược Huế.
Đặng Công Thuận l 257
4. Lê Thị Xuân Quý (2007), “Nghiên cứu 
đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh các 
bệnh lý tuyến vú tại Bệnh viện Trường 
Đại học Y Dược Huế”, Luận văn tốt nghiệp 
bác sĩ y khoa, Trường Đại học Y Dược Huế.
5. Đặng Công Thuận (2008), Ứng dụng chỉ 
số Nottingham và một số yếu tố khác trong 
phân nhóm tiên lượng ung thư biểu mô 
tuyến vú xâm nhập, Luận án Tiến sĩ Y học, 
Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
6. Đỗ Doãn Thuận, Nguyễn Duy Huề 
(2008), “Nghiên cứu đánh giá độ phù 
hợp chẩn đoán ung thư vú của chụp 
X quang và siêu âm”, Tạp chí Y học thực 
hành (4), tr.43 - 46.
7. Tạ Văn Tờ (2004), Nghiên cứu hình thái 
học, hóa mô miễn dịch và giá trị tiên lượng 
của chúng trong ung thư biểu mô tuyến vú, 
Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội, 
Hà Nội.
8. Nguyễn Sào Trung, Hứa Thị Ngọc Hà, 
Lê Quốc Sử, Đoàn Thị Phương Thảo, Âu 
Nguyệt Diệu (2003), “Các dấu chứng 
sinh học trong điều trị và tiên lượng ung 
thư vú”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 
tập 7, phụ bản 3, tr 1. 
9. Chan P.D., Johnson S.M. (2008), Breast 
Cancer Screening and Diagnosis, 
Gynecology and obstetrics: New treatment 
guidelines, 2008 Edition, Current clinical 
strategies Publishing, pp. 18 - 20.
10. Hage AJ., Mieog JSD., Cornelis JHV., 
Putter H., Harry B. and Marc JV. (2011), 
“Impact of established prognostic 
factors and molecular subtype in very 
young breast cancer patients: pooled 
analysis of four EORTC randomized 
controlled trials”, Breast Cancer Research, 
13:R68.
11. Zhi H., Ou B., Luo B.M. et al (2007), 
Comparison of ultrasound elastography, 
mammography, and sonography in 
the diagnosis of solid breast lesions, J 
Ultrasound Med, 26, pp. 807 - 815.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_dac_diem_chan_doan_hinh_anh_giai_phau_benh_va.pdf