Nghiên cứu ảnh hưởng sức sống của tinh trùng đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm

Đặt vấn đề: Kiểm tra sức sống tinh trùng (sperm survival test – SST)

được phát triển như là một xét nghiệm nâng cao để đánh giá khả năng

sống của tinh trùng trong điều kiện in vitro. Chúng tôi tiến hành đánh giá

sức sống của tinh trùng sau lọc rửa với các mốc thời gian 0 giờ, 24 giờ và 48

giờ từ đó nghiên cứu ảnh hưởng của sức sống tinh trùng đến kết quả ICSI.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 100 cặp

vợ chồng vô sinh điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh –

Bệnh viện Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ tháng 01/2017 đến tháng

12/2017. Mẫu tinh trùng được lọc rửa vả nuôi cấy. Độ di động, sức sống

được đánh giá sau khi nuôi cấy cùng với kết quả ICSI.

Kết quả: Nhóm có sức sống tinh trùng bình thường (tỷ lệ tinh trùng

sống ≥58% sau 24 giờ và ≥20% sau 48 giờ nuôi cấy) – nhóm 1 cho MSI

(motility survival index) và VSI (vitality survival index) cao hơn nhóm 2 –

nhóm có sức sống tinh trùng bất thường, lần lượt là 55,7% so với 26,72%

và 77,83% so với 41,47% (p<0,05). tỷ="" lệ="" thụ="" tinh="" và="" tỷ="" lệ="" tạo="" phôi="">

của nhóm 1 (85,29% và 71,38%) cao hơn nhóm 2 (81,74% và 50,15%).

Nhóm 1 có tỷ lệ thai lâm sàng và tỷ lệ thai diễn tiến (lần lượt là 38,18% và

29,1%) khác biệt so với nhóm 2 (lần lượt là 24,44% và 28,89%).

Kết luận: Tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới và sức sống tinh trùng giảm dần

theo thời gian nuôi cấy. Sức sống tinh trùng có mối tương quan đến kết quả

thụ tinh trong ống nghiệm: kết quả thụ tinh trong ống nghiệm tốt hơn khi

sử dụng tinh trùng có sức sống bình thường, nhóm sử dụng tinh trùng có

sức sống bình thường có tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi tốt, tỷ lệ thai lâm sàng

và tỷ lệ thai diễn tiến cao (lần lượt là 85,29%, 71,38%, 38,18% và 29,1%)

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng sức sống của tinh trùng đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu ảnh hưởng sức sống của tinh trùng đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm

Nghiên cứu ảnh hưởng sức sống của tinh trùng đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN THỊ THÁI THANH, LÊ MINH TÂM, NGUYỄN VĂN TRUNG, NGUYỄN THỊ TÂM AN, CAO NGỌC THÀNH
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 76 - 82, 2018
7776
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
Nguyễn Thị Thái Thanh, Lê Minh Tâm, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Thị Tâm An, Cao Ngọc Thành 
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG SỨC SỐNG
CỦA TINH TRÙNG ĐẾN KẾT QUẢ
THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Thái Thanh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/12/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
05/01/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 12/01/2018
Từ khóa: sức sống tinh trùng, 
ICSI, vô sinh nam.
Keyword: sperm survival, ICSI, 
male infertility.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Kiểm tra sức sống tinh trùng (sperm survival test – SST) 
được phát triển như là một xét nghiệm nâng cao để đánh giá khả năng 
sống của tinh trùng trong điều kiện in vitro. Chúng tôi tiến hành đánh giá 
sức sống của tinh trùng sau lọc rửa với các mốc thời gian 0 giờ, 24 giờ và 48 
giờ từ đó nghiên cứu ảnh hưởng của sức sống tinh trùng đến kết quả ICSI.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 100 cặp 
vợ chồng vô sinh điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh – 
Bệnh viện Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ tháng 01/2017 đến tháng 
12/2017. Mẫu tinh trùng được lọc rửa vả nuôi cấy. Độ di động, sức sống 
được đánh giá sau khi nuôi cấy cùng với kết quả ICSI.
Kết quả: Nhóm có sức sống tinh trùng bình thường (tỷ lệ tinh trùng 
sống ≥58% sau 24 giờ và ≥20% sau 48 giờ nuôi cấy) – nhóm 1 cho MSI 
(motility survival index) và VSI (vitality survival index) cao hơn nhóm 2 – 
nhóm có sức sống tinh trùng bất thường, lần lượt là 55,7% so với 26,72% 
và 77,83% so với 41,47% (p<0,05). Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ tạo phôi tốt 
của nhóm 1 (85,29% và 71,38%) cao hơn nhóm 2 (81,74% và 50,15%). 
Nhóm 1 có tỷ lệ thai lâm sàng và tỷ lệ thai diễn tiến (lần lượt là 38,18% và 
29,1%) khác biệt so với nhóm 2 (lần lượt là 24,44% và 28,89%).
Kết luận: Tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới và sức sống tinh trùng giảm dần 
theo thời gian nuôi cấy. Sức sống tinh trùng có mối tương quan đến kết quả 
thụ tinh trong ống nghiệm: kết quả thụ tinh trong ống nghiệm tốt hơn khi 
sử dụng tinh trùng có sức sống bình thường, nhóm sử dụng tinh trùng có 
sức sống bình thường có tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi tốt, tỷ lệ thai lâm sàng 
và tỷ lệ thai diễn tiến cao (lần lượt là 85,29%, 71,38%, 38,18% và 29,1%).
Từ khóa: sức sống tinh trùng, ICSI, vô sinh nam. 
Abstract 
THE EFFECT OF SPERM SURVIVAL ON IN 
VITROFERTILIZATION OUTCOME
Background: The sperm survival test is an advanced assay to assess 
the vitality of spermatozoa in IVF. We evaluated the vitality of sperm after preparing for ICSI at 0h, 
24h and 48h. The effect of sperm survival on ICSI outcome was studied.
Materials and methos: A retrospective study of 100 infertile couples treated at the Hue Center for 
Reproductive Endocrinology and Infertility - Hue University Hospital (HUECREI) from January 2017 
to December 2017 was performed. The sperm samples were prepared for ICSI before incubated. 
The motility and vitality, as well as the ICSI results, were evaluated.
Results: The group 1 with normal sperm survival parameter which having vitality rate ≥58% after 24h 
and ≥20% after 48h had MSI and VSI significantly higher than group 2 whose survival was abnormal 
(55.7% vs 26,77%, 77,83% vs 41,47%, respectively). The fertilization rate and good quanlity embryos 
formation rate in group 1 (85.29% and 71.38%) were different from those in group 2 (81.74% and 
50.15%). Normal survival group resulted in better clinical pregnancy rate and on-going pregnancy 
rate (38.18% and 29.1% respectively) than the remain (24.44% and 28.89%, respectively).
Conclusion: The sperm PR and vitality rate were decreased following culture time. Sperm survival 
had correlation with ICSI outcome: The ICSI results were better when using sperm with normal 
survival, normal survival sperm group had higher fertilization rate, good quanlity embryos formation 
rate and on-going pregnancy rate (85,29%, 71,38%, 38,18% and 29,1%, respectively).
Key words: sperm survival, ICSI, male infertility.
1. Đặt vấn đề
Vô sinh là một trong những vấn đề mà con người 
đang phải đối mặt ở thế giới hiện đại. Trong các 
nguyên nhân vô sinh, vô sinh nam chiếm khoảng 
30% và trong đó 90% là do bất thường tinh trùng. 
Người chồng cần thực hiện xét nghiệm tinh dịch 
đồ trước khi có chỉ định điều trị vì đây là một phần 
của chẩn đoán tiêu chuẩn thường quy cho các cặp 
vợ chồng vô sinh. Tinh dịch đồ có thể cung cấp các 
thông số về số lượng, chất lượng tinh trùng như mật 
độ, độ di động và hình thái. Ngoài ra, khi thực 
hiện xét nghiệm tinh dịch đồ, các quá trình sinh 
tinh bất thường hay tình trạng nhiễm trùng cũng có 
thể được phát hiện thông qua sự xuất hiện của các 
tế bào lạ. Quy trình xét nghiệm tinh dịch đồ được 
tiến hành theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới 
WHO (2010) [19].
Tuy nhiên, các chỉ số trên tinh dịch đồ chưa 
thể phản ánh hoạt động chức năng của tinh 
trùng, trong khi 35% đến 50% các trường hợp 
vô sinh nam là do bất thường về sản xuất hay 
hoạt động chức năng tinh trùng [16]. Bởi vì tinh 
dịch đồ không cho biết rõ về khả năng sinh sản 
của nam giới nên cần có thêm các xét nghiệm 
khác để tìm hiểu thêm nguyên nhân của những 
trường hợp bất thường, từ đó cung cấp thêm 
thông tin giúp ích cho quá trình điều trị phù hợp 
với bệnh nhân hơn. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra 
rằng tỷ lệ sống của tinh trùng thấp hoặc số tinh 
trùng bất động nhiều có liên quan đến vô sinh 
ở nam giới. Vì vậy, kiểm tra sức sống tinh trùng 
(sperm survival test – SST) được phát triển như 
là một xét nghiệm nâng cao để đánh giá khả 
năng sống của tinh trùng trong điều kiện in vitro 
trong kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (in vitro 
fertilization – IVF). Xét nghiệm này không đòi 
hỏi thiết bị đắt tiền và có thể thực hiện dễ dàng 
với chi phí thấp, do đó, nó có thể là xét nghiệm 
thường quy ở các trung tâm IVF, bổ sung thêm 
cho các xét nghiệm tinh dịch đồ cơ bản.
Ngoài ra, sức sống tinh trùng còn phản ánh 
tỷ lệ sống. Kết quả đánh giá tỷ lệ sống cho phép 
kiểm tra chéo kết quả của tỷ lệ di động. Thông 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN THỊ THÁI THANH, LÊ MINH TÂM, NGUYỄN VĂN TRUNG, NGUYỄN THỊ TÂM AN, CAO NGỌC THÀNH
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 76 - 82, 2018
7978
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
thường, tỷ lệ tinh trùng chết không được vượt quá 
tỷ lệ bất động và tỷ lệ tinh trùng sống thường 
nhiều hơn tỷ lệ tinh trùng di động. Việc xác định 
tình trạng sống/chết của tinh trùng dựa vào 
nguyên tắc là các tinh trùng sống thường có màng 
tế bào còn nguyên vẹn, được phát hiện bằng sự 
loại bỏ thuốc nhuộm hoặc khả năng điều hòa 
áp suất thẩm thấu dưới điều kiện nhược trương. 
Chính sự toàn vẹn của màng tế bào sẽ ngăn cản 
sự xâm nhập thuốc nhuộm. Nhiều phương pháp 
nhuộm có thể được sử dụng như nhuộm eosin 
đơn thuần, trypan blue, eosin-nigrosin hoặc sử 
dụng xét nghiệm phản ứng nhược trương (hypo-
osmotic swelling test – HOST) [13]. Giá trị giới 
hạn tối thiểu đối với tỷ lệ sống là 58% (WHO, 
2010) [19].
Trước đây, có nhiều nghiên cứu chỉ ra ảnh 
hưởng của sức sống tinh trùng đến IVF. Tuy nhiên, 
khi thực hiện kỹ thuật ICSI, yếu tố sức sống tinh 
trùng dường như không được chú ý nữa.
Trong kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương 
noãn (intracytoplasmic sperm injection-ICSI), cần 
lựa chọn những tinh trùng di động (còn sống) 
nhằm mục đích hạn chế tỷ lệ tinh trùng bị tổn 
thương DNA thụ tinh với trứng. Khi chuẩn bị tinh 
trùng bằng phương pháp Percoll, Aitken và cs 
(2010) nhận thấy rằng có khoảng 5% tinh trùng 
sống bị tổn thương. Tuy nhiên, nhóm tác giả nhận 
thấy không có sự tương quan giữa tổn thương 
DNA tinh trùng đến kết quả lâm sàng. Do đó, 
phương pháp chuẩn bị tinh trùng bằng ly tâm 
theo gradient nồng độ được sử dụng để hạn chế 
sự tổn thương tinh trùng [2]. Tổn thương DNA làm 
thay đổi chức năng hoạt động của tinh trùng, dẫn 
đến giảm phản ứng acrosome, giảm tỷ lệ thụ tinh. 
Phản ứng acrosome và xét nghiệm sức sống tinh 
trùng có mối tương quan với giá trị đứt gãy DNA, 
đặc biệt trong trường hợp tỷ lệ thụ tinh <60%. Có 
thể thấy rằng sức sống tinh trùng có mối tương 
quan đến tổn thương DNA tinh trùng [15].
Chính vì vây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu 
đề tài” “Nghiên cứu ảnh hưởng sức sống của tinh 
trùng đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm” nhằm 
đánh giá sức sống của tinh trùng sau lọc rửa với 
các mốc thời gian 0 giờ, 24 giờ và 48 giờ, đồng 
thời khảo sát ảnh hưởng của sức sống tinh trùng 
đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương 
pháp hồi cứu trên 100 cặp vợ chồng vô sinh 
điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô 
sinh – Bệnh viện Đại học Y Dược Huế (HUECREI) 
từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2017, trong 
đó: người vợ không gặp vấn đề về vô sinh 
và mẫu tinh dịch được thu thập từ xuất tinh, 
không nghiên cứu mẫu từ phẫu thuật hoặc xuất 
tinh ngược dòng và mẫu tinh trùng rất ít, yếu 
(cryptozoospermia).
Mẫu tinh dịch của người chồng được lọc theo 
phương pháp gradient nồng độ bằng dung dịch 
Sil-select plus (Fertipro, Bỉ). Đây là dung dịch 
chứa các hạt nhỏ silic dioxyt phủ silane trong 
EBSS (dung dịch muối cân bằng của Earle) với 
đệm HEPES (đệm pH). Nó không gây độc tế bào. 
Sau đó, mẫu được rửa lại 2 lần với môi trường 
nuôi cấy Ferticul Flushing (Fertiro, Bỉ). Cuối cùng, 
mẫu được nuôi trong môi trường Sperm Rinse 
(Vitrolife, Thụy Điển) ở nhiệt độ 370C trước khi 
sử dụng trong kỹ thuật ICSI. Đánh giá mật độ, tỷ 
lệ tinh trùng di động tiến tới (progressive – PR) 
và tỷ lệ sống tại thời điểm này (0 giờ). Tiến hành 
nuôi tiếp tinh trùng ở 370C trong tủ ấm và đánh 
giá thông số PR, tỷ lệ sống tại thời điểm sau 24 
giờ và 48 giờ.
Độ di động được khảo sát bằng cách quan 
sát sự di động tự nhiên của tinh trùng, sau đó 
tính tỷ lệ giữa tinh trùng di động trên tổng số 
tinh trùng quan sát và được thể hiện bằng phần 
trăm. Độ di động của tinh trùng được phân làm 
3 loại là (1) di động tiến tới (progressive-PR), 
(2) di động không tiến tới (non progressive-NP), 
(3) không di động (immotile-IM). Sức sống được 
đánh giá nhờ phản ứng với thuốc nhuộm eosin 
và được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tinh trùng 
sống trên tổng số tinh trùng quan sát.
Chỉ số đánh giá sức sống tinh trùng (vitality 
survival index – VSI) được tính bằng phần trăm 
giữa tỷ lệ sống ở thời điểm 24 giờ trên tỷ lệ 
sống ban đầu. Tương tự, chỉ số di động (motility 
survival index – MSI) tính bằng phần trăm giữa 
độ di động sau 24 giờ nuôi cấy trên độ di động 
ở 0 giờ [12].
Quy trình ICSI sử dụng tinh trùng sau lọc rửa 
được thực hiện như quy trình thường quy chuẩn. 
Noãn sau đó được nuôi cấy đơn trong G-TL 
(Vitrolife, Thụy Điển) ở tủ nuôi cấy Galaxy 170R 
370C, 5% O2, 5,5% CO2. Đánh giá phôi ngày 2 
theo tiêu chuẩn của Alikani và cs (2003) và Veek 
và Zaninovic (2003) vào 42-46 giờ sau ICSI như 
sau: (1) Phôi tốt (loại I): phôi 4-8 tế bào, số phôi 
bào chẵn, không có mảnh vỡ, kích thước đồng 
đều, phôi bào đối xứng; (2) Phôi khá (loại II): số 
phôi bào lẻ, <15% mảnh vỡ, kích thước đồng đều 
hoặc không, phôi bào đối xứng hoặc không; (3) 
Phôi xấu (loại III): số lượng phôi bào không phải 
4-6, >20% mảnh vỡ, kích thước không đều, phôi 
bào không đối xứng [3,18]. 2-3 phôi tốt nhất 
được lựa chọn để chuyển phôi vào ngày 2. Tỷ lệ 
thụ tinh được đánh giá bằng phần trăm giữa số 
hợp tử tạo thành trên số trứng thực hiện ICSI. Tỷ 
lệ phôi tốt tính bằng phần trăm giữa số phôi tốt 
trên tổng số phôi tạo thành.
Kết quả chính là tỷ lệ beta-hCG, tỷ lệ thai lâm 
sàng và tỷ lệ thai diễn tiến. Thử thai thực hiện 
vào 14 ngày sau khi chọc hút noãn, beta-hCG 
>25 mIU/ml được xem là dương tính. Tỷ lệ thai 
lâm sàng được tính bằng tỷ lệ phần trăm các 
trường hợp có thai lâm sàng trên tổng số các 
trường hợp chuyển phôi. Thai lâm sàng được ghi 
nhận khi xác định được hình ảnh túi thai và đo 
được tim thai vào khoảng 3 tuần sau khi có xét 
nghiệm beta-hCG dương tính. Tỷ lệ thai diễn tiến 
là tỷ lệ phần trăm các trường hợp có thai diễn 
tiến (thai 12 tuần tuổi trở lên) trên tổng số các 
trường hợp chuyển phôi.
Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 
(Mỹ) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi 
p-value< 0,05.
3. Kết quả
Từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2017, 
chúng tôi tiến hành nghiên cứu 100 cặp vợ chồng 
điều trị thụ tinh trong ống nghiệm tại Trung tâm. 
Vì nguyên nhân vô sinh không xuất phát từ người 
vợ nên chúng tôi tiến hành chia mẫu nghiên cứu 
thành 2 nhóm theo tiêu chuẩn đánh giá sức sống 
tinh trùng của WHO (2010) [19]: nhóm 1 là nhóm 
người chồng có sức sống tinh trùng bình thường 
(tỷ lệ tinh trùng sống ≥58% sau 24 giờ và ≥20% 
sau 48 giờ nuôi cấy) gồm 55 cặp vợ chồng, nhóm 
2 là nhóm người chồng có sức sống tinh trùng bất 
thường (tỷ lệ tinh trùng sống <58% sau 24 giờ và 
<20% sau 48 giờ nuôi cấy) gồm 45 cặp vợ chồng. 
Tuổi trung bình người vợ ở 2 nhóm lần lượt là 
33,75 và 34,64. Người chồng có độ tuổi trung 
bình từ 36 đến 38 tuổi. Sự khác biệt về độ tuổi 
của 2 nhóm nghiên cứu không có ý nghĩa thống 
kê. Thời gian mong con của họ kéo dài từ 4 đến 6 
năm (bảng 1). 
Các thông số đánh giá tinh trùng được trình 
bày ở bảng 2.
Chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt về mật độ, 
PR và tỷ lệ sống sau khi lọc rửa ở 2 nhóm. Nhóm 
có thông số sức sống tinh trùng bình thường có mật 
độ (28,35×106/ml) và PR (85,4%) cao hơn nhóm 
còn lại, Chỉ số MSI và VSI nhằm đánh giá sức sống 
tinh trùng của nhóm 1 cao hơn so với nhóm 2 ( 
lần lượt là 55,7% so với 26,72% và 77,83% so với 
41,47%). Tất cả sự khác biệt về thông số nghiên 
cứu đều có ý nghĩa thống kê.
Đặc điểm Nhóm 1 (n=55) Nhóm 2 (n=45) p-value
Tuổi trung bình người vợ 33,73±5,38 34,64±5.1 p >0,05
Tuổi trung bình người chồng 36,84±5,59 38,38±6,27 p >0,05
Thời gian vô sinh (năm) 6,02±4,18 4,96±3,33 p >0,05
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân
Nhóm 1 (n=55) Nhóm 2 (n=45) p-value
Số trứng thu được 10,76±5,1 9,93±6 p>0,05
Tỷ lệ thụ tinh (%) 85,29±15,95 81,74±16,94 p>0,05
Tỷ lệ phôi tốt (%) 71,38±35,51 50,15±29,7 p<0,05
Bảng 3. Các thông số kết quả nuôi cấy phôi
Nhóm 1 (n=55) Nhóm 2 (n=45) p-value
Tỷ lệ beta-hCG (+) (%) 43,63 33,33 p<0,05
Tỷ lệ thai lâm sàng (%) 38,18 24,44 p<0,05
Tỷ lệ thai diễn tiến (%) 29,1 28,89 p>0,05
Bảng 4. Kết quả có thai của các chu kỳ chuyển phôi
Nhóm 1 (n=55) Nhóm 2 (n=45) p-value
Mật độ (×106/ml) 28,35±12,85 16,13±11,6 p<0,05
0 giờ
PR (%) 85,4±6 75,67±12,6 p<0,05
Tỷ lệ sống (%) 92,24±9,87 87,64±9,32 p<0,05
24 giờ
PR (%) 47,95±13,39 20,51±11,6 p<0,05
Tỷ lệ sống (% ... (%) 15,8±11,58 3,69±12,47 p<0,05
Tỷ lệ sống (%) 33,84±16,77 9,04±7,88 p<0,05
Bảng 2. Các thông số tinh trùng
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN THỊ THÁI THANH, LÊ MINH TÂM, NGUYỄN VĂN TRUNG, NGUYỄN THỊ TÂM AN, CAO NGỌC THÀNH
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 76 - 82, 2018
8180
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
Bảng 3 trình bày kết quả thụ tinh trong ống 
nghiệm của nghiên cứu. Kết quả này cho thấy 
khi sử dụng tinh trùng nhóm 1 để ICSI thì tỷ lệ 
thụ tinh và tỷ lệ phôi tốt tạo thành cao hơn so 
với nhóm 2. Tuy tỷ lệ thụ tinh giữa 2 nhóm khác 
biệt không đáng kể nhưng tỷ lệ phôi tốt lại có sự 
chênh lệch khá lớn. Nhóm 1 cho tỷ lệ phôi tốt 
71.38%, trong khi đó, nhóm 2 có tỷ lệ phôi tốt 
chỉ 50,15%. Điều này dẫn đến kết quả có thai 
của các chu kỳ chuyển phôi ở nhóm 1 tốt hơn so 
với nhóm 2 (bảng 4).
4. Bàn luận 
Khi khảo sát đặc điểm của bệnh nhân, chúng 
tôi nhận thấy tuổi trung bình của cả người vợ và 
chồng ở hai nhóm không có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê. Điều này có ý nghĩa trong việc 
đưa ra nhận định về mối tương quan giữa sức 
sống tinh trùng đến kết quả ICSI bởi vì độ tuổi là 
một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến kết 
quả điều trị. Ngoài ra, tuổi trung bình của người 
chồng xấp xỉ từ 36 đến 38 tuổi, lứa tuổi không 
quá lớn, thích hợp để thực hiện nghiên cứu. Bởi 
vì một số nghiên đã cho thấy nam giới có độ 
tuổi càng lớn thì sức sống cũng như tính toàn vẹn 
DNA của tinh trùng càng giảm. Phát hiện này 
khá quan trọng vì ngày nay, với nhịp sống hiện 
đại, độ tuổi muốn có con của người nam đang 
ngày một lớn hơn [12]. 
Người nam có tiền sử hút thuốc và sử dụng 
thuốc, tiếp xúc với môi trường độc hại cũng như 
bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch thừng tinh, tiền sử 
ung thư và tổn thương tinh hoàn thì DNA bị tổn 
thương nhiều. Trong nghiên cứu này, chúng tôi 
lựa chọn nam giới khỏe mạnh, không có vấn 
đề về bệnh lý nào liên quan đến suy giảm khả 
năng sinh sản nên đã hạn chế sai lệch kết quả 
thu được.
Tinh trùng sau lọc rửa được nuôi cấy trong 
khoảng thời gian dài làm giảm sức sống tinh 
trùng, đặc biệt ở bệnh nhân lớn tuổi và bệnh 
nhân có tổn thương DNA nhiều. Do đó, trong 
xử lý tinh trùng cho ICSI, cần lưu ý thời gian tiến 
hành chuẩn bị mẫu tinh trùng, tránh trường hợp 
nuôi tinh trùng quá lâu. Đối với trường hợp rescue 
ICSI với các trứng chưa trưởng thành, sức sống 
tinh trùng là yếu tố quan trọng cho thành công 
của quy trình này. Theo Coccia và cs (2012), độ 
di động của tinh trùng giảm sau 24 giờ, cùng 
với đó là sự giảm sức sống tinh trùng. Tác giả đề 
xuất thời gian nuôi cấy thích hợp cho tinh trùng 
là trong vòng 6 giờ để hạn chế giảm độ di động 
và sức sống [6].
Khi sử dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm 
(IVF cổ điển), sức sống tinh trùng đóng vài trò 
quan trọng trong việc tiên lượng tỷ lệ thụ tinh [5]. 
Franco và cs (1993) đã nghiên cứu hiệu quả của 
SST trong tiên lượng tỷ lệ thụ tinh trong IVF [9]. 
Coccia và cs (1997) cũng báo cáo kết quả sức 
sống tinh trùng bất thường tạo ra <90% chu kỳ 
thất bại [5]. Eskandar và cs (2002) đã nghiên 
cứu mối liên quan giữa độ di động của tinh trùng 
sau 24 giờ và tỷ lệ thụ tinh in vitro trong IVF. Kết 
quả cho thấy tinh trùng bất động sau 24h có 
liên quan đến tỷ lệ thụ tinh giảm [8]. Tuy nhiên, 
các nghiên cứu này hầu hết tập trung trong kỹ 
thuật IVF cổ điển. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ 
thuật, ngày nay kỹ thuật sử dụng chủ yếu trong 
điều trị là ICSI. Nhưng lại có ít các nghiên cứu 
về sức sống tinh trùng vì dường như ICSI đã loại 
trừ một phần nào ảnh hưởng của sức sống tinh 
trùng đến kết quả thụ tinh. Mặc dù vậy, chúng 
tôi nhận thấy rằng chỉ số sức sống tinh trùng lại 
có thể giúp tiên lượng một phần kết quả của ICSI.
Sau khi chia mẫu nghiên cứu ra làm 2 nhóm 
theo mức độ bất thường của sức sống tinh trùng, 
kết quả cho thấy nhóm tinh trùng có sức sống 
bình thường (nhóm 1) có PR, tỷ lệ sống ban đầu 
cao hơn nhóm có sức sống bất thường (nhóm 
2). Như vậy, mẫu ban đầu của nhóm 2 đã có 
tổn thương DNA. Moskovtsev và cs (2007) đã 
tìm ra mối tương quan giữa tổn thương DNA và 
sức sống tinh trùng, biểu hiện qua MSI và VSI 
ở 6 giờ và 24 giờ nuôi cấy. Nhóm tác giả cho 
rằng các tác nhân gây oxy hóa (reactive oxygen 
species – ROS) đã tấn công màng phospholipid 
của tế bào và tạo ra acid béo peroxide cũng như 
các sản phẩm phân giải khác. ROS được tạo ra 
bởi leukocyte và tinh trùng chưa trưởng thành 
bị loại bỏ khi xử lý tinh trùng bằng gradient 
nồng độ. Tinh trùng bất thường tạo ra nhiều 
ROS do hệ thống chống oxy hóa hoặc hoạt tính 
của các enzyme tạo ROS bị hư hại. Mặt khác, 
ROS làm tổn thương màng tế bào và/hoặc nhân 
nên ảnh hưởng đến sức sống tinh trùng [12]. Do 
đó, các mẫu tinh trùng bất thường ngay từ ban 
đầu thì sau thời gian nuôi cấy sẽ cho các chỉ số 
bất thường nặng hơn. Kết quả này phù hợp với 
nghiên cứu của chúng tôi. Nhóm 1 có sức sống 
cao hơn (tổn thương DNA ít hơn) nên cho tỷ lệ 
thụ tinh, tỷ lệ phôi tốt cũng như kết quả lâm sàng 
tốt hơn nhóm 2. 
Như vây, sức sống tinh trùng dường như có 
mối tương quan với kết quả thụ tinh trong ống 
nghiệm khi kết quả trong nghiên cứu chúng tôi 
chỉ ra việc nhóm sử dụng tinh trùng có chỉ số 
MSI và VSI cao thì kết quả ICSI cao hơn nhóm 
còn lại. Xem xét các y văn trước đó, chúng tôi 
thấy rằng từ năm 1982, Bostofte và cs đã nhận 
định mối liên quan giữa tinh trùng có hình thái 
bất thường và tỷ lệ có thai trong 20 năm liên 
tục. Ngoài ra, nhóm tác giả còn ghi chú mối 
tương quan đáng kể khi tăng tỷ lệ tinh trùng bất 
thường sẽ làm giảm tỷ lệ trẻ sinh sống [4]. Cũng 
trong năm đó, Aitken và cs đã nghiên cứu và 
phân tích mối tương quan về khả năng sinh sản 
của nam giới với kết quả tinh dịch đồ. Họ kết 
luận rằng xét nghiệm tinh dịch đồ thường quy 
không cho chỉ số thụ tinh đáng tin cậy nên cần 
phải có các test đánh giá tinh trùng nhạy hơn 
để kiểm tra sự suy giảm chức năng sinh sản ở 
nam giới [1]. Cũng có kết luận tương tự như trên, 
Gopalkrishnan và cs (2000) sau khi phân tích 
mẫu tinh dịch đồ của 32 căp vợ chồng bị sảy 
thai sớm và so sánh với 51 cặp vợ chồng sinh 
sản bình thường, đã cho kết quả giá trị trung 
bình của thể tích, mật độ, độ di động, hình thái, 
tỷ lệ sống và phần trăm tinh trùng có hình thái 
bình thường khác biệt không đáng kể so với đối 
chứng. Chỉ duy nhất thông số tỷ lệ tinh trùng bất 
thường đầu là cao hơn đáng kể so với nhóm đối 
chứng [11]. Gần đây, Ghoshai và cs (2014) đã 
báo cáo rằng vô sinh nam có liên quan đến tỷ lệ 
tinh trùng sống thấp hoặc số tinh trùng bất động 
nhiều [10].
Sức sống tinh trùng thấp chủ yếu là do DNA 
tinh trùng bị tổn thương nên làm rối loạn chức 
năng của tinh trùng. Tổn thương DNA ở dòng tế 
bào mầm ở nam giới liên quan đến nhiều bệnh 
lý khác nhau bao gồm tăng sảy thai và bệnh 
tật ở con cái. Nguồn gốc tổn thương DNA là 
do ROS, quá trình đóng gói sợi nhiễm sắc hay 
do quá trình chết tế bào. Về mặt lý thuyết, tổn 
thương DNA làm thay đổi chức năng tế bào của 
tinh trùng và dẫn tới phản ứng acrosome giảm 
nên giảm tỷ lệ thụ tinh. Sức sống của tinh trùng 
cũng giảm khi tổn thương DNA tăng. Tuy nhiên, 
kỹ thuật ICSI đã làm giảm kết quả tiêu cực do tổn 
thương DNA gây ra. 
Trong các tác nhân gây tổn thương DNA, tổn 
thương do oxy hóa tương đối phổ biến và các 
hệ quả lâm sàng của tổn thương này khá trầm 
trọng nên cần xem xét nghiêm túc việc sử dụng 
các chất chống oxy hóa như là một biện pháp 
điều trị dự phòng cho nam giới. De Amicis và cs 
(2012) đưa ra nghiên cứu ảnh hưởng của EGCG 
(epigallocatechin gallate) trong trà xanh đến sức 
sống tinh trùng nhằm tăng khả năng sống của 
tinh trùng [7]. Ngoài ra, đời sống lành mạnh 
của nam giới cũng được khuyến cáo nhằm giảm 
các tác nhân làm tổn thương DNA tinh trùng. Hút 
thuốc là một trong những tác nhân ảnh hưởng 
tiêu cực đến số lượng tinh trùng, độ di động và 
hình thái, việc tăng các tác nhân gây oxy hóa 
[14]. Tuy nhiên, ảnh hưởng tiêu cực của hút 
thuốc đến vô sinh nam đã bị phủ nhận bởi nhiều 
cặp vợ chồng vẫn có con và cũng có tinh trùng 
bình thường dù người chồng có sử dụng thuốc lá. 
Người ta kiến nghị rằng nam giới với chất lượng 
tinh trùng không tốt có thể có lợi khi bỏ thuốc vì 
thuốc lá có thể có liên quan đến sự hình thành 
đứt gãy DNA trong tinh trùng [17].
Qua nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra một 
số kết luận tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới (PR) 
và sức sống tinh trùng giảm dần theo thời gian 
nuôi cấy; Sức sống tinh trùng có mối tương quan 
đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm, cụ thể là: 
kết quả thụ tinh trong ống nghiệm tốt hơn khi sử 
dụng tinh trùng có sức sống bình thường, nhóm 
sử dụng tinh trùng có sức sống bình thường có tỷ 
lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi tốt, tỷ lệ thai lâm sàng 
và tỷ lệ thai diễn tiến cao (lần lượt là 85,29%, 
71,38%, 38,18% và 29,1%); Cần tiếp tục nghiên 
cứu này với cỡ mẫu lớn hơn, đồng thời tiến hành 
nghiên cứu sâu hơn nguyên nhân gây ra sức 
sống tinh trùng yếu và nguyên nhân làm giảm 
sức sống tinh trùng trong quá trình nuôi cấy.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN THỊ THÁI THANH, LÊ MINH TÂM, NGUYỄN VĂN TRUNG, NGUYỄN THỊ TÂM AN, CAO NGỌC THÀNH
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(04), 83 - 88, 2018
8382
Tậ
p 
15
, s
ố 
04
Th
án
g 
03
-2
01
8 Tập 15, số 04
Tháng 03-2018
Tài liệu tham khảo
1. Aitken R. J, Best F.S.M., Richardson D.W, Djahanbakhch O, Mortimer 
D, Tempelton A A, Lees, M.M. 1982. An analysis of sperm function in cases 
of unexplained infertility: Conventional criteria, movement Characteristics 
and fertilizing capacity. Fertility & Sterility. 38 (1): 212- 221.
2. Aitken RJ, De Iuliis GN, Finnie JM, Hedges A, McLachlan RI. 2010. 
Analysis of the relationships between oxidative stress, DNA damage and 
sperm vitality in a patient population: Development of diagnostic criteria. 
Hum Reprod. 25(10):2415–26. 
3. Alikani M, Ceklenikak NA, Walter E, Cohen J. 2003. Monozygonic 
twining following assisted conception: an analysis of 81 consecutive 
cases. Human Reprod. 18:1937-41.
4. Bostofte E., Serup J, Rebbe H. 1982. Relation between sperms count 
& semen volume, and pregnancies obtained during twenty- year follow- up 
period. International Journal of Andrology. 5: 267- 275.
5. Coccia ME, Becattini C, Criscuoli L, Fuzzi B, Scarsell G. 1997. A 
sperm survival test and in-vitro fertilization outcome in the presence of 
male factor infertility. Human Reprod. 12(9):1969-1973.
6. Coccia ME, Becattini C, Criscuoli L, Fuzzi B, Scarselli G, Taha EA, et 
al. 2012. The rapid detection of cytotoxicity using amodified human sperm 
survival assay. Fertil Steril. 25(4):311–7.
7. De Amicis F, Santoro M, Guido C, Russo A, Aquila S. 2012. 
Epigallocatechin gallate affects survival and metabolism of human sperm. 
Mol Nutr Food Res. 56(11):1655–64.
8. Eskandar M. 2002. Is 24h sperm motility a useful IVF measure when 
male infertility is not apparent. Acta Obstert gynecol Scand. 81:328-330.
9. Francon J.G, Mauri A.L, Petersen C.G, Bauruffi R.L.R, Campos M.S, 
Oliveira J.B.A. 1993. Efficacy of the sperm survival test for the prediction 
of oocyte fertilization in culture. Human Reprod. 8(6):916-918.
10. Ghoshal JA, Sawant VG, Shakya PS. 2014. Comparative Study of 
Sperm Vitality in Fertile and Infertile Males. J Evol Med Dent .3(69):14758–62
11. Gopalkrishnan K, Padwal V, Meherji P.K, Gokral J.S, Shah R, 
Juneja H.S. 2000. Poor quality of sperm as it affects repeated early 
pregnancy loss. Archives of Andrology. 45: 111-117.
12. Moskovtsev SI, Willis J, White J, Mullen JBM. 2007. Sperm survival: 
Relationship to age-related sperm DNA integrity in infertile men. Syst Biol 
Reprod Med. 53(1):29–32.
13. Moskovtsev SI, Librach CL. 2013. Spermatogenesis. Methods Mol 
Biol. 927:13–9. 3
14. Mostafa T. 2010. Cigarette smoking and male infertility. J Adv Res. 
1:179-186.
15. Ozmen B, Caglar GS, Koster F, Schopper B, Diedrich K, Al-Hasani 
S. 2007. Relationship between sperm DNA damage, induced acrosome 
reaction and viability in ICSI patients. Reprod Biomed Online.15(2):208–14.
16. Speroff L, Fritz M. 2005. Male infertility. In: Speroff L, Fritz M,eds. 
Clinical Gynecologic Endocrinology and Infertility. Lippincott Williams and 
Wilkins. 1135-74.
17. Taha EA, Ez-Aldin AM, Sayed SK, Ghandour NM, Mostafa T. 2012. 
Effect of smoking on sperm vitality, DNA integrity, seminal oxidative 
stress, zinc in fertile men. Urology. 80(4):822–5
18. Veek LL, Zaninovic A. 2003. An atlas of human blastocyst. Parthenon 
Publishing Group, New York.
19. WHO. 2010. World Health Organization laboratory manual for the 
examination and processing of human semen. WHO Press, Geneva.
Nguyễn Văn Trung, Lê Minh Tâm, Nguyễn Thị Tâm An, Nguyễn Thị Thái Thanh, Cao Ngọc Thành 
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THEO DÕI
PHÔI LIÊN TỤC (TIME LAPSE)
TRONG THỤ TINH ỐNG NGHIỆM
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Văn Trung, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/12/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
05/01/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 12/01/2018
Từ khóa: Time lapse, phôi 
bào đa nhân, phân chia bất 
thường, phân chia ngược.
Tóm tắt
Mục tiêu: đánh giá tần suất các bất thường phân chia, xác định mối liên 
quan giữa chất lượng phôi với động học phát triển của phôi đến ngày 2 
trong điều kiện thụ tinh ống nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu: tổng số 106 chu kì điều trị bằng kỹ thuật thụ 
tinh trong ống nghiệm có sử dụng hệ thống theo dõi nuôi cấy phôi liên 
tục tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược 
Huế trong thời gian từ tháng 4/2016 đến tháng 10/2017. Nghiên cứu theo 
phương pháp mô tả cắt ngang.
Kết quả: Tổng số 846 phôi từ 106 bệnh nhân được đánh giá bởi hệ thống 
theo dõi phôi liên tục. Các bất thường về hợp tử, phôi bào đa nhân, phân 
chia bất thường 1 thành 3 tế bào và phân chia ngược được tầm soát. Những 
phôi chất lượng tốt có thời gian xuất hiện hợp tử và dung hợp tiền nhân sớm 
hơn đồng thời các khoảng thời gian T 2pn-f và T f-2c ngắn hơn so với các 
phôi bào chất lượng kém hơn. Không có sự khác biệt về tốc độ phân chia 
giữa các nhóm độ tuổi vợ tham gia nghiên cứu.
Kết luận: Sử dụng hệ thống theo dõi phôi liên tục giúp phát hiện các bất 
thường trong quá trình phân chia của phôi mà phương pháp đánh giá hình 
thái thông thường không phát hiện được. Dựa vào thời gian xuất hiện thể 
cực, dung hợp tiền nhân và các khoảng thời gian T 2pn-f, T f-2c có thể tiên 
lượng được hình thái phôi ngày 2.
Từ khóa: Time lapse, phôi bào đa nhân, phân chia bất thường, phân 
chia ngược. 
Abstract 
RESEARCH ON THE APPLICATION OF TIME 
LAPSE MONITORING SYSTEM IN IN VITRO 
FERTILITY PROCEDURE
Purpose: aims to evaluating the frequency of division abnomalies, 
determining the relationship between mophokinetic of embryo and 
quality of day 2 embryo.

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_anh_huong_suc_song_cua_tinh_trung_den_ket_qua_thu.pdf