Nang phế quản ở trung thất trước Báo cáo loạt trường hợp

Tổn thương dạng nang của phổi đã được báo

cáo từ thế kỷ thứ 17. Tuy nhiên, báo cáo đầu tiên

về một nang phế quản trung thất trong y văn của

Mỹ là của Mixter và Clifford năm 1929. Từ khi có

bản báo cáo đầu tiên này, thì một số loạt nghiên cứu

đã cho thấy rằng nang phế quản là nang trung thất

phổ biến nhất. Nang phế quản chiếm khoảng 50-

60% tất cả các nang trung thất và thường phát hiện

ở người lớn. Thông thường nhất, nang phế quản

nằm ở vùng carina. Nang phế quản ở trung thất

trước thì hiếm. Thông thường, nang phế quản

không có triệu chứng, nhưng khi kích thước nang

lớn hoặc nhiễm trùng thì thường tạo ra triệu chứng

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Nang phế quản ở trung thất trước Báo cáo loạt trường hợp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nang phế quản ở trung thất trước Báo cáo loạt trường hợp

Nang phế quản ở trung thất trước Báo cáo loạt trường hợp
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 94 
NANG PHẾ QUẢN Ở TRUNG THẤT TRƯỚC BÁO CÁO LOẠT TRƯỜNG HỢP 
Võ Đắc Truyền* 
TÓM TẮT 
Tổn thương dạng nang của phổi đã được báo 
cáo từ thế kỷ thứ 17. Tuy nhiên, báo cáo đầu tiên 
về một nang phế quản trung thất trong y văn của 
Mỹ là của Mixter và Clifford năm 1929. Từ khi có 
bản báo cáo đầu tiên này, thì một số loạt nghiên cứu 
đã cho thấy rằng nang phế quản là nang trung thất 
phổ biến nhất. Nang phế quản chiếm khoảng 50-
60% tất cả các nang trung thất và thường phát hiện 
ở người lớn. Thông thường nhất, nang phế quản 
nằm ở vùng carina. Nang phế quản ở trung thất 
trước thì hiếm. Thông thường, nang phế quản 
không có triệu chứng, nhưng khi kích thước nang 
lớn hoặc nhiễm trùng thì thường tạo ra triệu chứng. 
Điều trị bằng cách phẫu thuật cắt bỏ hoàn 
toàn nang với phương pháp mổ được quy định 
bởi vị trí của nang. 
Tác giả trình bày hai trường hợp nang phế 
quản ở trung thất trước đã được chẩn đoán và điều 
trị tại khoa ngoại Bệnh viện C Đà Nẵng. Phẫu 
thuật là phương pháp điều trị được lựa chọn. Phân 
tích mô học mẩu bệnh phẩm được cắt bỏ cho thấy 
về mặt vi thể lớp lót là biểu mô hô hấp trụ có lông, 
tuyến và cơ trơn. Trên cơ sở những dấu hiệu mô 
học này, khối choán chỗ được nhận diện là nang 
phế quản. 
SUMMARY 
BRONCHOGENIC CYST IN THE ANTERIOR 
MEDIASTINUM A CASE SETIES REPORT 
Cystic lesions of the lung have been reported 
since the 17th century, but the first report in the 
American literature of a mediastinal bronchogenic 
cyst was by Mixter and Clifford in 1929. 
 Since this first report, several series have 
demonstrated that bronchogenic cyst are the most 
common mediastinal cyst, accounting for about 
60% of the mediastinal masses and usually 
detected in adults. Most commonly, bronchial 
cyst located in the carina. Bronchial cysts are rare 
in antreior mediastinal. Typically, bronchial cysts 
have no symptoms, but when a large follicle size 
or infection usually create symptoms. 
Treated by complete surgical removal of 
cysts with surgical methods are defined by the 
location of the cyst. 
We report two cases with anterior 
mediastinal bronchogenic cyst was diagnosed and 
treated at C Hospital Da Nang. 
Surgery is the treatment of choice. 
Analysis of histological specimens were 
removed showed microscopic surface lining of the 
respiratory epithelium head feathers, glands and 
smooth muscle. On the basis of histological signs of 
this, a mass is identified bronchogenic cysts.* 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Nang phế quản là nang trung thất phổ biến 
nhất, chiếm khoảng 60% tất cả các nang của trung 
thất. Do nang phế quản có nguồn gốc từ sự bất 
thường trong sự phát triển của phổi vì thế nang phế 
quản có thể nằm ở bất kỳ nơi đâu theo tiến trình 
phát triển của phổi. Nang phế quản có thể phát 
triển ở phổi hoặc trung thất. Khi nang phế quản 
phát triển trong trung thất thì vị trí phổ biến nhất là 
khu vực dưới chỗ chia đôi khí quản. Tuy nhiên, 
nang phế quản có thể ở bất kỳ nơi đâu trên cơ thể 
và đã có báo cáo có liên quan đến thực quản, màng 
ngoài tim hoặc xương ức, nang phế quản có thể có 
hình quả tạ và ở hai bên của cơ hoành, nang phế 
* Bệnh viện C Đà Nẵng 
Người chịu trách nhiệm khoa học: TS. Võ Đắc Truyền 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
NANG PHẾ QUẢN Ở TRUNG THẤT TRƯỚC BÁO CÁO LOẠT TRƯỜNG HỢP 
 95 
quản ở trung thất trước  Như đã nói ở trên, nang 
phế quản là nang trung thất thường gặp nhất nhưng 
nó chỉ chiếm khoảng 5% của tất cả khối choán chỗ 
trung thất. 
Phần lớn nang phế quản được phát hiện tình 
cờ không có triệu chứng. Những triệu chứng của 
nang phế quản trung thất thông thường là kết quả 
của sự chèn ép các cấu trúc lân cận hoặc nhiễm 
trùng trong nang. Khi những triệu chứng được 
gây ra bởi sự chèn ép thì triệu chứng đặc hiệu 
thay đổi tuỳ theo cấu trúc nào đã bị chèn ép. Nếu 
nang trở nên nhiễm trùng thì điều đó được xem 
như là xuất hiện một đường dò kín đáo với cây 
phế quản và hình thái khác nhau của triệu chứng 
được tìm thấy. Một nang phế quản nhiễm trùng 
có thể gây ra tình trạng mệt mỏi, đau ngực hoặc 
sốt với tăng hoặc không tăng bạch cầu. Nhiều 
bệnh nhân cũng có thể ho ra các chất từ trong 
nang nếu có sự thông thương đủ lớn với cây phế 
quản. Khám thực thể thì thường không phát hiện 
được gì. Sốt hoặc nhịp tim nhanh có thể biểu hiện 
nếu nang bị nhiễm trùng và đôi khi tiếng thở khò 
khè theo tư thế có thể được nghe thấy. 
Phương tiện tốt nhất để chẩn đoán nang phế 
quản là CT-scan ngực. CT-scan rất hữu ích trong 
việc xác định chính xác vị trí của u. Nang thường 
đồng nhất và tỉ trọng trong khoảng phù hợp với 
dịch (từ 0-20 đơn vị Hounsfield). 
Về bệnh học nang phế quản điển hình là một 
thương tổn tròn, trơn láng. Nếu như không có sự 
nhiễm trùng thì có thể bóc nang ra khỏi vị trí trung 
thất một cách dễ dàng. Thông thường chất chứa 
trong nang là dịch loãng và trong, nhưng cũng có 
thể màu vàng, trắng hoặc là sền sệt. Về đại thể, mặt 
trong của nang có thể là hốc hoặc kết bè. Về mặt vi 
thể lớp lót có thể là biểu mô hô hấp trụ có lông, biểu 
mô tế bào gai hoặc một dạng phẳng của biểu mô. 
Tuyến có thể hiện diện. Hiếm khi sụn, cơ trơn hoặc 
mô xơ hiện diện. 
Thủ thuật cắt bỏ đi nang phế quản đơn giản 
thì tương đối dễ với trạng thái bệnh tật tối thiểu 
cho bệnh nhân. Với sự ra đời của kỹ thuật phẫu 
thuật lồng ngực với sự hỗ trợ của video (VATS) 
thì một nang đơn giản có thể được cắt bỏ. Tuy 
nhiên, đợi cho đến khi nang trở nên có triệu 
chứng hoặc nhiễm trùng sẽ làm cho thủ thuật 
ngoại khoa khó khăn hơn cho cả phẫu thuật viên 
và bệnh nhân. Vì vậy, trừ phi có một nguyên 
nhân nội khoa bắt buộc không được phẫu thuật 
còn hầu hết các nang này nên được cắt bỏ. Một 
nguy cơ khác khi quan sát nang phế quản là nó có 
thể chứa đựng mô ác tính. Bennheim đã mô tả 
một sarcom cơ trơn xuất phát từ nang phế quản 
và Bauer đã báo cáo một sarcom hiện diện trong 
nang phế quản. 
Nang này thì thường thường được tiếp cận 
thông qua ngả ngực phải với hoặc là VATS hoặc 
là mở ngực nhỏ. Tất nhiên, vị trí của nang được 
xác định trên CT thì quyết định đường rạch được 
sử dụng. Cắt bỏ hoàn toàn là mục tiêu và nang 
nên lấy nguyên vẹn nếu có thể được. Nếu nang 
nhiễm trùng và dính chặc vào những cấu trúc 
sống còn thì nang có thể mở ra và tối thiểu lớp lót 
phải được lấy bỏ. Khi những mục tiêu này đạt 
được thì kết quả rất tuyệt vời. Sự tái phát thì cực 
kỳ hiếm và những triệu chứng của bệnh nhân thì 
giảm đi. 
II. GIỚI THIỆU BỆNH ÁN 
2.1. Bệnh án 1 
Bệnh nhân: VÕ VĂN T 24 tuổi, Nam 
Ðịa chỉ: Thôn Hoà Bình, xã Tân Ninh, 
Huyện Quảng Ninh, Quảng Bình 
Ngày vào viện: ngày 30.3.2010 
Ngày ra viện: 19/4/2010. 
Số vào viện: 2880 Mã số: 539699 
Lý do vào viện: Đau ngực, ho ra máu, sốt. 
Tiền sử: Không mắc bệnh gì đặc biệt. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 96 
Bệnh sử: 
Khởi bệnh một tháng với ho, đau ngực, sốt. 
Bệnh nhân tự điều trị kháng sinh nhưng không 
đở, chụp phim phổi thấy u nên xin nhập viện. 
Khám: Mạch 80l/ph, huyết áp 120/80 
mmHg, nhiệt độ 380C, đau ngực, ho ra máu, sốt, 
tổng trạng chung khá, bụng mềm, gan, lách không 
sờ chạm. Hạch ngoại biên không sờ chạm. 
Cận lâm sàng: 
Phim CT-scan ngực hiện diện khối choán 
chỗ dạng nang ở hai bên trung thất trước, thành 
dày, tăng quang, bờ đều, ranh giới xung quanh 
không rõ. Kích thước nang bên phải khoảng 6,6 x 
5,5 cm, kích thước nang bên trái khoảng 3 x 5 
cm, dịch trong nang có tỉ trọng 11-16HU, không 
vôi hoá, thành dày tăng quang sau khi tiêm thuốc 
cản quang. 
Công thức máu, sinh hoá máu, chức năng 
đông máu, điện tim, siêu âm tim, siêu âm bụng, 
chức năng hô hấp, nội soi phế quản và các xét 
nghiệm khác trong giới hạn bình thường. 
Chẩn đoán trước mổ: U trung thất trước. Bệnh nhân được mổ ngày 06.4.2010 
1. Hình 1: Trên phim X-quang ngực thường quy nhìn thấy u lớn, lấn sang khoang màng phổi P, nằm 
2 bên đường giữa. 
2. Hình 2: Trên phim CT-scan lồng ngực không có thuốc cản quang nhìn thấy u nằm ở trung thất 
trước, tỉ trọng dịch, vỏ dày. 
3. Hình 3: Trên phim CT-scan lồng ngực có thuốc cản quang nhìn thấy u hình quả tạ ở trung thất 
trước, nằm 2 bên đường giữa 6,60cm x 5,55cm và 5,26cm, 3,69cm, u có vỏ dày, tăng quang sau 
tiêm thuốc cản quang, kèm theo hình ảnh thủng vào phổi phải (đầu mũi tên đỏ). 
4. Toàn bộ u được lấy bỏ. 
5. U có vỏ dày, mặt trong u có những nốt mô mềm, dịch đặc, lợn cợn do nhiễm trùng trong nang. 
6. Hình ảnh vi thể nang phế quản nhìn thấy biểu mô hô hấp, tuyến và cơ trơn. 
NANG PHẾ QUẢN Ở TRUNG THẤT TRƯỚC BÁO CÁO LOẠT TRƯỜNG HỢP 
 97 
Tường trình phẫu thuật: 
Mở toàn bộ xương ức đường giữa, vào ngực 
thấy toàn bộ u và màng tim dính làm một khối 
không thể phân biệt được ranh giới. Toàn bộ nang 
phía bên trái dính chặc vào màng tim và các tổ chức 
xung quanh, mặt dưới nang hoà với màng tim làm 
một không thể tách riêng ra được, phải cắt nang và 
để lại vỏ nang dính sát vào màng tim. Về phía trên, 
nang gần sát với tĩnh mạch không tên, cẩn thận tách 
nang ra khỏi tĩnh mạch không tên. Phía bên phải, 
nang ít dính hơn tách ra khỏi các tổ chức xung 
quanh dễ hơn, tuy nhiên toàn bộ màng phổi trung 
thất bên phải dính chặc vào nang, sau khi cắt nang 
hoàn toàn không còn thấy màng phổi bên phải. Đặc 
biệt nang thông thương với thùy giữa phổi phải, 
kênh thông thương kích thước bằng ngón tay cái. 
Phần thùy giữa phổi phải viêm cứng, ổ ápxe nhiều 
dịch nhầy đục chảy ra. Tiến hành cắt không điển 
hình phần phổi bị viêm ở thùy giữa bằng máy GIA 
75mm, kiểm tra không xì khí, không chảy máu. 
Rửa sạch khoang màng phổi phải, hút sạch. 
Dẫn lưu dưới xương ức, dẫn lưu kín khoang màng 
phổi hai bên qua khoang liên sườn 5 đường nách 
giữa. Đóng xương ức bằng chỉ thép 5 mũi. 
Diển biến lâm sàng sau mổ tốt, bệnh nhân 
tự thở, không chảy máu, các ống dẫn lưu hoạt 
động tốt, dẫn lưu bên trái rút sau 24h, bên phải và 
dưới xương ức rút sau 48h. Vết mổ khô tốt cắt chỉ 
sau 10 ngày. 
Diển biến lâm sàng sau mổ tốt, bệnh nhân 
tự thở, không chảy máu, các ống dẫn lưu hoạt 
động tốt, dẫn lưu bên trái rút sau 24h, bên phải và 
dưới xương ức rút sau 48h. Vết mổ khô tốt cắt chỉ 
sau 10 ngày. 
2.2. Bệnh án 2 
Bệnh nhân: Đồng văn N, Nam, 22 Tuổi, 
Nghề nghiệp: Sinh viên 
Địa chỉ: Thôn Sơn Thọ, xã Sơn Thành, 
Huyện Tây Hóa, tỉnh Phú yên. 
Cơ quan: Đại học thể dục thể thao Đà Nẵng. 
Cha ruột: Đồng văn Đào, Di động: 
0977163969 
Ngày vào viện: ngày 14.8.2017 
Ngày ra viện: 
Số vào viện: 15262/17 Mã số: 17014505 
Lý do vào viện: ho, cảm giác mệt ngực. 
Tiền sử: Không mắc bệnh gì đặc biệt. 
Phim CT-scan ngực: Chụp ngày 29.8.17. 
Chẩn đoán: Hình ảnh khối tổn thương tỉ trọng mô 
mềm khoảng 40HU vùng trung thất bên phải, bờ 
đều, giới hạn khá rõ, KT khoảng 5.5x6x5cm. 
Chức năng hô hấp: Bình thường 
Điện tim, siêu âm tim: Bình thường 
Các xét nghiệm cơ bản trong giới hạn 
bình thường. 
Nội soi phế quản: 
Hạ họng bình thường. Thanh quản: Hai dây 
thanh trắng bóng khép mở tốt. Khí quản thông 
thoáng, không thâm nhiễm, có đàm đặc. Phế quản 
trái và phải, các lỗ phế quản thông thoáng không u 
sùi, niêm mạc hồng bóng. 
Lấy dịch làm GPB, cấy nấm, vi khuẩn. 
Kết luận: Không thấy u sùi trong lòng phế 
quản trung tâm, đàm đặc khí phế quản. 
Mổ ngày 30.8.2017. Tường trình phẫu thuật: 
Mở ngực đường trước bên qua khoang liên 
sườn 5 bên phải, vào ngực thấy u nằm ở trung 
thất trước, sát tĩnh mạch chủ trên, ranh giới xung 
quang rõ, tiến hành mở màng phổi trung thất, 
phẫu tích lấy trọn nang gởi gpbl. Cầm máu kỹ, 
đặt dẫn lưu ngực, đóng ngực. Diển biến lâm sàng 
sau mổ tốt, bệnh nhân tự thở, không chảy máu, 
dẫn lưu hoạt động tốt. Vết mổ khô tốt cắt chỉ sau 
7 ngày, ra viện ngày 14. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 98 
1. Hình 1: Trên phim X-quang ngực thường quy nhìn thấy nang tròn, trơn láng, giới hạn tương đối rõ, nằm 
lệch hoàn toàn sang phải. 
2. Hình 2: Trên phim CT-scan lồng ngực không có thuốc cản quang nhìn thấy u nằm ở trung thất trước, tỉ 
trọng dịch, vỏ dày. 
3. Hình 3: Trên phim CT-scan lồng ngực có thuốc cản quang nhìn thấy u hình quả tạ ở trung thất trước, nằm 
2 bên đường giữa 6,60cm x 5,55cm và 5,26cm, 3,69cm, u có vỏ dày, tăng quang sau tiêm thuốc cản 
quang, kèm theo hình ảnh thủng vào phổi phải (đầu mũi tên đỏ). 
4. Toàn bộ u được lấy bỏ. 
5. U có vỏ dày, mặt trong u có những nốt mô mềm, dịch đặc, lợn cợn do nhiễm trùng trong nang. 
6. Hình ảnh vi thể nang phế quản nhìn thấy biểu mô hô hấp, tuyến và cơ trơn 
Kết quả GPB: P17-953 
Thấy nhiều lớp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển tăng sinh nhẹ lan tỏa, mô đệm xung huyết xơ 
hóa, xen lẫn một số tế bào cơ trơn ít tế bào xơ. 
Không thấy ác tính ở mẩu này. 
Chẩn đoán: Nang phế quản lành tính. 
III. BÀN LUẬN 
3.1.Vị trí 
Nang phế quản là nang trung thất phổ biến 
nhất. Do nang phế quản có nguồn gốc từ sự bất 
thường trong sự phát triển của phổi vì thế nang 
này có thể nằm ở bất kỳ nơi đâu theo tiến trình 
phát triển của phổi. Khi nang phế quản phát 
triển trong trung thất thì vị trí phổ biến nhất là 
khu vực dưới chỗ chia đôi khí quản. Tuy nhiên, 
nang phế quản có thể xảy ra ở bất kỳ nơi đâu 
trên cơ thể và đã có báo cáo có liên quan đến 
thực quản, màng ngoài tim hoặc xương ức. 
Nang phế quản có thể có hình quả tạ và ở hai 
bên của cơ hoành. Trong báo cáo của chúng tôi, 
nang phế quản nằm ở trung thất trước, đây là vị 
trí hiếm gặp. 
3.2.Tuổi 
Nang phế quản thường gặp ở người trẻ, bệnh 
hiếm gặp ở người trên 50 tuổi. Bệnh nhân của 
chúng tôi 24t phù hợp với những nghiên cứu khác. 
3.3. Triệu chứng lâm sàng 
Nhiều tác giả đã báo cáo rằng nang phế quản 
thường không có triệu chứng. Fontenelle 1971, 
chứng minh rằng 78% nang phế quản được phát 
hiện một cách tình cờ ở những bệnh nhân trẻ trong 
quân đội được sàng lọc bằng phim X-quang ngực. 
NANG PHẾ QUẢN Ở TRUNG THẤT TRƯỚC BÁO CÁO LOẠT TRƯỜNG HỢP 
 99 
Những báo cáo khác thì ngược lại với phát hiện 
này. Trong lô nghiên cứu của Lorenzo thì chỉ có 7 
trong số 26 bệnh nhân chiếm tỉ lệ gần 30% là không 
có triệu chứng. Trong lô nghiên cứu gần đây của 
mẩu dân số đủ mọi lứa tuổi thì 75% bệnh nhân biểu 
hiện có triệu chứng. Những triệu chứng của một 
nang phế quản trung thất thông thường là kết quả của 
sự chèn ép các cấu trúc lân cận hoặc nhiễm trùng 
trong nang. 
Bệnh nhân của chúng tôi vào viện vì ho, sốt, 
ho ra máu, đau ngực, những triệu chứng này chứng 
tỏ nang phế quản đã nhiễm trùng và có sự thông 
thương với cây phế quản, điều này phù hợp với các 
nghiên cứu khác. 
3.4. Điều trị 
 Hầu hết các tác giả đều cho rằng nang phế 
quản cần phải được phẫu thuật cắt bỏ, trừ trường 
hợp bệnh nhân có bệnh lý nội khoa nặng không thể 
mổ được. Quan điểm này xuất phát từ những 
nguyên nhân sau đây: 
1. Phẫu thuật lấy bỏ nang phế quản giai đoạn 
sớm khi nang còn nhỏ, chưa có triệu chứng là phẫu 
thuật đơn giản, ít biến chứng, đặc biệt với phương 
pháp phẫu thuật nội soi lồng ngực. 
2. Nếu nang phế quản nhiễm trùng thì phẫu 
thuật cắt bỏ nang trở nên khó khăn hơn rất nhiều và 
nhiều biến chứng vì nang dính chặc vào các tổ chức 
xung quanh. 
3. Một nguy cơ khác đã được báo cáo là 
khả năng thoái hóa ác tính trong nang phế quản. 
Đường mổ thường được lựa chọn là mở 
ngực đường bên. Tuy nhiên, đường mổ được 
quyết định bởi vị trí của nang phế quản trên 
phim CT-scan ngực. 
Bệnh nhân của chúng tôi vào viện vì ho, sốt, 
ho ra máu, đau ngực và khi phẫu thuật, chúng tôi 
nhận thấy nang dính chặc vào màng tim, thủng 
vào thùy giữa phổi phải như vậy nang đã bị 
nhiễm trùng do thông thương với cây phế quản. 
Phẫu thuật rất khó khăn. Chúng tôi mở xương 
ức đường giữa vì nang nằm hai bên đường giữa. 
Phương pháp điều trị của chúng tôi phù hợp với 
Y văn và các tác giả khác. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Alpay Sarper, MD, Arife Ayten, MD, Ilhan 
Golbasi, MD,Abid Demircan, MD,Erol Isin, MD.” 
Bronchogenic cyst”,Tex Heart Inst J 2003;30:105-8. 
2. H.Page McAdam et al. “Bronchogenic 
cyst: Imaging Features with clinical and 
histopathologic correlation”, Radiology 2000; 217; 
441-446. 
3. St-Georges R, Deslauriers J, Duranceau A, et 
al. Clinical spectrum of bronchogenic cysts of the 
mediastinum and lung in the adult. Ann Thorac Surg 
1991; 52:6–13. 
4. Suen HC, Mathisen DJ, Grillo HC, et al. 
Surgical management and radiological 
characteristics of bronchogenic cysts. Ann Thorac 
Surg 1993; 55:476–481. 
5. Ribet ME, Copin MC, Gosselin B. 
Bronchogenic cysts of the mediastinum. J Thorac 
Cardiovasc Surg 1995; 109:1003– 1010. 
6. Glazer HS, Siegel MJ, Sagel SS. Low-
attenuation mediastinal masses on CT. AJR Am J 
Roentgenol 1989; 152:1173–1177. 
7. Nakata H, Sato Y, Nakayama T, 
Yoshimatsu H, Kobayashi T. Bronchogenic cyst 
with high CT number: analysis of contents (case 
report). J Comput Assist Tomogr 1986; 10:360. 
8. Patel SR, Meeker DP, Biscotti CV, Kirby 
TJ, Rice TW. resentation and management of 
bronchogenic cysts in the adult. Chest 1994; 
106:79–85. 
9. Cioffi U, Bonavina L, De Simone M, et al. 
Presentation and surgical management of 
bronchogenic and esophageal duplication cysts in 
adults. Chest 1998; 113: 1492–1496. 

File đính kèm:

  • pdfnang_phe_quan_o_trung_that_truoc_bao_cao_loat_truong_hop.pdf