Mức độ điều chỉnh tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mang hậu môn nhân tạo

Mục tiêu: Hậu môn nhân tạo (HMNT) ngày càng phổ biến và là phương pháp cứu sống bệnh nhân mắc các

bệnh nặng đường tiêu hóa, ví dụ ung thư. Việc mang HMNT có thể ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý. Tuy nhiên,

hiện có rất ít các nghiên cứu khảo sát mức độ điều chỉnh tâm lý ở bệnh nhân mang HMNT. Nghiên cứu này

nhằm khảo sát mức độ điều chỉnh tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mang HMNT.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 275 bệnh nhân

mang HMNT tại bệnh viện Đại học Y Dược Tp.HCM và bệnh viện Chợ Rẫy. Bệnh nhân được phỏng vấn bằng

bộ câu hỏi Ostomy Adjustment Inventory (OAI) đã thể hiện phù hợp ngôn ngữ và có tính tin cậy cao thông qua

nghiên cứu thử.

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Mức độ điều chỉnh tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mang hậu môn nhân tạo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mức độ điều chỉnh tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mang hậu môn nhân tạo

Mức độ điều chỉnh tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mang hậu môn nhân tạo
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 121 
MỨC ĐỘ ĐIỀU CHỈNH TÂM LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Ở BỆNH NHÂN MANG HẬU MÔN NHÂN TẠO 
Thái Thanh Trúc*, Lai Phú Chi*, Vũ Thị Thu Thủy** 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Hậu môn nhân tạo (HMNT) ngày càng phổ biến và là phương pháp cứu sống bệnh nhân mắc các 
bệnh nặng đường tiêu hóa, ví dụ ung thư. Việc mang HMNT có thể ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý. Tuy nhiên, 
hiện có rất ít các nghiên cứu khảo sát mức độ điều chỉnh tâm lý ở bệnh nhân mang HMNT. Nghiên cứu này 
nhằm khảo sát mức độ điều chỉnh tâm lý và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mang HMNT. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 275 bệnh nhân 
mang HMNT tại bệnh viện Đại học Y Dược Tp.HCM và bệnh viện Chợ Rẫy. Bệnh nhân được phỏng vấn bằng 
bộ câu hỏi Ostomy Adjustment Inventory (OAI) đã thể hiện phù hợp ngôn ngữ và có tính tin cậy cao thông qua 
nghiên cứu thử. 
Kết quả: Gần 2/3 số bệnh nhân là nam; tuổi trung bình là 57,3 ± 14,6 tuổi. Có 20% bệnh nhân mang 
HMNT vĩnh viễn và 80% mang HMNT tạm thời. Chỉ 1 / 3 số bệnh nhân tự chăm sóc HMNT. Điểm số thể hiện 
mức độ điều chỉnh tâm lý là 43,9 ± 6,7. Nam giới và bệnh nhân có sự hỗ trợ của người khác hoàn toàn trong 
chăm sóc HMNT có mức độ điều chỉnh tâm lý tốt hơn. 
Kết luận: Bệnh nhân mang HMNT có khả năng điều chỉnh tâm lý ở mức trung bình. Kết quả cho thấy cần 
có các chương trình hỗ trợ người mang HMNT để bệnh nhân ổn định tâm lý, nâng cao sức khỏe tâm thần. Điều 
này có thể giúp bệnh nhân có được điều trị tốt nhất và chất lượng cuộc sống cao hơn. 
Từ khóa: hậu môn nhân tạo, điều chỉnh tâm lý, yếu tố liên quan 
ABSTRACT 
PSYCHOLOGICAL ADJUSTMENT AND RELATED FACTORS IN PATIENTS WITH OSTOMY 
Thai Thanh Truc, Lai Phu Chi, Vu Thi Thu Thuy 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 121 - 127 
Objectives: Ostomy has become a common technique and is a life-saving method for patients with severe 
colorectal diseases such as colorectal cancer. Patients with ostomy can have psychological disorders. However, 
study investigating psychological adjustment in this population is scarced. Our study was to estimate the level of 
psychological adjustment and its correlates in patients with ostomy. 
Methods: A cross-sectional study was conducted in 275 patients with ostomy at University Medical Center 
and Cho Ray Hospital. Patients were interviewed using the Ostomy Adjustment Inventory (OAI) which had 
language compatible to Vietnamese and high level of reliability through our pilot study. 
Results: Nearly two thirds of patients were male; average age was 57.3 ± 14.6 years old. About 20% of 
patients had permanent ostomy and 80% had temporary ostomy. Only one third of patients could take care of 
their own ostomy. The score of psychological adjustment was 43.9 ± 6.7. Male patients who had all support from 
others to take care of the ostomy had higher level of psychological adjustment. 
Conclusion: Patients with ostomy had moderate level of psychological adjustment. The results indicated a 
need for supporting programs for patients with ostomy so that patients can have better mental health. This can 
help patients to have optimal treatment and quality of life. 
*Khoa Y tế Công Cộng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh **BV Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: TS. Thái Thanh Trúc ĐT: 0908381266 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 122 
Keywords: ostomy, psychological adjustment, related factors 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Hiện nay, hậu môn nhân tạo (HMNT) ngày 
càng phổ biến và là phương pháp cứu sống bệnh 
nhân mắc các bệnh nặng đường tiêu hóa như 
ung thư đại trực tràng giai đoạn trễ không còn 
khả năng cắt bỏ(1), viêm loét đại tràng, bệnh 
Crohn, bệnh đa polyp đại trực tràng(2), chấn 
thương, dị tật bẩm sinh, tắc ruột(3). Trong đó ung 
thư đại trực tràng và bệnh viêm ruột là nguyên 
nhân thường gặp nhất dẫn đến bệnh nhân mang 
HMNT(4). Ung thư đại trực tràng là một trong 
bốn loại ung thư đứng đầu thế giới hiện nay với 
ước tính 1.849.600 ca mắc mới trên toàn thế giới 
vào năm 2018. Gần 80% số ca mắc mới và tử 
vong do ung thư đại trực tràng tập trung chủ 
yếu ở Châu Á và Châu Âu(5). Tại Việt Nam, năm 
2018 ước tính có khoảng 14.733 ca mắc mới và 
7.856 ca tử vong do ung thư đại trực tràng(6). Sự 
gia tăng nhanh chóng của các bệnh ung thư đại 
trực tràng, các bệnh đường ruột kèm theo tỷ lệ 
sống sót sau 5 năm của bệnh nhân ung thư ngày 
càng cao dẫn đến hệ quả đó là bệnh nhân mang 
HMNT ngày càng gia tăng. 
Hậu môn nhân tạo là lỗ mở chủ động ở đại 
tràng hoặc hồi tràng ra da để đưa toàn bộ phân 
ra ngoài thay thế hậu môn thật. Người bệnh có 
thể mang HMNT tạm thời từ vài tuần đến vài 
tháng sau đó đóng lại nhưng cũng có những 
bệnh nhân phải mang HMNT vĩnh viễn suốt 
đời. Do đó, khi một bệnh nhân mang HMNT sẽ 
gặp nhiều rắc rối như sự thay đổi về ngoại hình, 
thoát khí, mùi không kiểm soát và cách chăm 
sóc, rối loạn chức năng tình dục và các hoạt 
động xã hội. Những sự thay đổi đó có thể làm 
cho họ cảm thấy tự ti, mặc cảm, xa lánh với mọi 
người, tự cô lập bản thân và chất lượng cuộc 
sống của bệnh nhân bị giảm sút, ảnh hưởng tới 
chức năng nghề nghiệp, các hoạt động xã hội. 
Các hậu quả này đặc biệt nghiêm trọng nếu như 
bệnh nhân không có khả năng điều chỉnh tâm lý 
phù hợp. 
Điều này có nghĩa là mặc dù bệnh nhân đã 
phục hồi về thể chất nhưng sự cải thiện về tâm 
lý dường như không được quan tâm. Những 
vấn đề tâm lý được chứng minh thường gặp 
phải ở trên bệnh nhân mang HMNT là 36% bệnh 
nhân có căng thẳng, 44% bệnh nhân cảm thấy 
tức giận và phát cấu tăng lên kể từ khi phẫu 
thuật và 10% cần tư vấn tâm thần. Ngoài ra, kể 
từ khi phẫu thuật tạo HMNT có 36,1% bệnh 
nhân sợ hãi trước phản ứng của xã hội và 94,4% 
các hoạt động xã hội giảm đáng kể. Bên cạnh đó, 
có 27,1% bệnh nhân xác nhận rằng phẫu thuật 
tạo HMNT can thiệp vào đời sống tình dục và 
hôn nhân của họ. 
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này 
với mục mục tiêu khảo sát mức độ điều chỉnh 
tâm lý của bệnh nhân mang HMNT và xác định 
các yếu tố có liên quan đến mức độ điều chỉnh 
tâm lý của bệnh nhân. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Tất cả những bệnh nhân trên 18 tuổi đến 
khám tại tại bệnh viện Đại học Y Dược thành 
phố Hồ Chí Minh và bệnh viện Chợ Rẫy từ 
01/2019 đến 06/2019. 
Tiêu chuẩn chọn 
Bệnh nhân (BN) trên 18 tuổi. 
Đã được phẫu thuật làm hậu môn nhân tạo 
trên 1 tháng. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Những bệnh nhân có các vấn để ảnh hưởng 
đến việc trả lời phỏng vấn như sức khỏe quá 
yếu, không thể giao tiếp bằng tiếng Việt, có các 
vấn đề sức khỏe tâm thần. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 
Cỡ mẫu 
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, chúng 
tôi chọn được tổng cộng 275 bệnh nhân thỏa tiêu 
chí, trong đó 165 bệnh nhân từ bệnh viện Đại 
học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và 110 bệnh nhân 
từ bệnh viện Chợ Rẫy. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 123 
Kỹ thuật chọn mẫu 
Chọn mẫu thuận tiện, trong đó nghiên cứu 
viên có mặt tại phòng khám ngoại khoa tiêu hóa 
và khoa ngoại tiêu hóa để tuyển bệnh nhân theo 
tuần tự. Sau khi được giải thích về nghiên cứu 
và đồng ý tham gia nghiên cứu bằng cách ký tên 
vào bảng đồng thuận thì nghiên cứu viên phỏng 
vấn trực tiếp bệnh nhân để điền vào bộ câu hỏi 
soạn sẵn. Thông tin của bệnh nhân về việc điều 
trị cũng được xin phép trích xuất từ bệnh án 
điều trị để đưa vào nghiên cứu. 
Công cụ thu thập số liệu 
Bộ câu hỏi dùng để phỏng vấn trực tiếp bao 
gồm các thông tin về đặc điểm dân số xã hội, về 
bệnh lý và thang đo đánh giá mức độ điều chỉnh 
tâm lý. Thang đo Ostomy Adjustment Inventory 
được Simmons phát triển để khảo sát mức độ 
điều chỉnh tâm lý của bệnh nhân mang hậu môn 
nhân tạo(7). Thang đo này đã được dịch và 
chuẩn hóa ra nhiều ngôn ngữ và được dùng 
trong nhiều nghiên cứu khác tương tự trên thế 
giới. Thang đo gồm 23 câu nhưng trong quá 
trình đánh giá tính tin cậy và tính giá trị của 
thang đo thì giá trị của các câu 16, 18, 22 bị triệt 
tiêu. Do đó, thang đo gồm 20 câu và đánh giá 4 
khía cạnh của việc điều chỉnh tâm lý bao gồm sự 
chấp nhận, sự lo lắng, hòa nhập xã hội và sự 
giận dữ. Điểm chung của thang đo là điểm tổng 
của các câu sau khi đã nghịch đảo các câu 1, 3, 4, 
6, 9, 14, 15, 17 và 20. Điểm OAI cao hơn thể hiện 
mức độ điều chỉnh tâm lý tốt hơn. 
Trong nghiên cứu này thang đo OAI được 
dịch sang Tiếng Việt bởi các chuyên gia có kinh 
nghiệm làm việc và nghiên cứu về HMNT tại 
bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Sau 
đó thang đo được dịch lại sang Tiếng Anh bởi 
hai chuyên gia độc lập. Cuối cùng thang đo 
được so sánh với phiên bản gốc để đánh giá sự 
khác biệt trong chuyển ngữ. Trước khi tiến hành 
nghiên cứu chính trên bệnh nhân mang HMNT 
tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
và bệnh viện Chợ Rẫy, nhóm nghiên cứu đã tiến 
hành nghiên cứu thử. Kết quả nghiên cứu thử 
cho thấy thang đo phù hợp về ngữ nghĩa và có 
độ tin cậy cao. 
Phân tích số liệu 
Chúng tôi sử dụng tần số và tỉ lệ phần trăm 
để mô tả các đặc điểm của bệnh nhân như đặc 
điểm dân số xã hội, đặc điểm bệnh lý. 
Trung bình và độ lệch chuẩn dùng để mô tả 
điểm số của thang đo OAI và các thành phần. 
Để khảo sát mức độ điều chỉnh tâm lý theo 
các đặc điểm của bệnh nhân thì chúng tôi sử 
dụng phép kiểm t hoặc phép kiểm ANOVA. 
Giá trị p <0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. 
Tất cả các kỹ thuật thống kê được thực hiện 
trên phần mềm Stata phiên bản 15. 
Y đức 
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng 
Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh số: 146/ĐHYD-HĐĐĐ 
ngày 02/4/2019. 
KẾT QUẢ 
Trong tổng số 275 bệnh nhân tham gia vào 
nghiên cứu thì tuổi trung bình là 57,3 ± 14,6 tuổi, 
trong đó bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 22 tuổi và 
lớn tuổi nhất là 90 tuổi. Gần 2/3 số bệnh nhân là 
nam giới; hầu hết là dân tộc kinh (94,9%). Đa số 
bệnh nhân không theo một tôn giáo nào (73,1%), 
đã kết hôn (62,2%), có trình độ học vấn cấp 2 
hoặc 3 (58,9%) (Bảng 1). 
Bảng 1 cũng cho thấy đặc điểm sức khỏe và 
bệnh lý của bệnh nhân tham gia nghiên cứu. 
Gần 1/3 bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể ở mức 
thiếu cân và gầy. Gần 3/4 bệnh nhân được làm 
hậu môn nhân tạo từ vị trí đại tràng. Về phân 
loại hậu môn nhân tạo thì có khoảng 20% số 
bệnh nhân mang hậu môn nhân tạo vĩnh viễn 
(suốt đời) và chỉ có hơn 30% có thể tự chăm 
sóc hậu môn nhân tạo trong khi phần lớn vẫn 
phải có sự hỗ trợ từ người khác trong chăm sóc 
hậu môn nhân tạo. Hầu hết bệnh nhân nhận 
được hỗ trợ từ nhân viên y tế (89,8%) hoặc 
người thân (90,9%). 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 124 
Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân mang hậu môn nhân 
tạo tham gia vào nghiên cứu 
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ % 
Phân nhóm tuổi (năm) 
<40 35 12,7 
40-49 40 14,5 
50-59 70 25,5 
60-69 76 27,6 
70+ 54 19,6 
Giới 
Nam 174 63,3 
Nữ 101 36,7 
Dân tộc 
Kinh 261 94,9 
Khác 14 5,1 
Tôn giáo 
Có 74 26,9 
Không 201 73,1 
Tình trạng hôn nhân 
Độc thân 20 7,3 
Đã kết hôn 171 62,2 
Ly dị, ly thân, góa 84 30,5 
Trình độ học vấn 
≤Cấp 1 53 19,3 
Cấp 2 - 3 162 58,9 
>Cấp 3 60 21,8 
Tình trạng kinh tế 
Không hài lòng 27 9,8 
Bình thường 202 73,5 
Hài lòng 46 16,7 
Phân nhóm chỉ số khối cơ thể 
Thiếu cân/gầy 85 30,9 
Bình thường 143 52,0 
Thừa cân / béo phì 47 17,1 
Vị trí hậu môn nhân tạo 
Đại tràng 196 71,3 
Hồi tràng 79 28,7 
Loại hậu môn nhân tạo 
Vĩnh viễn 55 20,0 
Tạm thời 220 80,0 
Thời gian sống cùng hậu môn nhân tạo (tháng) 
>1 - 3 121 44,0 
>3 - 6 65 23,6 
>6 - 9 38 13,8 
>9 51 18,5 
Người chăm sóc hậu môn nhân tạo 
Bản thân 93 33,8 
Người khác 44 16,0 
Cả hai 138 50,2 
Được hỗ trợ từ người thân 
Có 250 90,9 
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ % 
Không 25 9,1 
Được hỗ trợ từ nhân viên y tế 
Có 247 89,8 
Không 28 10,2 
Biến chứng hậu môn nhân tạo 
Có 55 20,0 
Không 220 80,0 
Bệnh khác đi kèm 
Có 138 50,2 
Không 137 49,8 
Bảng 2 thể hiện điểm số trung bình của 
thang đo OAI thể hiện mức độ điều chỉnh tâm 
lý của bệnh nhân mang hậu môn nhân tạo 
tham gia vào nghiên cứu. Kết quả cho thấy 
điểm trung bình chung của thang đo là 
43,9±6,7 điểm trên ngưỡng lý thuyết có thể có 
của điểm số này là 0–80 điểm. 
Bảng 2: Mức độ điều chỉnh tâm lý ở bệnh nhân mang 
hậu môn nhân tạo 
Đặc điểm Trung bình Độ lệch chuẩn 
Chấp nhận 21,2 4,1 
Lo lắng 10,3 2,3 
Hòa nhập 7,6 2,2 
Giận dữ 4,7 1,4 
Điều chỉnh về tâm lý 43,9 6,7 
Trong số các yếu tố dân số xã hội thì chỉ có 
giới có liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ 
điều chỉnh tâm lý của bệnh nhân mang hậu môn 
nhân tạo trong đó nam có điểm cao hơn so với 
nữ (p <0,001). Điểm số thể hiện mức độ điều 
chỉnh tâm lý là như nhau ở bệnh nhân bất kể 
tuổi, dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, trình 
độ học vấn và tình trạng kinh tế (Bảng 3). 
Bảng 3: Mối liên quan giữa đặc điểm dân số xã hội 
với mức độ điều chỉnh tâm lý ở BN mang HMNT 
Đặc điểm 
Điều chỉnh về tâm lý 
Trung bình Độ lệch chuẩn p 
Phân nhóm tuổi (năm) 
<40 45,6 6,0 0,206 
40-49 42,8 8,2 
50-59 43,5 8,1 
60-69 44,2 6,3 
70+ 43,9 3,7 
Giới 
Nam 45,2 6,6 <0,001 
Nữ 41,8 6,4 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 125 
Đặc điểm 
Điều chỉnh về tâm lý 
Trung bình Độ lệch chuẩn p 
Dân tộc 
Kinh 43,9 6,6 0,488 
Khác 45,1 8,3 
Tôn giáo 
Có 44,7 8,3 0,239 
Không 43,6 6,0 
Tình trạng hôn nhân 
Độc thân 45,1 7,7 0,088 
Đã kết hôn 44,3 7,5 
Ly dị, ly thân, góa 42,9 4,2 
Trình độ học vấn 
≤Cấp 1 43,5 9,6 0,690 
Cấp 2 - 3 44,0 6,1 
>Cấp 3 44,3 5,1 
Tình trạng kinh tế 
Không hài lòng 41,1 9,1 0,100 
Bình thường 44,0 6,0 
Hài lòng 45,5 7,5 
Bảng 4 thể hiện mối liên quan giữa các đặc 
điểm về sức khỏe và bệnh lý với điểm số OAI 
thể hiện mức độ điều chỉnh tâm lý. Kết quả cho 
thấy bệnh nhân có hậu môn nhân tạo được 
người khác chăm sóc hậu môn nhân tạo cho 
mình hoàn toàn thì có điểm số mức độ điều 
chỉnh tâm lý cao nhất (p=0,004), cao hơn nhóm 
phải cần có trợ giúp của người khác. Ngoài ra, 
bệnh nhân không có biến chứng hậu môn nhân 
tạo cũng có điểm số điều chỉnh tâm lý cao hơn 
bệnh nhân có biến chứng (p=0,024). Tuy nhiên, 
không có khác biệt về điểm số OAI phân theo 
chỉ số khối cơ thể, loại hậu môn (vĩnh viễn hay 
tạm thời), vị trí hậu môn nhân tạo (đại tràng hay 
hồi tràng), bệnh đi kèm. 
Bảng 4: Mối liên quan giữa đặc điểm sức khỏe và 
bệnh lý với mức độ điều chỉnh tâm lý ở bệnh nhân 
mang hậu môn nhân tạo 
Đặc điểm 
Điều chỉnh về tâm lý 
Trung bình Độ lệch chuẩn p 
Phân nhóm chỉ số khối cơ thể 
Thiếu cân/gầy 43,1 7,1 0,415 
Bình thường 44,3 6,7 
Thừa cân / béo phì 44,2 5,8 
Vị trí hậu môn nhân tạo 
Đại tràng 44,4 6,4 0,089 
Hồi tràng 42,8 7,4 
Loại hậu môn nhân tạo 
Đặc điểm 
Điều chỉnh về tâm lý 
Trung bình Độ lệch chuẩn p 
Vĩnh viễn 43,8 4,2 0,854 
Tạm thời 44,0 7,2 
Thời gian sống chung với hậu môn nhân tạo (tháng) 
>1 - 3 45,0 7,0 0,061 
>3 - 6 42,4 6,0 
>6 - 9 43,9 7,1 
>9 43,3 6,2 
Người chăm sóc hậu môn nhân tạo 
Bản thân 44,0 6,9 0,004 
Người khác 46,3 8,8 
Cả hai 43,1 5,6 
Được hỗ trợ từ người thân 
Có 44,0 6,5 0,568 
Không 43,2 8,9 
Được hỗ trợ từ nhân viên y tế 
Có 44,1 6,0 0,341 
Không 42,8 11,4 
Biến chứng hậu môn nhân tạo 
Có 42,3 5,4 0,024 
Không 44,3 6,9 
Bệnh khác đi kèm 
Có 43,5 6,0 0,269 
Không 44,4 7,3 
BÀN LUẬN 
Mức độ điều chỉnh tâm lý của bệnh nhân mang 
HMNT 
Nghiên cứu cho thấy điểm trung bình điều 
chỉnh tâm lý xã hội của bệnh nhân là 43,9 ± 6,7 
điểm, cho thấy mức độ điều chỉnh tâm lý xã 
hội của bệnh nhân ở mức trung bình. Kết quả 
này tương đồng với các nghiên cứu tại Trung 
Quốc của Cheng F (2013)(8) là 49,8 ± 12,5 và 
nghiên cứu tại Nepal của Gautam S (2016)(9) là 
41,5 ± 13,5, cho thấy mức độ điều chỉnh tâm lý 
xã hội cũng ở mức độ điều chỉnh trung bình. 
Ngược lại, các nghiên cứu của Piwonka MA(10) 
và Haugen V(11) báo cáo rằng điều chỉnh tâm lý 
xã hội của bệnh nhân trong nghiên cứu của họ 
là rất tốt. Có sự khác biệt này một phần là do 
bộ công cụ đo lường khác nhau và thời gian 
khác nhau nhưng cũng có thể do bối cảnh khác 
nhau trong khi các vấn đề liên quan đến tâm 
lý, tâm thần thường bị ảnh hưởng bởi văn hóa 
của bối cảnh đó. Vì vậy, khái niệm điều chỉnh 
tâm lý xã hội của mỗi nơi có thể khác nhau. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 126 
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mức độ 
điều chỉnh tâm lý xã hội của bệnh nhân mang 
HMNT bị suy giảm vừa phải. Cụ thể, phần lớn 
bệnh nhân gặp khó khăn trong lúc ngủ, tắm và 
chế độ ăn của mình không còn như trước khi 
phẫu thuật. Ngoài ra, đa số bệnh nhân trong 
nghiên cứu luôn luôn biết về việc HMNT bị rò 
rỉ, có mùi hoặc nghe tiếng động do HMNT của 
mình tạo ra. Kết quả này cũng phù hợp với 
nghiên cứu của Haugen V(11) và Li C(12). Mặt 
khác, bệnh nhân còn gặp khó khăn khi tham 
gia các hoạt động khi mang HMNT như du 
lịch, hoạt động thể dục, thể thao và họ miễn 
cưỡng khi hòa nhập với xã hội bằng cách 
không tham gia các hoạt động, không muốn ra 
khỏi nhà, trốn tránh tất cả mọi người. Hơn 
nữa, một số bệnh nhân bày tỏ sự bất tiện và 
khó khăn trong khi thực hiện các nghi thức về 
tôn giáo như cúng viếng và hành lễ. Nghiên 
cứu của Gautam S(13) cũng hỗ trợ cho phát hiện 
này bởi vì trong nghiên cứu của Gautam S 
thực hiện tại Nepal, là quốc gia đa số người 
dân theo đạo Hồi. Do đó, bệnh nhân rất quan 
tâm đến ngoại hình, khi mang HMNT thì họ 
cho rằng cơ thể mình không còn trong sạch khi 
tham gia các nghi thức tại nhà thờ và sẽ ảnh 
hưởng đến giá trị văn hóa của dân tộc. 
Ngược lại, một số bệnh nhận đã chấp nhận 
HMNT như một phần cơ thể của mình, cảm thấy 
cuộc sống của họ còn có ý nghĩa, bổ ích và cảm 
thấy rằng HMNT đã mang lại cho họ một cuộc 
sống mới. Thực tế cho thấy đa số các trường hợp 
phải làm HMNT là do bị ung thư. Cho nên bất 
kỳ giải pháp nào để giải quyết vấn đề ung thư, 
kể cả dùng HMNT, cũng có thể giúp bệnh nhân 
cảm thấy dễ chịu hơn. 
Các yếu tố liên quan với mức độ điều chỉnh 
tâm lý ở bệnh nhân mang HMNT 
Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa giới 
tính đến mức độ điều chỉnh tâm lý xã hội của 
bệnh nhân mang HMNT. Kết quả cho thấy cả 
nam và nữ đều bị suy yếu trong quá trình điều 
chỉnh tâm xã hội. Tuy nhiên, nữ giới có điểm 
điều chỉnh tâm lý thấp hơn nam giới. Trái ngược 
với nghiên cứu của chúng tôi, trong nghiên cứu 
của Sital và cộng sự thì nam giới lại có mức độ 
điều chỉnh tâm lý thấp hơn nữ giới. Có sự khác 
biệt này có thể do nam giới ở Nepal hầu như 
không chấp nhận được sự thay đổi do HMNT 
mang lại và phần lớn họ cảm thấy mình mất 
kiểm soát cuộc sống, cảm thấy khó chịu khi hòa 
nhập với xã hội và họ luôn để ý đến mùi, tiếng 
động của HMNT gây ra(9). Thế nhưng nghiên 
cứu của chúng tôi lại cho thấy bệnh nhân ở bất 
kì độ tuổi nào, dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn 
nhân, tình trạng kinh tế, trình độ học vấn đề có 
mức độ điều chỉnh tâm lý là như nhau. 
Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có hậu môn 
nhân tạo được người khác chăm sóc hậu môn 
nhân tạo cho mình hoàn toàn thì có mức độ điều 
chỉnh tâm lý tốt nhất. Kết quả này khác với 
nghiên cứu của Poudel D (2016) tại Nepal(13), khi 
cho thấy có mối liên quan giữa khả năng tự 
chăm sóc bản thân bệnh nhân. Cụ thể bệnh nhân 
tự chăm sóc HMNT có điểm điều chỉnh tâm lý 
cao hơn bệnh nhân cần sự giúp đỡ của người 
khác. Ngoài ra, một nghiên cứu khác của Cheng 
F cũng cho thấy ở bệnh nhân không phụ thuộc 
vào người khác thì có điểm điều chỉnh tâm lý xã 
hội cao hơn so với những bệnh nhân nhận được 
sự trợ giúp(8). Bên cạnh đó, nghiên cứu còn tìm 
thấy ở những bệnh nhân không có biến chứng 
HMNT có điểm điều chỉnh tâm lý cao hơn bệnh 
nhân có biến chứng. Trong khi đó nhiều nghiên 
cứu Gautam S lại không tìm thấy mối liên quan 
này. Ngoài ra lại có sự tương đồng khi các 
nghiên cứu không có sự khác biệt về điểm số 
điều chỉnh tâm lý theo chỉ số khối cơ thể, loại 
hậu môn, bệnh đi kèm. 
Về tính ứng dụng thì đây là nghiên cứu đầu 
tiên đánh giá về mức độ điều chỉnh tâm lý tại 
bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và 
bệnh viện Chợ Rẫy cũng như là một trong số ít 
các nghiên cứu về điều chỉnh tâm lý thực hiện 
trên bệnh nhân mang HMNT tại Việt Nam và 
trên thế giới. Kết quả của nghiên cứu cung cấp 
cho biết mức độ sự điều chỉnh tâm lý ở bệnh 
nhân. Nghiên cứu có thể làm tiền đề cho những 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 127 
nghiên cứu sâu hơn và quy mô rộng hơn trên 
bệnh nhân có HMNT sử dụng thang đo OAI. 
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng có một số hạn 
chế nhất định. Việc thực hiện chọn mẫu thuận 
tiện có thể ảnh hưởng đến khả năng khái quát 
hóa kết quả. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên 
chỉ phản ánh được tình trạng mức độ điều chỉnh 
tâm lý của bệnh nhân mang HMNT tại thời 
điểm nghiên cứu và không phân tích được mối 
liên hệ nhân quả giữa các yếu tố liên quan đến 
sự điều chỉnh tâm lý. Ngoài ra, nghiên cứu chưa 
đi sâu vào phân tích được hiệu quả của tự chăm 
sóc bản thân và tác động của sự thay đổi ngoại 
hình đến tâm lý của bệnh nhân mang HMNT. 
KẾT LUẬN 
Bệnh nhân mang HMNT có khả năng điều 
chỉnh tâm lý ở mức trung bình, trong đó bệnh 
nhân nam, có người giúp chăm sóc HMNT hoàn 
toàn có mức độ điều chỉnh tâm lý tốt hơn. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. United Ostomy Asociations of American (2017). Colostomy 
Guide. URL: https://www.ostomy.org/wp-
content/uploads/2018/03/ColostomyGuide.pdf. 
2. United Ostomy Association of American (2017). Ileostomy 
Guide. URL: https://www.ostomy.org/wp-
content/uploads/2018/03/IleostomyGuide.pdf. 
3. American Cancer Society (2017). Types of Clostomies and 
Pouching Systems. Accessed on 22 Nov 2018; Available from: 
https://www.cancer.org/treatment/treatments-and-side-
effects/physical-side-effects/ostomies/colostomy/types-of-
colostomies.html. 
4. Mohammed IMI, Haggstrom DA, Maggard-Gibbons MA, et al 
(2018). Patients With Temporary Ostomies: Veterans 
Administration Hospitals Multi-institutional Retrospective 
Study. Journal of Wound Ostomy & Continence Nursing, 45(6):510-
515. 
5. World Health Organization (2018). GLOBOCAN 2018: 
Estimated Cancer Incidence, Mortality and Prevalence 
Worldwide in 2018. International Agency for Research on 
Cancer 2018 Accessed on 25 Oct 2018; Available from: 
Colorectum-fact-sheet.pdf. 
6. World Health Organization (2018). GLOBOCAN 2018: 
Estimated Cancer Incidence, Mortality and Prevalence Viet 
Nam in 2018. International Agency for Research on Cancer 2018 
Accessed on 25 Oct 2018; Available from: 
nam-fact-sheets.pdf. 
7. Simmons KL, Smith JA, Maekawa A (2009). Development and 
psychometric evaluation of the Ostomy Adjustment Inventory-
23. J Wound Ostomy Continence Nurs, 36(1): 69-76. 
8. Cheng F, Meng AF, Yang LF, Zhang YN (2013). The correlation 
between ostomy knowledge and self-care ability with 
psychosocial adjustment in Chinese patients with a permanent 
colostomy: a descriptive study. Ostomy Wound Manage, 59(7): 35-
8. 
9. Gautam S, Poudel A (2016). Effect of gender on psychosocial 
adjustment of colorectal cancer survivors with ostomy. J 
Gastrointest Oncol, 7(6):938-945. 
10. Piwonka MA, Merino JM (1999). A multidimensional modeling 
of predictors influencing the adjustment to a colostomy. J 
Wound Ostomy Continence Nurs, 26(6): 298-305. 
11. Haugen V, Bliss DZ, Savik K (2006). Perioperative factors that 
affect long-term adjustment to an incontinent ostomy. J Wound 
Ostomy Continence Nurs, 33(5):525-35. 
12. Li C, Rew L, Hwang SL (2012). The relationship between 
spiritual well-being and psychosocial adjustment in Taiwanese 
patients with colorectal cancer and a colostomy. J Wound Ostomy 
Continence Nurs, 39(2):161-9; quiz 170-1. 
13. Gautam S, Koirala S, Poudel A, Paudel D (2016). Psychosocial 
adjustment among patients with ostomy: a survey in stoma 
clinics, Nepal. Dovepress, 6:13-21. 
Ngày nhận bài báo: 02/12/2019 
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2019 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020

File đính kèm:

  • pdfmuc_do_dieu_chinh_tam_ly_va_cac_yeu_to_lien_quan_o_benh_nhan.pdf