Mức độ biểu hiện gen ở tế bào hạt noãn người - yếu tố dự đoán sự thụ tinh và chất lượng phôi ở bệnh nhân thực hiện kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)
Mục tiêu: Xác định mức độ biểu hiện các gen GREM1, HAS2 và
PTGS2 trên tế bào hạt tương quan với kết quả tiêm tinh trùng vào bào
tương noãn (ICSI)
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu
đoàn hệ tiến cứu. Bệnh nhân: 14 bệnh nhân điều trị ICSI. Kết quả chính
thu nhận: biểu hiện gen GREM1, HAS2, PTGS2 trên tế bào hạt, kết quả
thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5.
Kết quả: Tổng cộng 156 tế bào hạt phân tích biểu hiện gen. Ở noãn
thụ tinh, biểu hiện của gen GREM1 trên tế bào hạt cao hơn 4,4 lần so
với noãn không thụ tinh (p < 0,001).="" giữa="" noãn="" phát="" triển="" thành="" phôi="">
ngày 3 (loại 1 và 2) so phôi kém ngày 3, biểu hiện gen HAS2 và PTGS2
cao gấp 2,4 lần (p < 0,001)="" và="" grem1="" cao="" gấp="" 5,2="" lần="" (p="">< 0,001).="">
hiện gen GREM1, HAS2 và PTGS2 lần lượt cao gấp 6,8 lần (p <>
2,6 lần (p <0,001); 2,2="" lần="" (p="0,01)" ở="" noãn="" phát="" triển="" thành="" phôi="">0,001);>
ngày 5 (loại 1 và 2) so với phôi kém ngày 5. Trong phân tích hồi quy
logistic, mức độ biểu hiện của gen GREM1 dự đoán được khả năng thụ
tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5.
Kết luận: Mức độ biểu hiện gen GREM1 trên tế bào hạt có khả năng
dự đoán sự thụ tinh và hình thái của phôi, cung cấp một kỹ thuật không
xâm lấn hỗ trợ cho việc lựa chọn phôi
Tóm tắt nội dung tài liệu: Mức độ biểu hiện gen ở tế bào hạt noãn người - yếu tố dự đoán sự thụ tinh và chất lượng phôi ở bệnh nhân thực hiện kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)
NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ, MÃ PHẠM QUẾ MAI, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, TRƯƠNG THỊ THANH BÌNH, HÀ THANH QUẾ, NGUYỄN ẤN BÌNH 144 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H Nguyễn Trương Thái Hà(1), Mã Phạm Quế Mai(1), Nguyễn Minh Tài Lộc(1), Trương Thị Thanh Bình(2), Hà Thanh Quế(2), Nguyễn Ấn Bình(3) (1) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức, (2) Bệnh viện An Sinh, (3) Khoa Y – ĐHQG-HCM MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN GEN Ở TẾ BÀO HẠT NOÃN NGƯỜI - YẾU TỐ DỰ ĐOÁN SỰ THỤ TINH VÀ CHẤT LƯỢNG PHÔI Ở BỆNH NHÂN THỰC HIỆN KỸ THUẬT TIÊM TINH TRÙNG VÀO BÀO TƯƠNG NOÃN (ICSI) Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Trương Thái Hà, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 08/06/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 25/06/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 29/06/2018 Từ khóa: biểu hiện gen, tế bào hạt, sự thụ tinh, chất lượng phôi, ICSI. Key words: Gene expression, cumulus cell, fertilization, embryo quality, ICSI. Tóm tắt Mục tiêu: Xác định mức độ biểu hiện các gen GREM1, HAS2 và PTGS2 trên tế bào hạt tương quan với kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu. Bệnh nhân: 14 bệnh nhân điều trị ICSI. Kết quả chính thu nhận: biểu hiện gen GREM1, HAS2, PTGS2 trên tế bào hạt, kết quả thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5. Kết quả: Tổng cộng 156 tế bào hạt phân tích biểu hiện gen. Ở noãn thụ tinh, biểu hiện của gen GREM1 trên tế bào hạt cao hơn 4,4 lần so với noãn không thụ tinh (p < 0,001). Giữa noãn phát triển thành phôi tốt ngày 3 (loại 1 và 2) so phôi kém ngày 3, biểu hiện gen HAS2 và PTGS2 cao gấp 2,4 lần (p < 0,001) và GREM1 cao gấp 5,2 lần (p < 0,001). Biểu hiện gen GREM1, HAS2 và PTGS2 lần lượt cao gấp 6,8 lần (p < 0,001); 2,6 lần (p <0,001); 2,2 lần (p = 0,01) ở noãn phát triển thành phôi tốt ngày 5 (loại 1 và 2) so với phôi kém ngày 5. Trong phân tích hồi quy logistic, mức độ biểu hiện của gen GREM1 dự đoán được khả năng thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5. Kết luận: Mức độ biểu hiện gen GREM1 trên tế bào hạt có khả năng dự đoán sự thụ tinh và hình thái của phôi, cung cấp một kỹ thuật không xâm lấn hỗ trợ cho việc lựa chọn phôi. Từ khóa: biểu hiện gen, tế bào hạt, sự thụ tinh, chất lượng phôi, ICSI. Abstract LEVEL OF GENE EXPRESSION IN HUMAN CUMULUS CELL - A PREDICTOR OF FERTILIZATION AND EMBRYO QUALITY IN PATIENT UNDERGOING INTRACYTOPLASMIC SPERM INJECTION Objective(s): To determine the relationship between level of GREM1, HAS2, PTGS2 gene expression in human cumulus cell and intracytoplasmic sperm injection (ICSI) outcomes. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 145 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 1. Đặt vấn đề Sự thành công của một chu kỳ hỗ trợ sinh sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, chất lượng phôi chuyển đóng vai trò quan trọng. Lựa chọn được phôi chất lượng tốt sẽ tăng khả năng thụ thai, nhờ đó sẽ giảm số lượng phôi chuyển, hạn chế hiện tượng đa thai và các hậu quả sức khỏe ở bà mẹ và trẻ sơ sinh do đa thai gây ra. Do vậy, việc lựa chọn được phôi chất lượng tốt có khả năng phát triển và làm tổ cao nhất là vấn đề đang được quan tâm. Hiện nay, phương pháp đánh giá chất lượng phôi dựa vào đặc điểm hình thái của phôi trong giai đoạn phân chia theo đồng thuận Alpha [1] được áp dụng ở hầu hết các trung tâm hỗ trợ sinh sản, các chuyên viên phôi học sẽ ghi nhận các đặc điểm hình thái của phôi trong giai đoạn phân chia như số lượng phôi bào, tỷ lệ phân mảnh, tính đối xứng, sự hiện diện của hiện tượng đa nhân... của phôi để đánh giá chất lượng phôi. Tuy nhiên, do tránh tối đa ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi nên phôi chỉ được kiểm tra vào một vài giai đoạn nhất định, không tránh khỏi không phát hiện những sự phát triển bất thường ở những lúc không kiểm tra. Để khắc phục, nuôi cấy bằng Timelapse đã được ứng dụng, tuy nhiên không phải trung tâm hỗ trợ sinh sản nào cũng có trang bị, chỉ những bệnh nhân có chỉ định mới sử dụng, cũng như số lượng phôi nuôi cấy trong Timelapse vẫn là hạn chế. Với sự phát triển và ứng dụng của các kỹ thuật sinh học phân tử, một xu hướng mới hỗ trợ trong lựa chọn phôi bào không xâm lấn được đưa ra, đó chính là dựa vào mức độ biểu hiện của các gen trên tế bào hạt (cumulus cell) làm tiên lượng để đánh giá khả năng thụ tinh và chất lượng phôi. Tế bào hạt là lớp tế bào bao quanh noãn, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn vẹn của noãn, quá trình rụng trứng và thụ tinh [2]. Tế bào hạt không chỉ cung cấp các nội tiết tố cho noãn, mà còn tham gia vào quá trình tổng hợp các dưỡng chất cần thiết cho noãn [3]. Giữa noãn và tế bào hạt bao quanh noãn luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó noãn sản xuất các yếu tố tăng trưởng và điều hòa các chức năng của tế bào hạt [4] còn tế bào hạt sản xuất các gen kích thích sự phát triển của noãn [5], [6]. Trong số các gen của tế bào hạt được nghiên cứu thì gen GREM1 (gremlin1), HAS2 (tổng hợp axit hyaluronic 2) và PTGS2 (cyclooxygenase 2, COX2) được chứng minh có liên quan đến hoạt động của GDF9 (yếu tố TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 144 - 149, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Patient(s) and method: Design: Prospective cohort study. Patient(s): 14 couples undergoing ICSI. Main outcome measure(s): level of GREM1, HAS2, PTGS2 gene expression in human cumulus cell and results of fertilization, embryo day 3 quality, embryo day 5 quality. Result(s): Total 156 cumulus cells were collected gene expression. In oocytes with fertilization, cumulus GREM1 expression was 4,4-fold higher than non-fertilization (p < 0.001). GREM1 expression was 6-fold higher (p <0.001), HAS2 and PTGS2 was 1.8-fold higher (p = 0.0003, p = 0.009) from oocytes that developed to good quality day-3 embryos compared with poor quality ones. In oocytes of good quality day-5 embryos compared with poor quality day-5 embryos, gene expression of GREM1 was 6,8-fold higher, (p < 0.001); HAS2 was 2.6-fold higher (p <0.001); PTGS2 was 3.4-fold higher, (p = 0.01). In regression logistic analysis, levels of GREM1 gene expression predicted fertilization, day 3 embryo quality and day 5 embryo quality. Conclusion(s): The levels of GREM1 gene expression on the cumulus cell related to formation and morphology of the embryo, providing a non-invasive technique that supports the selection of embryo. Key words: Gene expression, cumulus cell, fertilization, embryo quality, ICSI. NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ, MÃ PHẠM QUẾ MAI, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, TRƯƠNG THỊ THANH BÌNH, HÀ THANH QUẾ, NGUYỄN ẤN BÌNH 146 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H phân biệt tăng trưởng 9) và BMPs (các protein hình thái xương) là thành viên của nhóm tăng trưởng chuyển đổi, tác động trong việc giãn nở của lớp tế bào hạt tạo ra một vi môi trường giàu hyaluronan bao bọc bảo vệ noãn sau khi phóng noãn và tác động quá trình thụ tinh cũng như giai đoạn phát triển phôi sớm sau làm tổ [7], [8]. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng biểu hiện của các gen này liên quan đến khả năng thụ tinh và chất lượng phôi ngày 3 [9 - 11]. Do đó, nghiên cứu tiến hành đánh giá tương quan mức độ biểu hiện gen GREM1, HAS2 và PTGS2 với khả năng thụ tinh và chất lượng phôi nuôi cấy trên Timelapse nhằm tìm ra gen có khả năng dự đoán chất lượng phôi, hỗ trợ việc lựa chọn phôi. 2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu. Đối tượng nghiên cứu là 156 mẫu tế bào hạt thu nhận từ 14 bệnh nhân đang thực hiện ICSI tại bệnh viện An Sinh. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 06/2017 đến tháng 12/2017. Bệnh nhân tình nguyện tham gia nghiên cứu sau khi được tư vấn bởi chuyên viên phôi học. Tiêu chuẩn nhận: tuổi vợ < 35 tuổi, chu kỳ điều trị ≤ 2, thực hiện ICSI với phác đồ điều trị là GnRH antagonist. Tiêu chuẩn loại: vợ mắc phải hội chứng buồng trứng đa nang, lạc nội mạc tử cung; chồng bị vô tinh, thực hiện TESA, PESA; chỉ định IVM. Cách thu nhận mẫu: ngay sau khi noãn được chọc hút và rửa sạch, một phần tế bào hạt được xé bằng kim 18G, rửa và trữ đông ở -80oC trong PBS có bổ sung RNase inhibitor. Quy trình tiêm tinh trùng vào bào tương noãn – ICSI: Noãn sau khi tách một phần tế bào hạt được tiếp tục nuôi cấy, xử lý HA theo quy trình thường quy, sau đó thực hiện ICSI và nuôi cấy trong hệ thống Primo Vision Time-Lapse ở điều kiện 37oC, 7% CO2, 5% O2. Sau khoảng 16 – 18 giờ kiểm tra thụ tinh dựa vào sự xuất hiện 2 tiền nhân và thể cực thứ hai. Vào ngày thứ 3, tiến hành kiểm tra đánh giá chất lượng phôi vào khoảng 68 ± 1 giờ. Vào ngày thứ 5, tiến hành kiểm tra đánh giá chất lượng phôi vào khoảng 116 ± 2 giờ. Việc đánh giá và phân loại chất lượng phôi dựa trên đồng thuận Alpha [1]. Ly trích mRNA: Các mẫu tế bào hạt được tiến hành ly trích mRNA bằng bộ kit chuyên dụng cho ly trích mRNA với số lượng tế bào thấp Reliaprep RNA Cell Miniprep System (Promega, USA). mRNA tổng số được rửa giải trong 30µl nước không chứa Dnase, Rnase. Chất lượng mRNA được kiểm tra khi đo nồng độ trên máy NanoDrop One với chỉ số A260/A280 trong khoảng 1,8 – 2,0. mRNA sau ly trích được trữ ở -80oC. Tổng hợp cDNA: mRNA tổng số của tế bào hạt được tiến hành tổng hợp cDNA bằng bộ GoScript Reverse Transcription System (Promega, USA). Tổng thể tích phản ứng tổng hợp cDNA là 50µl, sau phản ứng được trữ ở -20oC. Realtime PCR định lượng: cDNA của tế bào hạt được sử dụng thực hiện phản ứng Realtime PCR định lượng Taqman Probe với kit Go Taq® Probe qPCR Master Mix (Promega, USA) để đánh giá biểu hiện gen GREM1, HAS2 và PTGS2 với gen đối chứng là GAPDH. Mỗi mẫu tiến hành chạy lặp 3 lần để đánh giá độ ổn định của phản ứng và tính Ct trung bình để sử dụng cho định lượng tương đối theo phương pháp 2-∆∆Ct của Livak [12] để xác định sự khác biệt trong biểu hiện của gen. Chỉ tiêu đánh giá tương quan biểu hiện gen với kết quả ICSI gồm: sự thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5 Phân tích số liệu: Vì các biến biểu hiện gen (GREM1, HAS2, PTGS2) đều không tuân theo quy Đặc điểm Trung bình ± độ lệch chuẩn Tuổi vợ (năm) 27.82 ± 4.31 Tuổi chồng (năm) 31,23 ± 3,15 Số noãn chọc hút 11.28 ± 4.50 Tỷ lệ thụ tinh (%) 78.35 ± 12.65 Tỷ lệ hình thành phôi ngày 3 (%) 85.67 ± 9.24 Tỷ lệ phôi tốt ngày 3 – phôi loại 1, 2 (%) 54.07 ± 13.71 Tỷ lệ hình thành phôi ngày 5 (%) 61.48 ± 23.54 Tỷ lệ phôi tốt ngày 5 – phôi loại 1, 2 (%) 53.38 ± 17.64 Bảng 1: Dữ liệu bệnh nhân thu nhận vào nghiên cứu Biểu hiện Gen Median [1st Qu.; 3rd Qu.] Thụ tinh GREM1 2.95 [1.17; 6.77] HAS2 1.17 [0.50; 2.46] PTGS2 0.97 [0.44; 2.20] Chất lượng phôi ngày 3 GREM1 1.84 [0.80; 4.28] HAS2 1.28 [0.53; 2.65] PTGS2 1.21 [0.54; 2.80] Chất lượng phôi ngày 5 GREM1 1.55 [0.67; 3.60] HAS2 1.19 [0.49; 2.45] PTGS2 1.05 [0.47; 2.43] Bảng 2: Mô tả mức độ biểu hiện gen ở các nhóm kết quả ICSI TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 147 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 144 - 149, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 luật phân phối chuẩn, kiểm định Wilcoxon được sử dụng để đánh giá sự khác biệt về mức độ biểu hiện gen GREM1, HAS2, PTGS2 với các kết quả ICSI. Sau đó, tiến hành phân tích hồi quy logistic đơn/đa biến để dự đoán ảnh hưởng mức độ biểu hiện gen GREM1, HAS2, PTGS2 lên các kết quả ICSI. Những gen ảnh hưởng lên từng kết quả ICSI sẽ được sử dụng để xây dựng đường cong ROC. Phương pháp thống kê Youden được sử dụng để xác định ngưỡng biểu hiện gen trên từng đường cong ROC. Để kiểm tra lại kết quả, Fisher’s exact test được sử dụng để so sánh sự khác biệt về tỷ lệ của các kết cục giữa 2 nhóm trên ngưỡng và dưới ngưỡng. Giá trị p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê và dữ liệu được xử lý bằng phần mềm R ver3.3.1. 3. Kết quả Tổng số 156 tế bào hạt thu nhận được đều ly trích mRNA và tổng hợp cDNA thành công. Khi tiến hành phản ứng Realtime PCR định lượng dữ liệu biểu hiện gen của cả 4 gen GREM1, HAS2, PTGS2 và GAPDH được thu nhận trên tất cả tế bào hạt và được chia nhóm theo kết quả ICSI thu được là sự thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5 để định lượng tương đối 2-∆∆Ct (dữ liệu được mô tả ở bảng 2). So sánh mức độ biểu hiện gen GREM1 ở tế bào hạt thì ở những noãn thụ tinh cao gấp 4,4 lần (p <0,001) so với noãn không thụ tinh, ở gen HAS2 và PTGS2 không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào giữa hai nhóm. Khi phân tích ở những noãn hình thành nên phôi ngày 3 có chất lượng tốt (loại 1, 2), GREM1 biểu hiện cao gấp 5,2 lần (p < 0,001); HAS2 và PTGS2 cao gấp 2,4 lần (p < 0,001) so với noãn hình thành phôi có chất lượng kém (loại 3). Tương tự, mức độ biểu hiện gen GREM1 của tế bào hạt ở noãn cho phôi ngày 5 chất lượng tốt (phôi loại 1, 2) cao gấp 6,8 lần (p <0,001), HAS2 cao gấp 2,6 lần (p < 0.001) và PTGS2 cao gấp 2,2 (p = 0.01) so với phôi ngày 5 có chất lượng kém (phôi loại 3) (Biểu đồ 1). Tuy cả 3 gen đều có tương quan có ý nghĩa thống kê đối với các chỉ tiêu kết quả ICSI nhưng khi phân tích hồi quy logistic đơn/ đa biến chỉ mức độ biểu hiện gen GREM1 dự đoán về sự thụ tinh (p = 0,002); chất lượng phôi ngày 3 (p <0,001) Biểu đồ 1: Sự khác biệt biểu hiện gen ở (A) noãn thụ tinh so với noãn không thụ tinh: GREM1 (3,5 với 0,8); HAS2 (1,3 với 1,1); PTGS2 (1,0 với 0,9); (B) noãn hình thành phôi ngày 3 chất lượng tốt so với noãn hình thành phôi ngày 3 chất lượng kém GREM1 (2,5 với 1,1); HAS2 (2,9 với 0,95); PTGS2 ( 3,0 với 0,9); (C) noãn hình thành phôi ngày 5 chất lượng tốt so với noãn hình thành phôi ngày 5 chất lượng kém GREM1 (7,9 với 1,3); HAS2 (1,2 với 1,1); PTGS2 (1,1 với 1,2). Biểu đồ 1: Sự khác biệt biểu hiện gen ở (A) noãn thụ tinh so với n ãn không thụ tinh: GREM1 (3,5 với 0,8); HAS2 (1,3 với 1,1); PTGS2 (1,0 với 0,9); (B) noãn hình thành phôi ngày 3 chất lượng tốt so với noãn hình thành phôi ngày 3 chất lượng kém GREM1 (2,5 với 1,1); HAS2 (2,9 với 0,95); PTGS2 ( 3,0 với 0,9); (C) noãn hìn thành phôi ngày 5 chất lượng tốt so với noãn hình thành phôi ngày 5 chất lượng kém GREM1 (7,9 với 1,3); HAS2 (1,2 với 1,1); PTGS2 (1,1 với 1,2). NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ, MÃ PHẠM QUẾ MAI, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, TRƯƠNG THỊ THANH BÌNH, HÀ THANH QUẾ, NGUYỄN ẤN BÌNH 148 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H và chất lượng phôi ngày 5 (p <0,001) (Bảng 3). Xây dựng đường cong ROC để xác định ngưỡng biểu hiện gen GREM1 dự đoán cho sự thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5. Ngưỡng biểu hiện gen GREM1 dự đoán sự thụ tinh là 1,1 với độ nhạy là 0,88 và độ đặc hiệu là 0,70; ngưỡng biểu hiện gen GREM1 dự đoán chất lượng phôi tốt ngày 3 là 2,8 với độ nhạy là 0,92 và độ đặc hiệu là 0,88; ngưỡng biểu hiện gen GREM1 dự đoán chất lượng phôi tốt ngày 5 là 3,2 với độ nhạy là 0,97 và độ đặc hiệu là 0,89 (Biểu đồ 2). 4. Bàn luận Kết quả của nghiên cứu một lần nữa khẳng định mối liên quan giữa mức độ biểu hiện gen trên tế bào hạt và khả năng thụ tinh, cũng như sự phát triển của phôi. Ở noãn thụ tinh và noãn hình thành phôi có chất lượng tốt đều có mức độ biểu hiện gen GREM1, HAS2 và PTGS2 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với noãn không thụ tinh và noãn không hình thành phôi tốt. Kết quả này tương tự với kết quả trong nghiên cứu của Cillo và cộng sự [11] về mức độ biểu hiện của gen GREM1 và HAS2, đều có tương quan có ý nghĩa thống kê với sự thụ tinh và chất lượng phôi ngày 3. Nếu chỉ xét chỉ tiêu chất lượng phôi ngày 3, kết quả nghiên cứu của McKenzie và cộng sự [10] tuy có khác biệt về mức độ biểu hiện nhưng cả 3 gen đều có tương quan có ý nghĩa thống kê (GREM1 cao gấp 15 lần, HAS2 và PTGS2 cao gấp 6 lần), khác biệt này có thể do phác đồ điều trị của bệnh nhân ở nghiên cứu này là GnRH agonist. Trong các nghiên cứu sử dụng phác đồ GnRH agonist, cũng cho ra kết quả khác biệt khi mức độ biểu hiện của gen PTGS2 tương quan nghịch với chất lượng phôi ngày 3, nghĩa là phôi tốt lại có mức độ biểu hiện gen PTGS2 thấp hơn phôi kém [6, 13], hoặc không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê với mức độ biểu hiện gen HAS2 và PTGS2 [14]. Trong một nghiên cứu với cỡ mẫu lớn (674 tế bào hạt từ 75 bệnh nhân được phân tích) [9], biểu hiện gen PTGS2 tương quan với chất lượng phôi ngày 3 có ý nghĩa thống kê nhưng không chứng minh được khả năng dự đoán khi xây dựng đường cong ROC (tương tự kết quả nghiên cứu của chúng tôi), trong khi biểu hiện gen GREM1 có tương quan với chất lượng phôi ngày 3 và có khả năng dự đoán nhưng không cao (auc = 0,61). Nếu lựa chọn cùng phác đồ GnRH antagonist, biểu hiện gen GREM1 tương quan với chất lượng phôi ngày 3 được chỉ ra trong nghiên cứu của Biểu đồ 2: Đường cong ROC thể hiện mức độ biểu hiện gen GREM1 dự đoán sự thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5 Thụ tinh Thụ tinh (n=120) Không thụ tinh (n = 38) OR[95%CI]; Giá trị p OR[*95%CI];Giá trị p* GREM1 3.46 [1.81; 7.85] 0.78 [0.53; 1.47] 1.32[1.13-1.62];0.003 1.34[1.14-1.65]; 0.002 HAS2 1.24 [0.52; 2.51] 1.08 [0.49; 1.84] 1.25[0.98-1.70];0.111 1.31[1.00-1.03]; 0.079 PTGS2 1.02 [0.42; 2.31] 0.90 [0.50; 1.59] 1.05[0.92-1.26];0.505 Chất lượng phôi ngày 3 Phôi tốt ngày 3 (n = 58) Phôi kém ngày 3 (n = 53) OR[95%CI]; Giá trị p OR[*95%CI];Giá trị p* GREM1 5.74 [3.97; 10.71] 1.08 [0.54; 1.94] 2.83[2.06; 4.19]; <0.001 3.25[2.24-5.23]; <0.001 HAS2 2.43 [1.16; 4.73] 0.98 [0.45; 2.08] 1.48[1.23-1.83];<0.001 1.33[0.97-1.93]; 0.092 PTGS2 2.39 [0.89; 5.00] 0.95 [0.45; 1.87] 1.12[1.03-1.24];0.016 1.14[0.97-1.34]; 0.073 Chất lượng phôi ngày 5 Phôi tốt ngày 5 (n = 34) Phôi kém ngày 5 (n = 29) OR[95%CI]; Giá trị p OR[*95%CI];Giá trị p* GREM1 8.22 [4.99; 14.72] 1.21 [0.49; 2.15] 4.89[2.75- 11.66]; <0.001 5.44[2.85- 15.13]; <0.001 HAS2 2.29 [1.51; 4.35] 0.93 [0.42; 2.24] 1.27[1.08-1.53];0.006 1.23[0.94-1.60]; 0.098 PTGS2 1.95 [0.85; 4.29] 0.90 [0.43; 2.20] 1.04[0.95-1.13];0.383 Chú thích: - Dữ liệu mô tả dưới dạng median [1st Qu.;3rd Qu.] - Sử dụng phương pháp hồi quy logistic đơn biến để đánh giá tỷ số odds (OR) của các gen mục tiêu với các kết quả. - Sử dụng phương pháp hồi quy logistic đa biến để đánh giá tỷ số odds (OR*) của các gen mục tiêu với các kết quả. Bảng 3: Phân tích hồi quy logistic đơn/ đa biến các gen ảnh hưởng tới kết quả ICSI TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 149 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 144 - 149, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Assou và cộng sự [15], tuy nhiên ở nghiên cứu này GREM1 lại không tìm thấy tương quan có ý nghĩa thống kê với chất lượng phôi ngày 5, nguyên nhân có thể do cỡ mẫu nghiên cứu khá thấp giữa hai nhóm phôi ngày 5 (18 so với 12). Trong nghiên cứu của Wathlet và cộng sự [16], biểu hiện gen GREM1 tương quan với sự thụ tinh nhưng cả PTGS2 và GREM1 lại không tìm thấy tương quan với chất lượng phôi nhưng lại tương quan có ý nghĩa thống kê với khả năng mang thai (p < 0,05). So với nghiên cứu của chúng tôi, các nghiên cứu được nêu trên có sự khác nhau về phác đồ điều trị, cỡ mẫu nghiên cứu, phương pháp đánh giá biểu hiện gen cũng như điều kiện nuôi cấy và theo dõi phát triển phôi nên có thể có sự khác biệt về kết quả tương quan, nhưng vẫn cho thấy biểu hiện của gen GREM1 cao thì cho kết quả thụ tinh và chất lượng phôi tốt hơn. Điều này cũng phù hợp với dữ liệu hồi quy của nghiên cứu này khi gen GREM1, HAS2 và PTGS2 đều có tương quan nhưng chỉ có gen GREM1 dự đoán được sự thụ tinh và chất lượng phôi có ý nghĩa thống kê. Do đó, việc thu nhận tế bào hạt và đánh giá mức độ biểu hiện gen GREM1 có thể coi là một yếu tố dự đoán chất lượng phôi hỗ trợ cho việc lựa chọn phôi. 5. Kết luận Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về sự biểu hiện gen trên tế bào hạt ở noãn người, đưa ra một cách tiếp cận mới trong việc lựa chọn phôi không xâm lấn ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử, trong đó, đánh giá mức độ biểu hiện gen GREM1 có khả năng dự đoán sự thụ tinh và phát triển của phôi, hỗ trợ cho việc lựa chọn phôi có chất lượng tốt. Lời cảm ơn Xin chân thành cám ơn Công ty Cổ phần Bệnh viện Hy Vọng đã tài trợ kinh phí, chân thành cám ơn Đơn vị Hỗ trợ Sinh sản bệnh viện An Sinh và Trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh sản đã hỗ trợ cơ sở vật chất để chúng tôi thực hiện nghiên cứu này. Tài liệu tham khảo 1. Magli MC, Jones GM, Lundin K, van den Abbeel E. Atlas of human embryology: from oocytes to preimplantation embryos. Preface. Hum Reprod. 2012; 27. 2. Russell DL, Robker RL. Molecular mechanisms of ovulation: co-ordination through the cumulus complex. Hum Reprod Update. 2007; 13: 289–312. 3. Huang Z, Wells D. The human oocyte and cumulus cells relationship: new insights from the cumulus cell transcriptome. Mol Hum Reprod. 2010; 16(10): 715-25. 4. Assou S, Haouzi D, De Vos J, Hamamah S. Human cumulus cells as biomarkers for embryo and pregnancy outcomes. Mol Hum Reprod. 2010; 16:531–538. 5. Assou S, Anahory T, Pantesco V, Le Carrour T, Pellestor F, Klein B, Reyftmann L, Dechaud H, De Vos J, Hamamah S. The human cumulus-oocyte complex gene-expression profile. Hum Reprod. 2006; 21(7): 1705-19. 6. Feuerstein P, Cadoret V, Dalbies-Tran R, Guerif F, Bidault R, Royere D. Gene expression in human cumulus cells: one approach to oocyte competence. Hum Reprod. 2007; 22(12): 3069-77. 7. Hussien TS, Froiland DA, Amato F, Thompson JG, Gilchrist RB. Oocytes prevent cumulus cell apoptosis by maintaining a morphogenic paracrine gradient of bone morphogenic proteins. Journal of Cell Science. 2005; 118: 5257-5268. 8. Pangas SA, Jorgez CJ, Matzuk MM. Growth differentiation factor 9 regulates expression of bone morphogenetic protein antagonist gremlin. Journal of Biological Chemistry. 2004; 279: 32281-32286. 9. Anderson RA, Sciorio R, Kinnell H, Bayne RA. Cumulus gene expression as a predictor of human oocyte fertilisation, embryo development and competence to establish a pregnancy. Reproduction. 2009; 138: 629 – 637. 10. McKenzie LJ, Pangas SA, Carson SA, Kovanci E. Human cumulus granulosa cell gene expression: a predictor of fertilization and embryo selection in women undergoing IVF. Human Reprod. 2004; 19: 2869 – 2874 11. Cillo F, Brevini TA, Antonini S. Association between human oocyte developmental competence and expression levels of some cumulus genes. Reproduction. 2007; 134: 645 – 650. 12. Livak KJ, Schmittgen TD. Analysis of relative gene expression data using real-time quantitative PCR and the 2(-Delta Delta C(T)) Method. Methods. 2001; 25(4):402-8.pre 13. Adriaenssens T, Wathlet S, Segers I, Verheyen G, De Vos A, Van der Elst J, Coucke W, Devroey P, Smitz J. Cumulus cell gene expression is associated with oocyte developmental quality and influenced by patient and treatment characteristics. Hum Reprod. 2010; 25(5):1259-70. 14. Gebhardt KM, Feil DK, Dunning KR, Lane M, Russell DL (2011). Human cumulus cell gene expression as a biomarker of pregnancy outcome after single embryo transfer. Fertil Steril. 2011; 96(1):47-52.e2 15. Assou S, Haouzi D, Dechaud H, Gala A, Ferrieres A, Hamamah S. Comparative gên expression profiling in human cumulus cell according to ovarian Gonadotropin treatments. Biomed Research International. 2013; 2013: 354582. 16. Wathlet S, Adriaenssens T, Segers I, Verheyen G. Cumulus cell gene expression predicts better cleavage – stage embryo or blastocyst development and pregnancy for ICSI patients. Hum Reprod. 2011; Advance Access: 1 – 17.
File đính kèm:
muc_do_bieu_hien_gen_o_te_bao_hat_noan_nguoi_yeu_to_du_doan.pdf

