Mức độ biểu hiện gen ở tế bào hạt noãn người - yếu tố dự đoán sự thụ tinh và chất lượng phôi ở bệnh nhân thực hiện kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)

Mục tiêu: Xác định mức độ biểu hiện các gen GREM1, HAS2 và

PTGS2 trên tế bào hạt tương quan với kết quả tiêm tinh trùng vào bào

tương noãn (ICSI)

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu

đoàn hệ tiến cứu. Bệnh nhân: 14 bệnh nhân điều trị ICSI. Kết quả chính

thu nhận: biểu hiện gen GREM1, HAS2, PTGS2 trên tế bào hạt, kết quả

thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5.

Kết quả: Tổng cộng 156 tế bào hạt phân tích biểu hiện gen. Ở noãn

thụ tinh, biểu hiện của gen GREM1 trên tế bào hạt cao hơn 4,4 lần so

với noãn không thụ tinh (p < 0,001).="" giữa="" noãn="" phát="" triển="" thành="" phôi="">

ngày 3 (loại 1 và 2) so phôi kém ngày 3, biểu hiện gen HAS2 và PTGS2

cao gấp 2,4 lần (p < 0,001)="" và="" grem1="" cao="" gấp="" 5,2="" lần="" (p="">< 0,001).="">

hiện gen GREM1, HAS2 và PTGS2 lần lượt cao gấp 6,8 lần (p <>

2,6 lần (p <0,001); 2,2="" lần="" (p="0,01)" ở="" noãn="" phát="" triển="" thành="" phôi="">

ngày 5 (loại 1 và 2) so với phôi kém ngày 5. Trong phân tích hồi quy

logistic, mức độ biểu hiện của gen GREM1 dự đoán được khả năng thụ

tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5.

Kết luận: Mức độ biểu hiện gen GREM1 trên tế bào hạt có khả năng

dự đoán sự thụ tinh và hình thái của phôi, cung cấp một kỹ thuật không

xâm lấn hỗ trợ cho việc lựa chọn phôi

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Mức độ biểu hiện gen ở tế bào hạt noãn người - yếu tố dự đoán sự thụ tinh và chất lượng phôi ở bệnh nhân thực hiện kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mức độ biểu hiện gen ở tế bào hạt noãn người - yếu tố dự đoán sự thụ tinh và chất lượng phôi ở bệnh nhân thực hiện kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)

Mức độ biểu hiện gen ở tế bào hạt noãn người - yếu tố dự đoán sự thụ tinh và chất lượng phôi ở bệnh nhân thực hiện kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)
NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ, MÃ PHẠM QUẾ MAI, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, TRƯƠNG THỊ THANH BÌNH, HÀ THANH QUẾ, NGUYỄN ẤN BÌNH
144
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Nguyễn Trương Thái Hà(1), Mã Phạm Quế Mai(1), Nguyễn Minh Tài Lộc(1), Trương Thị Thanh Bình(2), Hà Thanh Quế(2), Nguyễn Ấn Bình(3) 
(1) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức, (2) Bệnh viện An Sinh, (3) Khoa Y – ĐHQG-HCM
MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN GEN Ở TẾ BÀO HẠT NOÃN NGƯỜI - 
YẾU TỐ DỰ ĐOÁN SỰ THỤ TINH VÀ CHẤT LƯỢNG PHÔI
Ở BỆNH NHÂN THỰC HIỆN KỸ THUẬT
TIÊM TINH TRÙNG VÀO BÀO TƯƠNG NOÃN (ICSI)
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Trương Thái Hà, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Từ khóa: biểu hiện gen, tế bào 
hạt, sự thụ tinh, chất lượng 
phôi, ICSI.
Key words: Gene expression, 
cumulus cell, fertilization, 
embryo quality, ICSI.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định mức độ biểu hiện các gen GREM1, HAS2 và 
PTGS2 trên tế bào hạt tương quan với kết quả tiêm tinh trùng vào bào 
tương noãn (ICSI)
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu 
đoàn hệ tiến cứu. Bệnh nhân: 14 bệnh nhân điều trị ICSI. Kết quả chính 
thu nhận: biểu hiện gen GREM1, HAS2, PTGS2 trên tế bào hạt, kết quả 
thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5.
Kết quả: Tổng cộng 156 tế bào hạt phân tích biểu hiện gen. Ở noãn 
thụ tinh, biểu hiện của gen GREM1 trên tế bào hạt cao hơn 4,4 lần so 
với noãn không thụ tinh (p < 0,001). Giữa noãn phát triển thành phôi tốt 
ngày 3 (loại 1 và 2) so phôi kém ngày 3, biểu hiện gen HAS2 và PTGS2 
cao gấp 2,4 lần (p < 0,001) và GREM1 cao gấp 5,2 lần (p < 0,001). Biểu 
hiện gen GREM1, HAS2 và PTGS2 lần lượt cao gấp 6,8 lần (p < 0,001); 
2,6 lần (p <0,001); 2,2 lần (p = 0,01) ở noãn phát triển thành phôi tốt 
ngày 5 (loại 1 và 2) so với phôi kém ngày 5. Trong phân tích hồi quy 
logistic, mức độ biểu hiện của gen GREM1 dự đoán được khả năng thụ 
tinh, chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5.
Kết luận: Mức độ biểu hiện gen GREM1 trên tế bào hạt có khả năng 
dự đoán sự thụ tinh và hình thái của phôi, cung cấp một kỹ thuật không 
xâm lấn hỗ trợ cho việc lựa chọn phôi. 
Từ khóa: biểu hiện gen, tế bào hạt, sự thụ tinh, chất lượng phôi, ICSI.
Abstract 
LEVEL OF GENE EXPRESSION IN HUMAN 
CUMULUS CELL - A PREDICTOR OF FERTILIZATION 
AND EMBRYO QUALITY IN PATIENT UNDERGOING 
INTRACYTOPLASMIC SPERM INJECTION 
Objective(s): To determine the relationship between level of 
GREM1, HAS2, PTGS2 gene expression in human cumulus cell and 
intracytoplasmic sperm injection (ICSI) outcomes.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
145
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Sự thành công của một chu kỳ hỗ trợ sinh sản 
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, chất lượng 
phôi chuyển đóng vai trò quan trọng. Lựa chọn 
được phôi chất lượng tốt sẽ tăng khả năng thụ thai, 
nhờ đó sẽ giảm số lượng phôi chuyển, hạn chế hiện 
tượng đa thai và các hậu quả sức khỏe ở bà mẹ và 
trẻ sơ sinh do đa thai gây ra. Do vậy, việc lựa chọn 
được phôi chất lượng tốt có khả năng phát triển và 
làm tổ cao nhất là vấn đề đang được quan tâm. 
Hiện nay, phương pháp đánh giá chất lượng 
phôi dựa vào đặc điểm hình thái của phôi trong 
giai đoạn phân chia theo đồng thuận Alpha [1] 
được áp dụng ở hầu hết các trung tâm hỗ trợ sinh 
sản, các chuyên viên phôi học sẽ ghi nhận các đặc 
điểm hình thái của phôi trong giai đoạn phân chia 
như số lượng phôi bào, tỷ lệ phân mảnh, tính đối 
xứng, sự hiện diện của hiện tượng đa nhân... của 
phôi để đánh giá chất lượng phôi. Tuy nhiên, do 
tránh tối đa ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi 
nên phôi chỉ được kiểm tra vào một vài giai đoạn 
nhất định, không tránh khỏi không phát hiện những 
sự phát triển bất thường ở những lúc không kiểm 
tra. Để khắc phục, nuôi cấy bằng Timelapse đã 
được ứng dụng, tuy nhiên không phải trung tâm hỗ 
trợ sinh sản nào cũng có trang bị, chỉ những bệnh 
nhân có chỉ định mới sử dụng, cũng như số lượng 
phôi nuôi cấy trong Timelapse vẫn là hạn chế. Với 
sự phát triển và ứng dụng của các kỹ thuật sinh học 
phân tử, một xu hướng mới hỗ trợ trong lựa chọn 
phôi bào không xâm lấn được đưa ra, đó chính là 
dựa vào mức độ biểu hiện của các gen trên tế bào 
hạt (cumulus cell) làm tiên lượng để đánh giá khả 
năng thụ tinh và chất lượng phôi. 
Tế bào hạt là lớp tế bào bao quanh noãn, đóng 
vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn vẹn của 
noãn, quá trình rụng trứng và thụ tinh [2]. Tế bào 
hạt không chỉ cung cấp các nội tiết tố cho noãn, 
mà còn tham gia vào quá trình tổng hợp các dưỡng 
chất cần thiết cho noãn [3]. Giữa noãn và tế bào 
hạt bao quanh noãn luôn có mối quan hệ mật 
thiết với nhau, trong đó noãn sản xuất các yếu tố 
tăng trưởng và điều hòa các chức năng của tế bào 
hạt [4] còn tế bào hạt sản xuất các gen kích thích 
sự phát triển của noãn [5], [6]. Trong số các gen 
của tế bào hạt được nghiên cứu thì gen GREM1 
(gremlin1), HAS2 (tổng hợp axit hyaluronic 2) và 
PTGS2 (cyclooxygenase 2, COX2) được chứng 
minh có liên quan đến hoạt động của GDF9 (yếu tố 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 144 - 149, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Patient(s) and method: Design: Prospective cohort study. Patient(s): 14 couples undergoing ICSI. 
Main outcome measure(s): level of GREM1, HAS2, PTGS2 gene expression in human cumulus cell 
and results of fertilization, embryo day 3 quality, embryo day 5 quality.
Result(s): Total 156 cumulus cells were collected gene expression. In oocytes with fertilization, 
cumulus GREM1 expression was 4,4-fold higher than non-fertilization (p < 0.001). GREM1 expression 
was 6-fold higher (p <0.001), HAS2 and PTGS2 was 1.8-fold higher (p = 0.0003, p = 0.009) from 
oocytes that developed to good quality day-3 embryos compared with poor quality ones. In oocytes of 
good quality day-5 embryos compared with poor quality day-5 embryos, gene expression of GREM1 
was 6,8-fold higher, (p < 0.001); HAS2 was 2.6-fold higher (p <0.001); PTGS2 was 3.4-fold higher, 
(p = 0.01). In regression logistic analysis, levels of GREM1 gene expression predicted fertilization, 
day 3 embryo quality and day 5 embryo quality.
Conclusion(s): The levels of GREM1 gene expression on the cumulus cell related to formation and 
morphology of the embryo, providing a non-invasive technique that supports the selection of embryo.
Key words: Gene expression, cumulus cell, fertilization, embryo quality, ICSI.
NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ, MÃ PHẠM QUẾ MAI, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, TRƯƠNG THỊ THANH BÌNH, HÀ THANH QUẾ, NGUYỄN ẤN BÌNH
146
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
phân biệt tăng trưởng 9) và BMPs (các protein hình 
thái xương) là thành viên của nhóm tăng trưởng 
chuyển đổi, tác động trong việc giãn nở của lớp tế 
bào hạt tạo ra một vi môi trường giàu hyaluronan 
bao bọc bảo vệ noãn sau khi phóng noãn và tác 
động quá trình thụ tinh cũng như giai đoạn phát 
triển phôi sớm sau làm tổ [7], [8]. Bên cạnh đó, 
nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng biểu hiện 
của các gen này liên quan đến khả năng thụ tinh 
và chất lượng phôi ngày 3 [9 - 11]. Do đó, nghiên 
cứu tiến hành đánh giá tương quan mức độ biểu 
hiện gen GREM1, HAS2 và PTGS2 với khả năng 
thụ tinh và chất lượng phôi nuôi cấy trên Timelapse 
nhằm tìm ra gen có khả năng dự đoán chất lượng 
phôi, hỗ trợ việc lựa chọn phôi.
2. Vật liệu và phương pháp 
nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đoàn hệ 
tiến cứu. Đối tượng nghiên cứu là 156 mẫu tế bào 
hạt thu nhận từ 14 bệnh nhân đang thực hiện ICSI 
tại bệnh viện An Sinh. Nghiên cứu được thực hiện 
từ tháng 06/2017 đến tháng 12/2017. Bệnh nhân 
tình nguyện tham gia nghiên cứu sau khi được tư 
vấn bởi chuyên viên phôi học. Tiêu chuẩn nhận: 
tuổi vợ < 35 tuổi, chu kỳ điều trị ≤ 2, thực hiện 
ICSI với phác đồ điều trị là GnRH antagonist. Tiêu 
chuẩn loại: vợ mắc phải hội chứng buồng trứng đa 
nang, lạc nội mạc tử cung; chồng bị vô tinh, thực 
hiện TESA, PESA; chỉ định IVM. 
Cách thu nhận mẫu: ngay sau khi noãn được 
chọc hút và rửa sạch, một phần tế bào hạt được xé 
bằng kim 18G, rửa và trữ đông ở -80oC trong PBS 
có bổ sung RNase inhibitor. 
Quy trình tiêm tinh trùng vào bào tương noãn 
– ICSI: Noãn sau khi tách một phần tế bào hạt được 
tiếp tục nuôi cấy, xử lý HA theo quy trình thường 
quy, sau đó thực hiện ICSI và nuôi cấy trong hệ 
thống Primo Vision Time-Lapse ở điều kiện 37oC, 
7% CO2, 5% O2. Sau khoảng 16 – 18 giờ kiểm tra 
thụ tinh dựa vào sự xuất hiện 2 tiền nhân và thể cực 
thứ hai. Vào ngày thứ 3, tiến hành kiểm tra đánh giá 
chất lượng phôi vào khoảng 68 ± 1 giờ. Vào ngày 
thứ 5, tiến hành kiểm tra đánh giá chất lượng phôi 
vào khoảng 116 ± 2 giờ. Việc đánh giá và phân 
loại chất lượng phôi dựa trên đồng thuận Alpha [1]. 
Ly trích mRNA: Các mẫu tế bào hạt được tiến 
hành ly trích mRNA bằng bộ kit chuyên dụng cho 
ly trích mRNA với số lượng tế bào thấp Reliaprep 
RNA Cell Miniprep System (Promega, USA). mRNA 
tổng số được rửa giải trong 30µl nước không chứa 
Dnase, Rnase. Chất lượng mRNA được kiểm tra khi 
đo nồng độ trên máy NanoDrop One với chỉ số 
A260/A280 trong khoảng 1,8 – 2,0. mRNA sau 
ly trích được trữ ở -80oC.
Tổng hợp cDNA: mRNA tổng số của tế bào hạt 
được tiến hành tổng hợp cDNA bằng bộ GoScript 
Reverse Transcription System (Promega, USA). 
Tổng thể tích phản ứng tổng hợp cDNA là 50µl, 
sau phản ứng được trữ ở -20oC.
Realtime PCR định lượng: cDNA của tế bào hạt 
được sử dụng thực hiện phản ứng Realtime PCR 
định lượng Taqman Probe với kit Go Taq® Probe 
qPCR Master Mix (Promega, USA) để đánh giá 
biểu hiện gen GREM1, HAS2 và PTGS2 với gen 
đối chứng là GAPDH. Mỗi mẫu tiến hành chạy lặp 
3 lần để đánh giá độ ổn định của phản ứng và tính 
Ct trung bình để sử dụng cho định lượng tương đối 
theo phương pháp 2-∆∆Ct của Livak [12] để xác 
định sự khác biệt trong biểu hiện của gen. 
Chỉ tiêu đánh giá tương quan biểu hiện gen với 
kết quả ICSI gồm: sự thụ tinh, chất lượng phôi ngày 
3 và chất lượng phôi ngày 5
Phân tích số liệu: Vì các biến biểu hiện gen 
(GREM1, HAS2, PTGS2) đều không tuân theo quy 
Đặc điểm Trung bình ± độ lệch chuẩn
Tuổi vợ (năm) 27.82 ± 4.31
Tuổi chồng (năm) 31,23 ± 3,15
Số noãn chọc hút 11.28 ± 4.50
Tỷ lệ thụ tinh (%) 78.35 ± 12.65
Tỷ lệ hình thành phôi ngày 3 (%) 85.67 ± 9.24
Tỷ lệ phôi tốt ngày 3 – phôi loại 1, 2 (%) 54.07 ± 13.71
Tỷ lệ hình thành phôi ngày 5 (%) 61.48 ± 23.54
Tỷ lệ phôi tốt ngày 5 – phôi loại 1, 2 (%) 53.38 ± 17.64
Bảng 1: Dữ liệu bệnh nhân thu nhận vào nghiên cứu
Biểu hiện Gen Median [1st Qu.; 3rd Qu.]
Thụ tinh
GREM1 2.95 [1.17; 6.77]
HAS2 1.17 [0.50; 2.46]
PTGS2 0.97 [0.44; 2.20]
Chất lượng phôi ngày 3
GREM1 1.84 [0.80; 4.28]
HAS2 1.28 [0.53; 2.65]
PTGS2 1.21 [0.54; 2.80]
Chất lượng phôi ngày 5
GREM1 1.55 [0.67; 3.60]
HAS2 1.19 [0.49; 2.45]
PTGS2 1.05 [0.47; 2.43]
Bảng 2: Mô tả mức độ biểu hiện gen ở các nhóm kết quả ICSI
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
147
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 144 - 149, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
luật phân phối chuẩn, kiểm định Wilcoxon được sử 
dụng để đánh giá sự khác biệt về mức độ biểu hiện 
gen GREM1, HAS2, PTGS2 với các kết quả ICSI. 
Sau đó, tiến hành phân tích hồi quy logistic đơn/đa 
biến để dự đoán ảnh hưởng mức độ biểu hiện gen 
GREM1, HAS2, PTGS2 lên các kết quả ICSI. Những 
gen ảnh hưởng lên từng kết quả ICSI sẽ được sử 
dụng để xây dựng đường cong ROC. Phương pháp 
thống kê Youden được sử dụng để xác định ngưỡng 
biểu hiện gen trên từng đường cong ROC. Để kiểm 
tra lại kết quả, Fisher’s exact test được sử dụng để 
so sánh sự khác biệt về tỷ lệ của các kết cục giữa 2 
nhóm trên ngưỡng và dưới ngưỡng. Giá trị p < 0,05 
được xem là có ý nghĩa thống kê và dữ liệu được xử 
lý bằng phần mềm R ver3.3.1.
3. Kết quả
Tổng số 156 tế bào hạt thu nhận được đều ly trích 
mRNA và tổng hợp cDNA thành công. Khi tiến hành 
phản ứng Realtime PCR định lượng dữ liệu biểu hiện 
gen của cả 4 gen GREM1, HAS2, PTGS2 và GAPDH 
được thu nhận trên tất cả tế bào hạt và được chia 
nhóm theo kết quả ICSI thu được là sự thụ tinh, chất 
lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5 để định 
lượng tương đối 2-∆∆Ct (dữ liệu được mô tả ở bảng 2). 
So sánh mức độ biểu hiện gen GREM1 ở tế 
bào hạt thì ở những noãn thụ tinh cao gấp 4,4 
lần (p <0,001) so với noãn không thụ tinh, ở gen 
HAS2 và PTGS2 không tìm thấy sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê nào giữa hai nhóm. Khi phân tích 
ở những noãn hình thành nên phôi ngày 3 có chất 
lượng tốt (loại 1, 2), GREM1 biểu hiện cao gấp 5,2 
lần (p < 0,001); HAS2 và PTGS2 cao gấp 2,4 lần 
(p < 0,001) so với noãn hình thành phôi có chất 
lượng kém (loại 3). Tương tự, mức độ biểu hiện 
gen GREM1 của tế bào hạt ở noãn cho phôi ngày 
5 chất lượng tốt (phôi loại 1, 2) cao gấp 6,8 lần 
(p <0,001), HAS2 cao gấp 2,6 lần (p < 0.001) và 
PTGS2 cao gấp 2,2 (p = 0.01) so với phôi ngày 5 
có chất lượng kém (phôi loại 3) (Biểu đồ 1).
Tuy cả 3 gen đều có tương quan có ý nghĩa 
thống kê đối với các chỉ tiêu kết quả ICSI nhưng 
khi phân tích hồi quy logistic đơn/ đa biến chỉ mức 
độ biểu hiện gen GREM1 dự đoán về sự thụ tinh 
(p = 0,002); chất lượng phôi ngày 3 (p <0,001) 
Biểu đồ 1: Sự khác biệt biểu hiện gen ở (A) noãn thụ tinh so với noãn không thụ tinh: GREM1 (3,5 với 0,8); HAS2 (1,3 với 1,1); PTGS2 (1,0 với 0,9); (B) noãn hình thành phôi ngày 3 chất lượng tốt so 
với noãn hình thành phôi ngày 3 chất lượng kém GREM1 (2,5 với 1,1); HAS2 (2,9 với 0,95); PTGS2 ( 3,0 với 0,9); (C) noãn hình thành phôi ngày 5 chất lượng tốt so với noãn hình thành phôi ngày 5 
chất lượng kém GREM1 (7,9 với 1,3); HAS2 (1,2 với 1,1); PTGS2 (1,1 với 1,2).
Biểu đồ 1: Sự khác biệt biểu hiện gen ở (A) noãn thụ tinh so với n ãn không thụ tinh: 
GREM1 (3,5 với 0,8); HAS2 (1,3 với 1,1); PTGS2 (1,0 với 0,9); (B) noãn hình thành 
phôi ngày 3 chất lượng tốt so với noãn hình thành phôi ngày 3 chất lượng kém GREM1 
(2,5 với 1,1); HAS2 (2,9 với 0,95); PTGS2 ( 3,0 với 0,9); (C) noãn hìn thành phôi ngày 
5 chất lượng tốt so với noãn hình thành phôi ngày 5 chất lượng kém GREM1 (7,9 với 
1,3); HAS2 (1,2 với 1,1); PTGS2 (1,1 với 1,2). 
NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ, MÃ PHẠM QUẾ MAI, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, TRƯƠNG THỊ THANH BÌNH, HÀ THANH QUẾ, NGUYỄN ẤN BÌNH
148
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
và chất lượng phôi ngày 5 (p <0,001) (Bảng 3). 
Xây dựng đường cong ROC để xác định ngưỡng 
biểu hiện gen GREM1 dự đoán cho sự thụ tinh, 
chất lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5. 
Ngưỡng biểu hiện gen GREM1 dự đoán sự thụ tinh 
là 1,1 với độ nhạy là 0,88 và độ đặc hiệu là 0,70; 
ngưỡng biểu hiện gen GREM1 dự đoán chất lượng 
phôi tốt ngày 3 là 2,8 với độ nhạy là 0,92 và độ 
đặc hiệu là 0,88; ngưỡng biểu hiện gen GREM1 dự 
đoán chất lượng phôi tốt ngày 5 là 3,2 với độ nhạy 
là 0,97 và độ đặc hiệu là 0,89 (Biểu đồ 2). 
4. Bàn luận
Kết quả của nghiên cứu một lần nữa khẳng định 
mối liên quan giữa mức độ biểu hiện gen trên tế 
bào hạt và khả năng thụ tinh, cũng như sự phát 
triển của phôi. Ở noãn thụ tinh và noãn hình thành 
phôi có chất lượng tốt đều có mức độ biểu hiện 
gen GREM1, HAS2 và PTGS2 cao hơn có ý nghĩa 
thống kê so với noãn không thụ tinh và noãn không 
hình thành phôi tốt. Kết quả này tương tự với kết 
quả trong nghiên cứu của Cillo và cộng sự [11] về 
mức độ biểu hiện của gen GREM1 và HAS2, đều 
có tương quan có ý nghĩa thống kê với sự thụ tinh 
và chất lượng phôi ngày 3. 
Nếu chỉ xét chỉ tiêu chất lượng phôi ngày 3, kết 
quả nghiên cứu của McKenzie và cộng sự [10] tuy 
có khác biệt về mức độ biểu hiện nhưng cả 3 gen 
đều có tương quan có ý nghĩa thống kê (GREM1 cao 
gấp 15 lần, HAS2 và PTGS2 cao gấp 6 lần), khác 
biệt này có thể do phác đồ điều trị của bệnh nhân ở 
nghiên cứu này là GnRH agonist. Trong các nghiên 
cứu sử dụng phác đồ GnRH agonist, cũng cho ra kết 
quả khác biệt khi mức độ biểu hiện của gen PTGS2 
tương quan nghịch với chất lượng phôi ngày 3, nghĩa 
là phôi tốt lại có mức độ biểu hiện gen PTGS2 thấp 
hơn phôi kém [6, 13], hoặc không tìm thấy mối tương 
quan có ý nghĩa thống kê với mức độ biểu hiện gen 
HAS2 và PTGS2 [14]. Trong một nghiên cứu với cỡ 
mẫu lớn (674 tế bào hạt từ 75 bệnh nhân được phân 
tích) [9], biểu hiện gen PTGS2 tương quan với chất 
lượng phôi ngày 3 có ý nghĩa thống kê nhưng không 
chứng minh được khả năng dự đoán khi xây dựng 
đường cong ROC (tương tự kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi), trong khi biểu hiện gen GREM1 có tương 
quan với chất lượng phôi ngày 3 và có khả năng dự 
đoán nhưng không cao (auc = 0,61).
Nếu lựa chọn cùng phác đồ GnRH antagonist, 
biểu hiện gen GREM1 tương quan với chất lượng 
phôi ngày 3 được chỉ ra trong nghiên cứu của 
Biểu đồ 2: Đường cong ROC thể hiện mức độ biểu hiện gen GREM1 dự đoán sự thụ tinh, chất 
lượng phôi ngày 3 và chất lượng phôi ngày 5
Thụ tinh Thụ tinh (n=120)
Không thụ tinh 
(n = 38)
OR[95%CI];
Giá trị p
OR[*95%CI];Giá 
trị p*
GREM1 3.46 [1.81; 7.85] 0.78 [0.53; 1.47] 1.32[1.13-1.62];0.003
1.34[1.14-1.65];
0.002
HAS2 1.24 [0.52; 2.51] 1.08 [0.49; 1.84] 1.25[0.98-1.70];0.111
1.31[1.00-1.03];
0.079
PTGS2 1.02 [0.42; 2.31] 0.90 [0.50; 1.59] 1.05[0.92-1.26];0.505
Chất lượng phôi 
ngày 3
Phôi tốt ngày 3 (n 
= 58)
Phôi kém ngày 3 
(n = 53)
OR[95%CI];
Giá trị p
OR[*95%CI];Giá 
trị p*
GREM1 5.74 [3.97; 10.71] 1.08 [0.54; 1.94]
2.83[2.06; 4.19];
<0.001
3.25[2.24-5.23];
<0.001
HAS2 2.43 [1.16; 4.73] 0.98 [0.45; 2.08] 1.48[1.23-1.83];<0.001
1.33[0.97-1.93];
0.092
PTGS2 2.39 [0.89; 5.00] 0.95 [0.45; 1.87] 1.12[1.03-1.24];0.016
1.14[0.97-1.34];
0.073
Chất lượng phôi 
ngày 5
Phôi tốt ngày 5 (n 
= 34)
Phôi kém ngày 5 
(n = 29)
OR[95%CI];
Giá trị p
OR[*95%CI];Giá 
trị p*
GREM1 8.22 [4.99; 14.72] 1.21 [0.49; 2.15]
4.89[2.75-
11.66];
<0.001
5.44[2.85-
15.13];
<0.001
HAS2 2.29 [1.51; 4.35] 0.93 [0.42; 2.24] 1.27[1.08-1.53];0.006
1.23[0.94-1.60];
0.098
PTGS2 1.95 [0.85; 4.29] 0.90 [0.43; 2.20] 1.04[0.95-1.13];0.383
 Chú thích: 
- Dữ liệu mô tả dưới dạng median [1st Qu.;3rd Qu.]
- Sử dụng phương pháp hồi quy logistic đơn biến để đánh giá tỷ số odds (OR) của các gen mục tiêu 
với các kết quả.
- Sử dụng phương pháp hồi quy logistic đa biến để đánh giá tỷ số odds (OR*) của các gen mục tiêu 
với các kết quả.
Bảng 3: Phân tích hồi quy logistic đơn/ đa biến các gen ảnh hưởng tới kết quả ICSI
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
149
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 144 - 149, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Assou và cộng sự [15], tuy nhiên ở nghiên cứu này 
GREM1 lại không tìm thấy tương quan có ý nghĩa 
thống kê với chất lượng phôi ngày 5, nguyên nhân 
có thể do cỡ mẫu nghiên cứu khá thấp giữa hai 
nhóm phôi ngày 5 (18 so với 12). Trong nghiên 
cứu của Wathlet và cộng sự [16], biểu hiện gen 
GREM1 tương quan với sự thụ tinh nhưng cả PTGS2 
và GREM1 lại không tìm thấy tương quan với chất 
lượng phôi nhưng lại tương quan có ý nghĩa thống 
kê với khả năng mang thai (p < 0,05). 
So với nghiên cứu của chúng tôi, các nghiên 
cứu được nêu trên có sự khác nhau về phác đồ 
điều trị, cỡ mẫu nghiên cứu, phương pháp đánh 
giá biểu hiện gen cũng như điều kiện nuôi cấy và 
theo dõi phát triển phôi nên có thể có sự khác biệt 
về kết quả tương quan, nhưng vẫn cho thấy biểu 
hiện của gen GREM1 cao thì cho kết quả thụ tinh 
và chất lượng phôi tốt hơn. Điều này cũng phù 
hợp với dữ liệu hồi quy của nghiên cứu này khi 
gen GREM1, HAS2 và PTGS2 đều có tương quan 
nhưng chỉ có gen GREM1 dự đoán được sự thụ tinh 
và chất lượng phôi có ý nghĩa thống kê. Do đó, việc 
thu nhận tế bào hạt và đánh giá mức độ biểu hiện 
gen GREM1 có thể coi là một yếu tố dự đoán chất 
lượng phôi hỗ trợ cho việc lựa chọn phôi.
5. Kết luận
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về sự 
biểu hiện gen trên tế bào hạt ở noãn người, đưa 
ra một cách tiếp cận mới trong việc lựa chọn phôi 
không xâm lấn ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử, 
trong đó, đánh giá mức độ biểu hiện gen GREM1 
có khả năng dự đoán sự thụ tinh và phát triển của 
phôi, hỗ trợ cho việc lựa chọn phôi có chất lượng tốt.
Lời cảm ơn
Xin chân thành cám ơn Công ty Cổ phần Bệnh 
viện Hy Vọng đã tài trợ kinh phí, chân thành cám 
ơn Đơn vị Hỗ trợ Sinh sản bệnh viện An Sinh và 
Trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh 
sản đã hỗ trợ cơ sở vật chất để chúng tôi thực hiện 
nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo
1. Magli MC, Jones GM, Lundin K, van den Abbeel E. Atlas of human embryology: 
from oocytes to preimplantation embryos. Preface. Hum Reprod. 2012; 27. 
2. Russell DL, Robker RL. Molecular mechanisms of ovulation: co-ordination 
through the cumulus complex. Hum Reprod Update. 2007; 13: 289–312.
3. Huang Z, Wells D. The human oocyte and cumulus cells relationship: 
new insights from the cumulus cell transcriptome. Mol Hum Reprod. 2010; 
16(10): 715-25. 
4. Assou S, Haouzi D, De Vos J, Hamamah S. Human cumulus cells as 
biomarkers for embryo and pregnancy outcomes. Mol Hum Reprod. 2010; 
16:531–538.
5. Assou S, Anahory T, Pantesco V, Le Carrour T, Pellestor F, Klein B, 
Reyftmann L, Dechaud H, De Vos J, Hamamah S. The human cumulus-oocyte 
complex gene-expression profile. Hum Reprod. 2006; 21(7): 1705-19.
6. Feuerstein P, Cadoret V, Dalbies-Tran R, Guerif F, Bidault R, Royere D. 
Gene expression in human cumulus cells: one approach to oocyte competence. 
Hum Reprod. 2007; 22(12): 3069-77.
7. Hussien TS, Froiland DA, Amato F, Thompson JG, Gilchrist RB. Oocytes 
prevent cumulus cell apoptosis by maintaining a morphogenic paracrine gradient 
of bone morphogenic proteins. Journal of Cell Science. 2005; 118: 5257-5268.
8. Pangas SA, Jorgez CJ, Matzuk MM. Growth differentiation factor 9 
regulates expression of bone morphogenetic protein antagonist gremlin. 
Journal of Biological Chemistry. 2004; 279: 32281-32286.
9. Anderson RA, Sciorio R, Kinnell H, Bayne RA. Cumulus gene expression as 
a predictor of human oocyte fertilisation, embryo development and competence 
to establish a pregnancy. Reproduction. 2009; 138: 629 – 637.
10. McKenzie LJ, Pangas SA, Carson SA, Kovanci E. Human cumulus 
granulosa cell gene expression: a predictor of fertilization and embryo selection 
in women undergoing IVF. Human Reprod. 2004; 19: 2869 – 2874
11. Cillo F, Brevini TA, Antonini S. Association between human oocyte 
developmental competence and expression levels of some cumulus genes. 
Reproduction. 2007; 134: 645 – 650.
12. Livak KJ, Schmittgen TD. Analysis of relative gene expression data using 
real-time quantitative PCR and the 2(-Delta Delta C(T)) Method. Methods. 
2001; 25(4):402-8.pre
13. Adriaenssens T, Wathlet S, Segers I, Verheyen G, De Vos A, Van der Elst 
J, Coucke W, Devroey P, Smitz J. Cumulus cell gene expression is associated 
with oocyte developmental quality and influenced by patient and treatment 
characteristics. Hum Reprod. 2010; 25(5):1259-70.
14. Gebhardt KM, Feil DK, Dunning KR, Lane M, Russell DL (2011). Human 
cumulus cell gene expression as a biomarker of pregnancy outcome after 
single embryo transfer. Fertil Steril. 2011; 96(1):47-52.e2
15. Assou S, Haouzi D, Dechaud H, Gala A, Ferrieres A, Hamamah S. 
Comparative gên expression profiling in human cumulus cell according to ovarian 
Gonadotropin treatments. Biomed Research International. 2013; 2013: 354582.
16. Wathlet S, Adriaenssens T, Segers I, Verheyen G. Cumulus cell gene 
expression predicts better cleavage – stage embryo or blastocyst development 
and pregnancy for ICSI patients. Hum Reprod. 2011; Advance Access: 1 – 17.

File đính kèm:

  • pdfmuc_do_bieu_hien_gen_o_te_bao_hat_noan_nguoi_yeu_to_du_doan.pdf