Ứng dụng thiết bị hỗ trợ tâm thất heartwarelàm cầu nối chờ ghép tim cho bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối tại Việt Nam

Mục đích: trình bày kinh nghiệm lần đầu triển khai kỹ thuật hỗ trợ tâm thất Heartware, một loại thiết bị cơ học hiện đại có dòng lưu lượng liên tục, để điều trị bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối làm cầu nối chờ ghép tim ở Việt Nam.

Phương pháp: bệnh nhân đầu tiên với chẩn đoán bệnh cơ tim giãn và suy tim giai đoạn cuối được phẫu thuật cấy thiết bị hỗ trợ hỗ trợ tâm thất Heartware để làm cầu nối chờ ghép tim tại Bệnh viện Trung ương Huế vào ngày 6/6/2014.

Kết quả: bệnh nhân trước mổ cấy thiết bị hỗ trợ thất trái mắc bệnh cơ tim giãn và bị suy tim giai đoạn cuối có phân suất tống máu thất trái giảm rất nặng EF = 17% mặc dù đã được điều trị nội khoa tối ưu và cần phải nhập viện nhiều lần trong năm và được điều trị bằng truyền tĩnh mạch thuốc trợ tim inotrope (liều trung bình 7,63±0,22 mcg/kg/phút) để duy trì sự sống. Phẫu thuật cấy thiết bị Heartware bằng cách gắn ống nhận máu của bơm vào mỏm thất trái và nối tận-Bên ống thoát máu là một mạch máu nhân tạo vào đoạn động mạch chủ lên.Thời gian để cài đặt hệ thống và phẫu thuật cấy thiết bị Heartware khoảng 5 giờ.Diễn biến hậu phẫu thuận lợi với thời gian rút ống nội khí quản là 4 giờ.

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng thiết bị hỗ trợ tâm thất heartwarelàm cầu nối chờ ghép tim cho bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng thiết bị hỗ trợ tâm thất heartwarelàm cầu nối chờ ghép tim cho bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối tại Việt Nam

Ứng dụng thiết bị hỗ trợ tâm thất heartwarelàm cầu nối chờ ghép tim cho bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối tại Việt Nam
ỨNG DỤNG THIẾT BỊ HỖ TRỢ TÂM THẤT HEARTWARELÀM CẦU NỐI CHỜ GHÉP TIM  
 21 
ỨNG DỤNG THIẾT BỊ HỖ TRỢ TÂM THẤT HEARTWARELÀM CẦU NỐI 
CHỜ GHÉP TIM CHO BỆNH NHÂN SUY TIM GIAI ĐOẠN CUỐI TẠI VIỆT NAM 
Bùi Đức Phú*, Huỳnh Văn Minh*, Trần Hoài Ân*, 
Nguyễn Lương Tấn*, Đặng Thế Uyên*, Đoàn Đức Hoằng* 
TÓM TẮT 
Mục đích: trình bày kinh nghiệm lần đầu triển 
khai kỹ thuật hỗ trợ tâm thất Heartware, một loại thiết 
bị cơ học hiện đại có dòng lưu lượng liên tục, để điều 
trị bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối làm cầu nối chờ 
ghép tim ở Việt Nam. 
Phương pháp: bệnh nhân đầu tiên với chẩn đoán 
bệnh cơ tim giãn và suy tim giai đoạn cuối được phẫu 
thuật cấy thiết bị hỗ trợ hỗ trợ tâm thất Heartware để 
làm cầu nối chờ ghép tim tại Bệnh viện Trung ương 
Huế vào ngày 6/6/2014. 
Kết quả: bệnh nhân trước mổ cấy thiết bị hỗ trợ 
thất trái mắc bệnh cơ tim giãn và bị suy tim giai đoạn 
cuối có phân suất tống máu thất trái giảm rất nặng EF 
= 17% mặc dù đã được điều trị nội khoa tối ưu và cần 
phải nhập viện nhiều lần trong năm và được điều trị 
bằng truyền tĩnh mạch thuốc trợ tim inotrope (liều 
trung bình 7,63±0,22 mcg/kg/phút) để duy trì sự sống. 
Phẫu thuật cấy thiết bị Heartware bằng cách gắn ống 
nhận máu của bơm vào mỏm thất trái và nối tận-bên 
ống thoát máu là một mạch máu nhân tạo vào đoạn 
động mạch chủ lên.Thời gian để cài đặt hệ thống và 
phẫu thuật cấy thiết bị Heartware khoảng 5 giờ.Diễn 
biến hậu phẫu thuận lợi với thời gian rút ống nội khí 
quản là 4 giờ. Các thông số huyết động cải thiện rõ 
với lưu lượng tuần hoàn tăng so với trước mổ 
(4,63±0,42 so với 1,67±0,37 lít/phút, p<0,05); trong 
khi bản chất bệnh lý cơ tim giãn với phân suất tống 
máu thất trái không thay đổi đáng kể (18,23±0,84% so 
với 17,23±0,64%, p>0,05). Các triệu chứng chức năng 
thận và gan cải thiện với lượng nước tiểu tăng 
(2,92±0,34 so với 0,9±0,29 lít/ngày, p<0,01); chức 
năng các cơ quan sau mổ cải thiện với creatinine/máu 
(68,24±14,04 U/L); SGOT (28,42±3,23 U/L); SGPT 
(28,42±3,23 U/L) trong giới hạn bình thường. Điều 
quan trong là người bệnh có chất lượng cuộc sống tốt 
hơn trước và giảm thiểu được phác đồ điều trị nội 
khoa; không phải sử dụng inotrop.Thời gian lưu bệnh 
nhân tại ICU là 72h.Thời gian nằm viện sau mổ là 14 
ngày. Cho đến nay, bệnh nhân được hỗ trợ tuần hoàn 
cơ học bởi hệ thống Heartware được hơn 1 năm với 
tốc độ vòng quay tối thiểu 2400 vòng/phút; mức năng 
lượng sử dụng thấp 3,1±0,6W; vẫn đạt được lưu lượng 
bơm tối ưu 3,8±0,6 lít/phút. Không có các biến chứng 
như thuyên tắc huyết khối hoặc nhiễm trùng. 
Kết luận:lần đầu ở Việt Nam, BVTW Huế đã ứng 
dụng thành công sử dụng thiết bị cơ học hỗ trợ tâm 
thất Heartware để điều trị và làm cầu nối cho bệnh 
nhân suy tim giai đoạn cuối chờ ghép. 
APPLICATION OF HEARTWARE 
VENTRICULAR ASSIST DEVICE AS A BRIDGE 
TO TRANSPLANTATION IN PATIENT WITH 
END-STAGE HEART FAILURE IN VIETNAM 
Bui Duc Phu, Huynh Van Minh, Tran Hoai An, 
Nguyen Luong Tan, Dang The Uyen, Doan Duc Hoang 
Abstract * 
Purpose: The purpose of this study is to describe 
initial experience with a new continuous flow, 
ventricular assist device (VAD) in the treatment of 
patients with end-stage heart failure. 
Description: the first patient with dilative 
cardiomyopathy and with end-stage heart failure 
received Heartware implantation as a bridge to cardiac 
transplantation at Hue Central Hospital on june 6, 2014. 
Evaluation: this patient was in terminal heart failure 
despite inotropic support, and he had a very poor left 
ventricular ejective fraction of 17%. Heartware implant 
technique performed by a fixed connection the pump 
inflow to the apex of left ventricule and a termino-lateral 
anastomosis for connecting the pump outflow graft to the 
ascendent aorta. Duration time for set-up the Heartware 
assist system and device implantation was about 5 hours. 
It was making a good postoperative progress with the 
ventilation time of 4 hours. The hemodynamic parameters 
were improved with an significant increasing cardiac 
output in comparison with the preoperative period 
(4,63±0,42 vs 1,67±0,37 L/min, p<0,05); EF 
(18,23±0,84% vs 17,23±0,64%, p>0,05). The functional 
signs of renal or hepatic impairment developed with 
improving the urine quantity (2,92±0,74 vs 0,9±0,29 
L/24h, p<0,01); serum creatinine (68,24±14,04 U/L); 
SGOT (28,42±3,23 U/L); SGPT (28,42±3,23 U/L). The 
most important thing is the patient having a better quality 
of life with a minimal medical treatment and unrequired 
inotropic therapy. The ICU time was 72 hours. He was 
discharged from hospital 14 days after HVAD implant. 
Until today, the mechanical circulatory support time was 
more over one year. The Heartware pump is effectively 
managed with a minimal speed of 2400 RPM; low power 
of 3,1±0,5W; and optimal pump flow of 3,8±0,6 L/min. 
There aren't HVAD post-implant complications such as a 
thromboembolic event or an infection. 
* Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Trung Ương Huế. 
Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú 
Ngày nhận bài: 20/07/2015 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/08/2015 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 22 
Conclusion: It is the first time in Vietnam, the 
HeartWare implantation has been successfully applied 
at Hue Central Hospital as a bridge to transplantation 
in a patient with end-stage heart failure. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Suy tim thường là hậu quả cuối cùng của các bệnh 
lý tim mạn tính. Những bệnh nhân suy tim có thể ổn 
định trong vài năm tiếp theo nếu điều trị theo phương 
thức nội, ngoại khoa thường qui, nhưng vẫn có một số 
lượng đáng kể diễn tiến đến suy tim tiến triển không 
hồi phục và cần được đánh giá để chỉ định ghép tim. 
Những bệnh nhân trong danh sách chờ ghép tim thường 
rất nặng và rất yếu nên không thể chờ đến khi có người 
hiến tạng hoặc đến khi có tạng tương thích thì diễn tiến 
bệnh đã nặng lên và không còn phù hợp nữa để ghép 
tim vì hạn chế tuổi tác hoặc do các vấn đề liên quan 
điều trị. Trong những trường hợp này, việc cấy thiết bị 
hỗ trợ tâm thất (VAD) nhằm mục đích duy trì sự sống. 
Theo thông báo của Hội ghép tim phổi thế giới, có 
25 báo cáo chính thức về ghép tim người lớn năm 
2008, trong đó tại thời điểm ghép, có 29% bệnh nhân 
được hỗ trợ tâm thất VAD trước đó (22% sử dụng 
thiết bị hỗ trợ thất trái - LVAD). Có 2 triệu bệnh nhân 
bị suy tim sung huyết và có đến 400.000 trường hợp 
tử vong mỗi năm ở Hoa Kỳ. Tỉ lệ tử vong ở những 
bệnh nhân được xếp vào danh sách ưu tiên 1 chờ ghép 
trên 65%. Tỉ lệ tử vong chung ở bệnh nhân chờ ghép 
tim 30% mỗi năm. Trong thập kỷ qua, lợi ích của thiết 
bị cơ học đã được ứng dụng rất nhiều trong điều trị hỗ 
trợ tâm thất do nhu cầu chờ ghép ở bệnh nhân suy tim 
giai đoạn cuối tăng, ngoài ra số lượng bệnh nhân được 
hỗ trợ VAD vĩnh viễn (liệu pháp đích) cũng tăng hơn 
và hiệu quả hơn nhờ sự cải tiến thiết bị. 
Ở Việt Nam, từ năm 2010, hỗ trợ tuần hoàn cơ 
học với khoảng thời gian hỗ trợ dài hơn từ vài ngày 
cho đến vài tuần như kỹ thuật bóng đối xung trong 
động mạch chủ IABP, oxy hóa qua màng ngoài cơ thể 
ECMO đã phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị 
tim mạch nội và ngoại khoa ngày càng tăng. Tuy 
nhiên, đây vẫn là những kỹ thuật hỗ trợ chức năng tim 
phổi một cách tạm thời ngắn hạn. Kỹ thuật hỗ trợ tâm 
thất Hearware với dòng lưu lượng liên tục lần đầu tiên 
được thực hiện tại Việt Nam trong điều trị bệnh lý suy 
tim giai đoạn cuối đã được áp dụng tại Bệnh viện 
Trung ương Huế vào tháng 6 năm 2014 và đến nay đã 
hơn 1 năm bệnh nhân này vẫn đang có chất lượng 
cuộc sống cải thiện rõ và chờ ghép. Trước nhu cầu 
điều trị bệnh lý tim mạch, chúng tôi thực hiện đề tài 
'Nghiên cứu ứng dụng thiết bị hỗ trợ tâm thất 
Heartware làm cầu nối chờ ghép tim cho bệnh nhân 
suy tim giai đoạn cuối'' nhằm tìm hiểu: 
1. Đặc điểm lâm sàng, cậnlâm sàng bệnh nhân giai 
đoạn cuối chờ ghép tim hoặc tim phổi, chỉ định và 
phương pháp chọn lựa thiết bị hỗ trợ tâm thất điều trị 
suy tim giai đoạn cuối 
2. Tiêu chuẩn chọn bệnh, phương pháp phẫu thuật 
cấy thiết bị, điều trị và quản lý bệnh nhân sau cấy thiết 
bị hỗ trợ tâm thất. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU 
1. Đối tượng nghiên cứu:bệnh nhân có các tiêu 
chuẩn chẩn đoán suy tim giai đoạn cuối (giai đoạn D) 
được đưa vào nghiên cứu với các tiêu chuẩn sau: 
1.1. Chỉ định loại I: chỉ định cho bệnh nhân suy 
tim giai đoạn D (giai đoạn cuối suy tim kháng trị, cần 
được ghép tim hay điều trị đặc biệt bằng những biện 
pháp khác tại bệnh viện), được đánh giá và lựa chọn 
kỹ mặc dù đã được điều trị theo hướng dẫn chuẩn(mức 
chứng cứ C). 
1.2. Chỉ định cấy thiết bịhỗ trợ tâm thất trong 
điều trị bệnh lý suy tim giai đoạn cuối 
- Hỗ trợ tuần hoàn cơ học rất hữu ích ở nhóm 
bệnh nhân được đánh giá và tuyển chọn kỹ lưỡng bị 
suy tim giai đoạn D có phân suất tống máu giảm. 
Những bệnh nhân này thường được dự tính hay có kế 
hoạch sẽ ghép tim hay tiên lượng sẽ hồi phục (Mức 
chứng cứ B); hoặc 
- Những thiết bị hỗ trợ tuần hoàn cơ học có thời 
gian sử dụng không lâu dài, bao gồm thiết bị hỗ trợ 
thất ngoài cơ thể hay dưới da, được dùng hợp lý cho 
những bệnh nhân bị suy tim có phân suất tống máu 
giảm kèm rối loạn huyết động nặng và cấp tính (Mức 
chứng cứ B); hoặc 
- Thiết bị hỗ trợ tuần hoàn cơ học có thời gian sử 
dụng lâu dài thích hợp để kéo dài cuộc sống cho bệnh 
nhân suy tim giai đoạn D có phân suất tống máu thấp 
(Mức chứng cứ B); hoặc 
- Đánh giá và tuyển chọn để đặt thiết bị hỗ trợ 
tuần hoàn gồm những bệnh nhân phân suất tống máu 
thất trái < 25% và NYHA III hoặc IV dù đã được điều 
trị nội khoa đúng phác đồ, dự đoán tử vong trong 
vòng 1-2 năm hoặc phụ thuộc vào truyền thuốc vận 
mạch liên tục. 
2. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang 
có theo dõi ngắn hạn 1 năm. 
2.1. Quy trình tuyển chọn bệnh nhân 
- Bệnh nhân được thăm khám khai thác tiền sử, 
bệnh sử, thăm khám lâm sàng, và các xét nghiệm cận 
lâm sàng cơ bản giúp chẩn đoán bệnh lý và đưa vào 
danh sách chờ ghép tim. 
- Tiến hành các xét nghiệm về huyết học, sinh 
hóa, vi sinh vật, thăm dò chức năng và chẩn đoán hình 
ảnh... để đánh giá tình trạng bệnh lý suy tim và chức 
năng các cơ quan khác. 
- Thăm dò chuyên sâu về hình thái và chức năng 
tim, phổi phục vụ công tác đánh giá, phân tầng nguy 
cơ, tiên lượng khả năng thành công của kỹ thuật cấy 
thiết bị cơ học hỗ trợ tâm thất. 
2.2. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng: 
tuổi giới, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, tần 
số tim, phân độ suy tim theo NYHA, chỉ số độ nặng 
ỨNG DỤNG THIẾT BỊ HỖ TRỢ TÂM THẤT HEARTWARELÀM CẦU NỐI CHỜ GHÉP TIM  
 23 
suy tim (HFS): được cho điểm khi có các triệu chứng 
theo tiêu chuẩn Framingham, tiêu chuẩn chính cho 1 
điểm và tiêu chuẩn phụ cho 0,5 điểm, tổng điểm số có 
được là chỉ số độ nặng suy tim và những triệu chứng 
nặng khác qua thăm khám các bệnh lý kèm theo. 
2.3. Tuyển chọn 01 bệnh nhân trong số 20 bệnh 
nhân suy tim giai đoạn cuối có chỉ định sử dụng thiết 
bị cơ học hỗ trợ tâm thất Heartware để làm cầu nối 
chờ ghép tim. Đánh giá trước mổ dựa vào tiêu chuẩn 
chọn bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối và có chỉ định 
phù hợp với nguyên lý và cấu tạo của thiết bị hỗ trợ 
tâm thất Hearware như sau: 
- Sử dụng thiết bị Heartware làm cầu nối chờ 
ghép tim; 
- Sử dụng thiết bị Heartware như là liệu pháp điều 
trị đích hoặc làm cầu nối chờ hồi phục; 
- Suy tim nặng NYHA IV có thời gian từ 60-90 
ngày trở lên; 
- Không dung nạp sau khi đã tối ưu điều trị nội và 
cấy thiết bị CRT/ICD nếu có chỉ định; 
- Bệnh nhân lệ thuộc mạn tính với thước trợ tim 
tĩnh mạch inotrope; 
- Phân suất tống máu thất trái giảm nặng LVEF < 25%; 
- Áp lực đổ đầy thất trái tăng cao với PCwP>=20mmHg; 
- Huyết áp tâm thu giảm<80-90mmHg, or cung 
lượng tim giảm nặng với chỉ số tim CI<2L/min/m2 hoặc 
suy giảm chức năng thận hoặc chức năng thất phải. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân chờ ghép và có định cấy thiết bị cơ học hỗ trợ tâm thất 
Bảng 3.1: Bệnh nguyên và số trường hợp bệnh nhân 
Số bệnh nhân Số trường hợp Chẩn đoán 
n % 
Tổng cộng 
Tăng áp phổi nguyên phát 2 16,67 
Tim bẩm sinh, Eisenmenger 7 58,33 Chờ ghép tim hoặc chờ ghép tim phổi 
Các suy tim khác có tăng áp phổi 3 25,00 
12 
Bệnh cơ tim giãn 6 75 Chỉ định thiết bị hỗ 
trợ Heartware Bệnh cơ tim giãn có tăng áp phổi 2 25 8 
Nhận xét: chủ yếu là bệnh tim bẩm sinh có đảo chiều luồng thông trong tim, những bệnh nhân có chỉ định 
cấy thiết bị cơ học hỗ trợ tâm thất chủ yếu mắc bệnh cơ tim giãn. 
Bảng 3.2: tuổi, các chỉ số nhân trắc, huyết áp và tần số tim 
Chờ ghép tim hoặc tim phổi Có chỉ định thiết bị hỗ trợ tâm thất Chung 
X SD X SD X SD 
Tuổi 24,75 12,36 38,00 15,72 29,8 14,53 
Cân nặng 42,75 9,24 49,63 14,32 45,37 11,98 
Chiều cao 155,25 23,12 160,50 16,24 157,25 19,21 
Tần số tim 106,58 23,11 101,88 15,27 104,79 19,92 
HA tâm thu 105,00 21,79 110,00 18,92 106,90 19,27 
HA T trương 65,00 5,26 66,25 5,12 65,48 5,18 
Nhận xét: tuổi trung bình ở nhóm bệnh nhân chờ ghép tim phổi còn khá trẻ. Các chỉ số nhân trắc, huyết áp 
và tần số tim không khác biệt rõ ở hai nhóm. 
Bảng 3.3 Đánh giá mức độ suy tim chỉ số độ nặng theo NYHA: 
Chờ ghép tim hoặc 
tim phổi 
Có chỉ định cấy thiết bị 
hỗ trợ tâm thất Chung Phân độ suy tim theo NYHA 
n % n % N % 
NYHA II 0 00,00 1 12,50 1 05,00 
NYHA III 9 75,00 5 62,50 14 70,00 
NYHA IV 3 25,00 2 25,00 5 25,00 
Chỉ số độ nặng suy tim (HFS)>2 12 100,0 8 100,00 20 100,0 
Nhận xét: bệnh nhân chủ yếu bị suy tim ở giai đoạn NYHA III và IV. 100% bệnh nhân vào viện đều có chỉ 
số độ nặng suy tim > 2 điểm. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 24 
Bảng 3.4: các chỉ số về sinh hóa máu đánh giá chức năng cơ quan 
Chờ ghép tim 
hoặc tim phổi 
Có chỉ định cấy thiết bị 
hỗ trợ tâm thất Chung Sinh hóa máu 
X SD X SD X SD 
Ure 7,03 2,19 6,20 2,91 6,74 2,51 
Creatinine 91,67 12,73 93,14 11,34 92,18 11,84 
Glucose 4,88 1,02 5,04 1,18 4,94 1,07 
HCO3 ˉ 23,00 5,01 22,63 4,25 22,86 4,87 
SGOT 32,92 21,78 33,00 23,48 32,95 22,94 
SGPT 20,33 11,23 18,86 7,92 19,82 10,21 
Pro-BNP 1308.25 305,92 992,83 402,93 1213,63 357,91 
CRP 10,78 9,23 6,96 4,21 9,17 6,79 
Protein 56,67 3,02 68,67 7,29 65,11 5,76 
Nhận xét: có chỉ số sinh hóa và chức năng tạng trong giới hạn cho phép đảm bảo cho khả năng thành công 
thực hiện kỹ thuật cấy thiết bị cơ học hỗ trợ tâm thất và ghép tạng về sau. 
Bảng 3.5: Các bệnh lý gan, thận và các rối loạn khác kèm theo: 
Chờ ghép tim 
hoặc tim phổi 
Có chỉ định cấy thiết bị 
hỗ trợ tâm thất Chung 
N % n % n % 
Tăng Creatinine 2 16,67 1 12,50 3 15,00 
Tăng men gan 1 8,33 1 12,50 2 10,00 
Rối loạn điện giải 3 25,00 2 25,00 5 25,00 
Rối loạn khí máu 6 50,00 2 25,00 8 40,00 
Nhận xét: những bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối có tỉ lệ đáng kể suy đa tạng đáng kể. Tỷ lệ các trường 
hợp có rối loạn khí máu cao hơn hẳn ở bệnh nhân chờ ghép tim phổi. 
Bảng 3.6: Phân bố các nhóm máu theo ABO: 
Chờ ghép tim hoặc tim phổi Có chỉ định cấy thiết bị hỗ trợ tâm thất Chung Nhóm máu 
N % n % n % 
Nhóm A 4 33,33 3 37,50 7 35,00 
Nhóm B 5 41,67 3 37,50 8 40,00 
Nhóm O 2 16,67 1 12,50 3 15,00 
Nhóm AB 0 00 1 12,50 1 5,00 
Nhận xét: có đầy đủ bệnh nhân ở các nhóm máu 
ABO khác nhau trong nhóm có chỉ định sử dụng thiết 
bị cơ học hỗ trợ tâm thất và chờ ghép. 
3.2 Trường hợp đầu tiên ứng dụng thiết bị hỗ 
trợ tâm thất Heartware làm cầu nối chờ ghép tim tại 
Việt Nam 
- Kết quả thăm khám và đánh giá trước mổ: 
tuyển chọn 01 bệnh nhân nam, 39 tuổi, mắc bệnh cơ 
tim giãn, và có tiền sử suy tim đã hơn 10 năm. Bệnh 
nhân bắt đầu biểu hiện suy tim mức độ nặng NYHA 
III-IV từ năm 2009, phân độ suy tim ACC/AHA giai 
đoạn D. kết quả thăm khám siêu âm tim gần nhất ghi 
nhận các buồng tim giãn lớn, đường kính thất trái 
cuối tâm trương rất lớn LVtdD=88mm; chức năng 
tim giảm nghiêm trọng với phân suất tống máu thất 
trái rất thấp LVEF=17%. Kết quả thông tim chẩn 
đoán nổi bật với chỉ số áp lực đổ đầy thất trái tăng 
cao với PCwP=26mmHg; cung lượng tim giảm nặng 
với chỉ số tim CI=1,16 L/min/m2. Bệnh nhân đang 
được điều trị nội khoa tối ưu, nhưng bệnh không 
thuyên giảm và nhiều đợt cấp suy tim nặng với tần 
suất > 5 lần nhập viện / năm 2013, và phải sử dụng 
inotrope với dobutamine khá cao 7,63±0,22 
mcg/kg/phút. Bệnh nhân có nhóm máu AB.Rh+ khá 
hiếm để tìm được người hiến tạng phù hợp. Các xét 
nghiệm tiền phẫu vẫn duy trì đảm bảo thành công 
phẫu thuật, đặc biệt chức năng thất phải đảm bảo cho 
khả năng bơm máu làm đầy thiết bị hỗ trợ cơ học với 
chỉ số vân động vòng van 3 lá TAPSE=15mm. 
- Kết quả phẫu thuật cấy thiết bị hỗ trợ tâm thất 
Heartware: tùy theo thế hệ của thiết bị hỗ trợ tâm thất, 
loại thiết bị hỗ trợ thất trái LVAD Heartware có ống 
nhận máu được nối vào mỏm tim và ống thoát máu được 
nối vào động mạch chủ lên. 
ỨNG DỤNG THIẾT BỊ HỖ TRỢ TÂM THẤT HEARTWARELÀM CẦU NỐI CHỜ GHÉP TIM  
 25 
Hình 1. Phẫu thuật lắp đặt ống nhận máu từ mỏm tim vào thiết bị Heartware VAD 
Hình 2. Nối ống dẫn máu vào ĐMC, xuyên dây truyền động ra da nối bộ phận điều khiển 
Hình 3. Kiểm tra vị trí và thực hiện vận hành thiết bị hỗ trợ tâm thất Heartware VAD 
- Biểu đồ 1. Kết quả cải thiện lưu lượng tuần hoàn 
Nhận xét: bệnh nhân có cung lượng tim giảm nặng 
trước mổ và lưu lượng tuần hoàn cải thiện rất rõ sau 
mổ (4,63±0,42 so với 1,67±0,37 L/phút, p0,05). 
- Biểu đồ 2. Kết quả chức năng tim, phân suất 
tống máu thất trái 
Nhận xét: bệnh nhân không có cải thiện phân suất 
tống máu thất trái đáng kể(LVEF trước mổ 18,23±0,84% 
so vớiLVEF sau mổ17,23±0,64%, p0,05) 
- Biểu đồ 3. Kết quả cải thiện chức năng tạng 
Nhận xét: Cải thiện lượng nước tiểu/24h(2,92±0,34 
so với 0,9±0,29 L/24h, p0,01), và chức năng cơ quan 
sau mổ creatinine máu (68,24±14,04 U/L);SGOT 
(22,42±3,23 U/L);SGPT (12,42±2,23 U/L). 
- Kết quả điều trị hồi sức sau mổ với thời gian thở 
máy 4 giờ, thời gian điều trị ICU 72 giờ và thời gian 
nằm viện 14 ngày. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 26 
Hình 4. Chăm sóc bệnh nhân Heartware VAD tại phòng hồi sức tim, BVTW Huế 
Hình 5. Bệnh nhân được hỗ trợ cơ học tâm thất ra viện và tái khám định kỳ sau 1 năm 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân chờ ghép có chỉ 
định sử dụng thiết bị cơ học hỗ trợ tâm thất 
Trong việc tuyển chọn bệnh nhân, chúng tôi 
chia làm hai nhóm: một nhóm với các bệnh lý tim 
trái gây giảm chức năng thất trái và có chỉ định sử 
dụng thiết bị cơ học hỗ trợ thất phần lớn có bệnh lý 
cơ tim giãn do các nguyên nhân khác nhau; một 
nhóm gồm những chờ ghép tim hoặc tim phổi 
gồmnhững bệnh nhân tăng áp phổi do các nguyên 
nhân có thể gây suy tim phải. Có những trường hợp 
không thể chỉ định đặt heartwere hỗ trợ tâm thất trái 
ở bệnh nhân đồng thời bị giảm chức năng thất phải 
nghiêm trọng vì có khả năng làm đầy thiết bị kém 
làm giảm hiệu quả của hoạt động bơm cơ học. 
Theo các nghiên cứu và khuyến cáo về ghép khối 
tim phổi, độ tuổi của bệnh nhân được chọn làm người 
nhận có thể lên đến 60 tuổi, nhưng chúng tôi chỉ chọn 
độ tuổi từ 18 - 50 tuổi, là độ tuổi có thể trải qua quá 
trình điều trị lâu dài và có thể trải qua cuộc phẫu thuật 
lớn cũng như việc điều trị thuận lợi sau ghép. Tuy 
nhiên tất cả các lứa tuổi đều có thể gặp bệnh cơ tim 
giãn nguyên phát, nhưng lứa tuổi thường gặp nhất là 
tuổi trung niên từ 20 - 40 tuổi. Trong nghiên cứu này, 
tuổi trung bình ở nhóm bệnh nhân chờ ghép tim hoặc 
tim phổi thấp hơn nhóm có chỉ định sử dụng thiết bị 
cơ học hỗ trợ tâm thất. Các chỉ số nhân trắc, huyết áp 
và tần số tim không khác biệt rõ ở hai nhóm, đồng 
thời có khác biệt rõ trong nhóm có chỉ định sử dụng 
thiết bị cơ học hỗ trợ tâm thất, điều này có lẽ là bởi tỷ 
lệ nam nữ khác biệt trong bệnh lý cơ tim giãn là bệnh 
nguyên chính trong nhóm bệnh được chọn để sử dụng 
thiết bị hỗ trợ. 
4.2. Kết quả ứng dụng đầu tiên thiết bị hỗ trợ 
thất trái Heartware làm cầu nối chờ ghép cho bệnh 
nhân suy tim giai đoạn cuối ở Việt Nam 
Điều trị nội khoa tích cực đóng vai trò quan trọng 
cho những bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối nhằm 
duy trì sống còn và cải thiện chất lượng cuộc sống. 
Điều trị nội khoa có thể phối hợp hiệu quả với các 
biện pháp điều trị hỗ trợ khác. Trong nghiên cứu này, 
chúng tôi không đưa vào các trường hợp điều trị phối 
hợp với các thiết bị ICD hoặc CRT hoặc cả hai loại 
mà mong muốn trình bày một phương thức mới khác 
ứng dụng công nghệ thiết bị Heartware VAD để hỗ trợ 
cơ học một cách trực tiếp có hiệu quả cho tâm thất 
đang bị suy yếu. 
Trường hợp đầu tiên ứng dụng thiết bị hỗ trợ tâm 
thất là một bệnh nhân nam mắc bệnh cơ tim giãn có 
tiền sử suy tim tiến triển nặng NYHA III-IV trên 5 
năm, nhiều đợt nhập viện trong năm trước khi nhận 
thiết bị hỗ trợ cơ học với chức năng tim ngày càng 
giảm nghiêm trọng, chỉ số phân suất tống máu thất trái 
LVEF dao động rất thấp 17-23% và lệ thuộc mạn tính 
với thuốc điều trị trợ tim tĩnh mạch inotrope. Đây là 
trường hợp đầu tiên nên chúng tôi chủ động tuyển 
chọn bệnh nhân có chức năng thất phải bảo tồn để duy 
trì khả năng làm đầy thiết bị giúp hoạt động bơm máu 
đạt hiệu quả cao nhất.Một số tác giả ngoài nước vẫn 
tiến hành cấy thiết bị hỗ trợ thất trái LVAD nhưng 
ỨNG DỤNG THIẾT BỊ HỖ TRỢ TÂM THẤT HEARTWARELÀM CẦU NỐI CHỜ GHÉP TIM  
 27 
đồng thời hỗ trợ chức năng thất phải bằng ECMO 
hoặc loại thiết bị hỗ trợ chức năng thất phải RVAD 
ngắn hạn với mục đích chờ hồi phục chức năng thất 
phải để cải thiệt hiệu quả hoạt động bơm cơ học 
LVAD về sau. 
Đặc điểm huyết động trước phẫu thuật cấy thiết 
bị hỗ trợ thất trái LVAD của bệnh nhân này vốn 
giảm thấp nghiêm trọng càng ảnh hưởng xấu đến 
chức năng tim đang bị suy yếu và đến các tạng khác 
như gan và thận. Giá trị cung lượng tim đo bởi 
catheter Swan-Ganz bằng phương pháp pha loãng 
nhiệt độ rất thấp CO=1,67 lít/phút tương ứng chỉ số 
tim CI=1,17 lít/phút/m2. Giá trị trung bình của chỉ 
số này được báo cáo tại INTERMARC năm 2012 là 
CI=2,1±0,6 bởi một nghiên cứu trên 322 bệnh nhân 
suy tim giai đoạn cuối. Hầu hết những bệnh nhân có 
nguy cơ cao trong nghiên cứu này đều được chỉ 
định sử dụng thiết bị VAD để làm cầu nối chờ ghép. 
Chỉ số phân suất tống máu thất trái LVEF trung 
bình của nghiên cứu này tương đương với kết quả 
của bệnh nhân mà chứng tôi thực hiện 
LVEF=17,4±7,4%. 
Kết quả thăm dò chức năng các cơ quan như 
gan, thận qua đánh giá lưu lượng nước tiểu trong 24 
giờ và biến thiên nồng độ urê, creatinine huyết 
thanh phù hợp với sự cải thiện lưu lượng tuần hoàn 
của người bệnh. Sự tưới máu cơ quan cải thiện góp 
phần rõ nét phục hồi thể lực người bệnh và do đó 
người bệnh có chất lượng cuộc sống tốt hơn, có thể 
trở về sống trong cộng đồng, sinh hoạt và làm việc 
gần như một người bình thường. Tuy vậy, việc 
chăm sóc, giáo dục người bệnh tiếp cận một kỹ 
thuật công nghệ mới tại bệnh viện và qua các đợt tái 
khám định kỳ có vai trò quan trọng để trong việc 
hướng dẫn sử dụng cũng như duy trì hoạt động hiệu 
quả và lâu dài của hệ thống hỗ trợ tâm thất 
Hearware VAD. 
V. KẾT LUẬN 
Điều trị nội khoa tích cực hỗ trợ cho bệnh nhân 
suy tim giai đoạn cuối có vai trò quan trọng, tuy 
nhiên, cần phải phối hợp với những phương thức điều 
trị khác như phẫu thuật hay sử dụng các thiết bị cơ 
học để hỗ trợ lưu lượng máu nhưng phải thích hợp với 
tình trạng và giai đoạn bệnh lý. Những bệnh nhân suy 
tim giai đoạn cuối chờ ghép tim hoặc tim phổi tại 
BVTW Huế chủ yếu mắc bệnh cơ tim giãn, mức độ 
suy tim NYHA III-IC, và đa số có chỉ định sử dụng 
thiết bị hỗ trợ tâm thất VAD để hỗ trợ lưu lượng tuần 
hoàn và tưới máu cơ quan do đó cải thiện chất lượng 
cuộc sống trong thời gian chờ nhận được tạng hiến 
tương thích. 
Kết quả bước đầu ứng dụng thiết bị hỗ trợ tâm thất 
Heartware để làm cầu nối chờ ghép tim ở bệnh nhân 
suy tim giai đoạn cuối tại BVTW Huế cho thấy khả 
năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong 
điều trị bệnh lý tim mạch của các thầy thuốc Việt 
Nam. Xu hướng phát triển kỹ thuật hỗ trợ tuần hoàn 
cơ học với mục đích điều trị vĩnh viễn như là liệu 
pháp điều trị đích dường như dễ chấp nhận hơn ở 
những đối tượng bệnh lý này vốn chịu một phác đồ 
điều trị thuốc nghiêm ngặt trong thời gian dài trước và 
sau khi ghép tạng, trong khi người bệnh được cấy thiết 
bị hỗ trợ tâm thất chỉ tiếp nhận phác đồ dơn giản nhất 
và có chất lượng cuộc sống tốt hơn nhiều. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Aaronson KD, Patel H, Pagani FD. Patient 
selection for left ventricular assist device 
therapy. Ann Thorac Surg 2003; 75: S29-35. 
2. Ashton RC Jr, Goldstein DJ, Rose EA, Weinberg 
AD, Levin HR, Oz MC. Duration of left ventricular 
assist device support affects transplant survival. J 
Heart Lung Transplant 2006; 15: 1151-7. 
3. Deng MC, Edwards LB, Hertz MI, Rowe AW, 
Keck BM, Kormos R, et al. International Society 
for Heart and Lung Transplantation. Mechanical 
circulatory support device database of the 
International Society for Heart and Lung 
Transplantation: third annual report-2005. J 
Heart Lung Transplant 2005; 24:1182-7. 
4. DeRose JJ Jr, Umana JP, Argenziano M, Catanese 
KA, Levin HR, Sun BC, et al. Improved results for 
postcardiotomy cardiogenic shock with the use of 
implantable left ventricular assist devices. Ann 
Thorac Surg 2007; 64: 1757-63. 
5. DeRose JJ Jr, Umana JP, Argenziano M, 
Catanese KA, Gardocki MT, Flannery M, et al. 
Implantable left ventricular assist devices 
provide an excellent outpatient bridge to 
transplantation and recovery. J Am Coll Cardiol 
2007; 30:1773-7. 
6. DiGiorgi PL, Rao V, Naka Y, Oz MC. Which 
patient, which pump? J Heart Lung Transplant 
2013; 22: 221-35. 
7. Frazier OH. The development of an implantable, 
portable, electrically powered left ventricular 
assist device. Semin Thorac Cardiovasc Surg 
2009; 6: 181-7. 
8. George RS, Yacoub MH, Bowles CT, Hipkin M, 
Rogers P, Hallas C, et al. Quality of life after 
removal of left ventricular assist device for 
myocardial recovery. J Heart Lung Transplant 
2008; 27:165-72. 
9. Goldstein DJ. Thermo Cardiosystems ventricular 
assist devices. In: Goldstein DJ, Oz MC, editors. 
Cardiac Assist Devices. Armonk, NY: Futura; 
2010. p.307-21. Vural K.M. Ventricular assist 
device applications Anadolu Kardiyol Derg 128 
2008: 8: Özel Say› 2; 117-30 

File đính kèm:

  • pdfmuc_dich_trinh_bay_kinh_nghiem_lan_dau_trien_khai_ky_thuat_h.pdf