Một số yếu tố tiên lượng lạc nội mạc tử cung tái phát

Mục tiêu: Đánh giá một số yếu tố giúp tiên lượng tái phát LNMTC. Đối tượng và phương

pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 156 bệnh nhân được chẩn đoán LNMTC tái phát điều

trị tại khoa Phụ sản – BVTW Huế từ 2009 – 2011. Kết quả: LNMTC tái phát chiếm 21,8 % (34/156

trường hợp). Tuổi trung bình trong nghiên cứu: 31,2 ± 6,9 (tuổi). Thời gian theo dõi trung bình:

20,7 ± 9,3 tháng. Thống kinh 79,4 %; Đau khi giao hợp: 55,9 %; Nắn thấy khối bất thường ở hạ

vị: 70,6 %; Điểm số trung bình theo ASRM: 37,8 ± 10,4. CA125 trung bình: 78,3 ± 12,8 (IU/mL);

Đường kính trung bình của khối u lớn nhất trên siêu âm: 31,4 ± 3,1 (mm).

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố tiên lượng lạc nội mạc tử cung tái phát", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số yếu tố tiên lượng lạc nội mạc tử cung tái phát

Một số yếu tố tiên lượng lạc nội mạc tử cung tái phát
162 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG LẠC NỘI MẠC 
TỬ CUNG TÁI PHÁT
Đinh Thị Phương Minh*, Lê Sỹ Phương*, Bạch Cẩm An*, Phan Viết Tâm*, 
Lê Minh Toàn*, Nguyễn Văn Tuấn**, Nguyễn Hữu Hồng*, Hồ Thị Phương Thảo*
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá một số yếu tố giúp tiên lượng tái phát LNMTC. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 156 bệnh nhân được chẩn đoán LNMTC tái phát điều 
trị tại khoa Phụ sản – BVTW Huế từ 2009 – 2011. Kết quả: LNMTC tái phát chiếm 21,8 % (34/156 
trường hợp). Tuổi trung bình trong nghiên cứu: 31,2 ± 6,9 (tuổi). Thời gian theo dõi trung bình: 
20,7 ± 9,3 tháng. Thống kinh 79,4 %; Đau khi giao hợp: 55,9 %; Nắn thấy khối bất thường ở hạ 
vị: 70,6 %; Điểm số trung bình theo ASRM: 37,8 ± 10,4. CA125 trung bình: 78,3 ± 12,8 (IU/mL); 
Đường kính trung bình của khối u lớn nhất trên siêu âm: 31,4 ± 3,1 (mm). LNMTC tái phát ở 
nhóm < 30 tuổi (32,4 %), giai đoạn III – IV (27,5 %) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm còn lại. Nhóm 
bệnh nhân LNMTC tái phát được phẫu thuật đơn thuần so với nhóm điều trị nội khoa kết hợp 
phẫu thuật không có sự khác biệt (p > 0,05). Kết luận: Tuổi < 30, giai đoạn III – IV/ASRM tại thời 
điểm chẩn đoán LNMTC có ý nghĩa tiên lượng tái phát LNMTC. Không có khác biệt về tỉ lệ 
LNMTC tái phát theo phương pháp điều trị được tìm thấy trong nghiên cứu này. 
Abstract: 
Prognostic factors in recurrence of endometriosis
Objectives: To evaluate prognostic factors in recurrence of endometriosis. Method: 
Prospective – descripstive study. We studied 156 patients diagnosed with recurrence of 
endometriosis from 2009 – 2011 at Obs & Gyn Department of Hue Central Hospital. Result: 
Rate of recurrence of endometriosis: 21,8 % (34/156 cas). Mean age: 31,2 ± 6,9; mean of follow-
up duration: 20,7 ± 9,3 months. Dysmenorrhoea, dyspareunia, pelvic masses are respectively 
79,4 %; 55,9 % and 70,6 %; mean of ASRM score: 37,8 ± 10. Mean of serum CA 125: 78,3 ± 12,8 
(IU/mL); %); mean of the largest tumor size: 31,4 ± 3,1mm. Recurrence of endometriosis in the 
groups of women < 30 years old (32,4 %); stage III – IV/ASRM (27,5 %) are significant higher 
than other groups. Previous treatment is not a significant factor (p > 0,05). Conclusions: The 
prognostic factors of recurrence of endometiosis are younger age, ARSM stage. There is no 
significant difference with previous treatment methods for recurrence of endometriosis.
(*) Bệnh viện Trung ương Huế, (**) Trường Cao đẳng Y tế Huế
Đặt vấn đề
Lạc nội mạc tử cung (LNMTC) đặc trưng 
bởi sự hiện diện của mô NMTC bên ngoài 
buồng tử cung như buồng trứng, phúc 
mạc, dây chằng tử cung – cùng, túi cùng 
Douglas, [4][10]. Triệu chứng thường gặp 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 162-166, 2012
Đinh Thị Phương Minh/Lê Sỹ Phương/Bạch Cẩm An/Phan Viết Tâm/Lê Minh Toàn/Nguyễn Văn Tuấn/Nguyễn Hữu Hồng/ Hồ Thị Phương Thảo l 163
là đau hố chậu mãn, các triệu chứng khác có 
thể gặp là: đau lưng, đau khi giao hợp, đại 
và tiểu tiện đau... [10][32]. LNMTC xuất hiện 
với tỉ lệ khoảng 10% ở các phụ nữ trong lứa 
tuổi sinh đẻ [10].
Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán LNMTC 
là quan sát thấy khối u hoặc tổn thương 
LNMTC qua phẫu thuật nội soi hay phẫu 
thuật hở [2][12]. Việc điều trị LNMTC bao 
gồm cả phẫu thuật và điều trị nội khoa [10]
[25][32]. Tuy nhiên, tỉ lệ LNMTC sau điều 
trị thay đổi theo từng nghiên cứu: Theo 
Guo (2009) khoảng 21,5% sau 2 năm và tăng 
lên 40 – 50 % sau 5 năm [5]; Theo Wellbery 
(1999) tái phát LNMTC chiếm 19% sau 5 
năm [25]. 
Có nhiều yếu tố nguy cơ giúp tiên lượng 
tái phát LNMTC đã được biết đến như 
tuổi phát hiện bệnh, điểm số - giai đoạn 
ARSM, phương pháp điều trị trước đó, 
tỉ lệ có thai sau điều trị,  [5]. Tuy nhiên 
vẫn còn nhiều vấn đề bàn cãi xung quanh 
các nghiên cứu này. Xuất phát từ lý do trên 
chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá 
một số yếu tố tiên lượng tái phát LNMTC” với 
các mục tiêu sau:
1. Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng, 
cận lâm sàng ở bệnh nhân LNMTC tái phát.
2. Đánh giá một số yếu tố tiên lượng tái 
phát LNMTC.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu trên 
156 bệnh nhân được chẩn đoán LNMTC có 
theo dõi từ năm 2009 – 2011.
• Tiêu chuẩn chọn bệnh:
o Bệnh nhân LNMTC được chẩn đoán 
LNMTC điều trị bằng phẫu thuật đơn thuần 
hoặc phẫu thuật kết hợp với nội khoa hỗ 
trợ bằng GnRH agonist. Đồng ý tham gia 
nghiên cứu.
o Được theo dõi định kỳ 3 tháng/lần từ 
2009 – 2010.
• Tiêu chuẩn loại trừ:
o Bệnh nhân không tuân thủ phác đồ 
điều trị hoặc mất dấu theo dõi. Bệnh nhân 
không đồng ý tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: 
• Nghiên cứu mô tả - tiến cứu.
• Các bước tiến hành:
o Hỏi bệnh, khám lâm sàng, tiến hành 
các xét nghiệm cận lâm sàng.
o Nội soi chẩn đoán giai đoạn và giải 
quyết nguyên nhân nếu có thể. Đối với 
bệnh nhân nhập viện giai đoạn muộn (III 
– IV) thì sẽ được kết hợp điều trị nội khoa 
và phẫu thuật.
o Sau khi xuất viện bệnh nhân được theo 
dõi định kỳ 3 tháng/lần đánh giá tình trạng 
lâm sàng, siêu âm, CA125, tình trạng có thai 
sau điều trị trong suốt thời gian tham gia 
nghiên cứu. 
o Bệnh nhân được chẩn đoán LNMTC 
tái phát trên siêu âm ở buồng trứng dựa 
theo tiêu chuẩn của Kupfer: (1) khối echo 
kém đồng nhất, (2) khối echo hiện diện ở 
một nang hay nhiều nang ở các vị trí khác 
nhau, (3) nếu nang nghi ngờ sẽ siêu âm 
kiểm tra vào đầu pha noãn của chu kỳ 
sau. Nhóm bệnh nhân này sẽ được đánh 
giá mức độ dính trên lâm sàng để có chỉ 
định phẫu thuật ngay hoặc điều trị nội 
khoa hỗ trợ trước mổ. Kết quả chẩn đoán 
LNMTC tái phát được xác định sau lần 
phẫu thuật này.
Xử lý số liệu: Nhập và xử lý số liệu bằng 
phần mềm EPI 2002.
Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Trong các năm 2009 – 2011 chúng tôi 
đã tiếp nhận điều trị cho 156 bệnh nhân 
LNMTC và ghi nhận 34 trường hợp LNMTC 
tái phát.
Bảng 1. Đặc điểm chung
Tuổi trung bình 31,2 ± 6,9 (tuổi)
Tỉ lệ tái phát 21,8 %
Thời gian theo dõi 
trung bình
20,7 ± 9,3 tháng
164 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Nghiên cứu tại BV Từ Dũ của tác giả 
Trần Thị Lợi và CS ghi nhận tuổi trung bình 
trong nghiên cứu là 31,1 ± 5,5 tuổi [1]. Theo 
Jee và CS (2007), độ tuổi trung bình trong 
nghiên cứu là 35,5 ± 7,9 tuổi [6]. Nghiên 
cứu của Lee và CS (2010) báo cáo độ tuổi 
trung bình là 30,1 ± 4,3 tuổi [8]. Không có 
sự khác biệt về độ tuổi so với nghiên cứu 
của chúng tôi (p > 0,05).
Tỉ lệ LNMTC tái phát trong nghiên cứu 
của chúng tôi là 21,8 %. Tác giả Guo và CS 
(2009) báo cáo tỉ lệ tái phát LNMTC sau 2 
năm là 21,5% [5], Koga và CS (2006) báo cáo 
tỉ lệ tái phát sau phẫu thuật nội soi là (68/224 
trường hợp) 30,4% [7]. Kết quả này cũng phù 
hợp với nghiên cứu của chúng tôi (p > 0,05). 
Bảng 2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm LNMTC tái phát
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm LNMTC tái phát n %
Triệu chứng LS Thống kinh 27/34 79,4
Đau khi giao hợp 19/34 55,9
Nắn thấy khối bất thường ở hạ vị 24/34 70,6
Tử cung dính khi thăm khám 34/34 100
Điểm số trung bình theo ASRM 37,8 ± 10,4
Triệu chứng CLS CA125 trung bình (IU/mL) 78,3 ± 12,8
Đường kính trung bình của khối u lớn 
nhất trên siêu âm (mm)
31,4 ± 3,1
Trần Đình Vinh (2010) nghiên cứu 150 
bệnh nhân LNMTC ghi nhận có 72,0% trường 
hợp có biểu hiện thống kinh, 29,3% đau khi 
giao hợp. Điểm số theo ASRM ở nhóm bệnh 
nhân LNMTC giai đoạn III và IV lần lượt là 
34,9 ± 8,0 và 75,0 ± 15,1 [3]. 
Cũng theo tác giả Trần Đình Vinh (2010), 
nồng độ CA125 > 62 IU/mL là ngưỡng tốt nhất 
trong việc chẩn đoán LNMTC với độ nhạy 
và độ đặc hiệu lần lượt là 58,4% và 72,3% [3]. 
Chỉ số CA125 trong nghiên cứu của chúng tôi 
cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác 
giả này. Tuy nhiên, CA125 là xét nghiệm ít 
đặc hiệu trong chẩn đoán LNMTC so với các 
xét nghiệm khác như IL - 6, TNF - α, MRI,  
[4], [10].
Bảng 3. Các yếu tố tiên lượng LNMTC tái phát
Các yếu tố tiên lượng 
LNMTC tái phát
Tái 
phát 
(n1)
Không 
tái phát 
(n2)
% 
tái phát
p
Tuổi tại thời điểm 
chẩn đoán 
< 30 tuổi 23 48 32,4
0,003≥ 30 tuổi 11 74 12,9
Giai đoạn (ARSM) I - II 9 56 13,8 0,04
III – IV 25 66 27,5
Phương pháp
 điều trị
Phẫu thuật
 đơn thuần
21 69 23,3 > 0,05
Phẫu thuật 
+ Nội khoa (GnRHa)
13 53 19,7
Có thai sau điều trị 0 48 _ _
Đinh Thị Phương Minh/Lê Sỹ Phương/Bạch Cẩm An/Phan Viết Tâm/Lê Minh Toàn/Nguyễn Văn Tuấn/Nguyễn Hữu Hồng/ Hồ Thị Phương Thảo l 165
Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận tỉ lệ 
LNMTC tái phát là 32,4 % trường hợp < 30 
tuổi cao hơn có ý nghĩa so với 12,9 % trường 
hợp ở nhóm ≥ 30 tuổi (p = 0,003). Trần Lâm 
Khoa và CS (2010) nghiên cứu các bệnh 
nhân LNMTC báo cáo tuổi > 30 có tỉ lệ tái 
phát gấp 1,6 lần tuổi < 30 với p = 0,01 [1]. 
Một nghiên cứu của Parazzini thực hiện 
trên 311 bệnh nhân LNMTC cho thấy trên 
30 tuổi có tỉ lệ tái phát cao gấp đôi bệnh 
nhân ≤ 30 [11]. 
Theo Tandoi và CS (2011) tỉ lệ các bệnh 
nhân nữ ≤ 21 tuổi có tỉ lệ LNMTC tái phát 
sau 5 năm là 32 % và tác giả này cũng đã kết 
luận tỉ lệ này là cao hơn so với nhóm phụ nữ 
lớn tuổi [13]. Tác giả Liu (2007) [9] và Vignali 
(2005) cũng nhận thấy tuổi càng cao thì tỉ lệ 
tái phát càng tăng [14].
Nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận 
tỉ lệ 27,5 % LNMTC tái phát có tiền sử phẫu 
thuật lần đầu được chẩn đoán ở giai đoạn 
III – IV theo ASRM cao hơn so với 13,8 % 
LNMTC tái phát ở nhóm giai đoạn I – II 
(p = 0,04). Theo tác giả Parazzini và CS (2005) 
tỉ lệ tái phát sau 2 năm ở nhóm bệnh nhân 
LNMTC giai đoạn I - II là 5,7 % và ở nhóm 
LNMTC giai đoạn III – IV là 14,4 % với 
p < 0,05 [11]. Kết quả phù hợp với nghiên 
cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, tác giả Liu và 
CS (2007), Kikichu và CS (2006) ghi nhận chỉ 
có điểm số ASRM mới có liên quan với tình 
trạng tái phát LNMTC (chứ không phải là 
giai đoạn LNMTC) [9]. Như vậy, nhận định 
chung được rút ra là bệnh nhân LNMTC 
càng nặng thì tỉ lệ tái phát sẽ càng cao.
Về phương pháp điều trị trong lần đầu: 
Theo nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh 
nhân LNMTC tái phát đã được điều trị kết 
hợp phẫu thuật và nội khoa thấp hơn không 
có ý nghĩa thống kê so với nhóm chỉ điều trị 
phẫu thuật đơn thuần (p > 0,05). Nghiên cứu 
của Roman và CS (2007) [12], Tandoi và CS 
(2011) [13] cũng báo cáo không có sự tương 
quan giữa phương pháp điều trị và tái phát 
LNMTC. Tuy nhiên, Koga và CS (2006) lại 
ghi nhận tỉ lệ tái phát LNMTC cao hơn ở 
nhóm điều trị nội khoa (OR = 2.324, (95% CI) 
= 1.232 - 4.383, p = 0.0092) [7]. 
Ở nghiên cứu này chúng tôi không ghi 
nhận trường hợp nào có thai sau điều trị ở 
các bệnh nhân LNMTC tái phát. Tuy nhiên 
có 48 trường hợp có thai sau điều trị LNMTC 
thì chưa thấy tái phát trong thời gian nghiên 
cứu. Mặc dù vậy nghiên cứu của Koga và 
CS (2006) báo cáo có thai sau phẫu thuật làm 
giảm nguy cơ tái phát LNMTC (OR = 0.292, 
95% CI = 0.028 - 0.317, p = 0.0181) [7].
Kết luận
Tuổi bệnh nhân tại thời điểm phát hiện 
LNMTC và giai đoạn bệnh (theo phân loại 
ASRM) là các yếu tố tiên lượng tái phát 
LNMTC. Không tìm thấy sự tương quan giữa 
phương pháp điều trị và tỉ lệ tái phát LNMTC.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Lâm Khoa, Trần Thị Lợi (2010), Mối 
liên quan giữa thời điểm phẫu thuật và tái 
phát lạc NMTC sau phẫu thuật bóc u, Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh, 14(1), tr 321 – 324 .
2. Nguyễn Bá Mỹ Nhi (2010), Điều trị phẫu 
thuật lạc nội mạc tử cung, Hội thảo lạc nội 
mạc tử cung: thực trạng và thách thức. 
3. Trần Đình Vinh (2010), Nghiên cứu đặc 
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị của 
siêu âm doppler màu trong chẩn đoán và 
theo dõi kết quả điều trị u lạc nội mạc tử 
cung, Luận văn tiến sĩ Y – Dược học, Trường 
Đại học Y Dược Huế. 
4. Bedaiwy M.A (2004), Laboratory testing 
for endometriosis, Clinica Chimica Acta, 
340, pp 41 – 56. 
5. Guo SW (2009), “Recurrence of 
endometriosis and its control”, Human 
Reproduction Update, 15 (4), pp 441 – 461. 
6. Jee B.C et al (2007), Impact of GnRH 
agonist treatment on recurrence of ovarian 
endometriomas after conservative 
166 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
laparosopic surgery, Fertility and Sterility, 
doi: 10.1016/j.fernstert.2007.11.11.027. 
7. Koga K et al (2006), Recurrence of 
ovarian endometrioma after laparoscopic 
excision, Hum Reprod, 21(8), pp 2171- 
2174. 
8. Lee DY (2010), “Post-operative cyclic oral 
contraceptive use after gonadotrophin 
– releasing hormone agonist treatment 
effectively prevents endometrioma 
recurrence, Human Reproduction, 25 (12), 
pp 3050 – 3054. 
9. Liu X et al (2007), Patterns of and risk 
factors for recurrence in women with 
ovarian endometriomas, Obstet gynecol, 
109 (6), pp1411- 1420. 
10. Mounsey A.L (2006), Diagnosis and 
management of endometriosis, American 
Family Physican, 74(4), pp 597 – 600. 
11. Parazzini F et al (2005), Determinants 
of short term recurrence rate of 
endometriosis, Eur J Obstet Gynecol 
Reprod Biol 1, 121(2), pp 216 - 219.
12. Roman H (2007) Prise en charge d’une 
endomestriose douloureuse, Journal de 
Gynescologie Obstétrique et Biologie de la 
reproduction, 36 (2), pp 141 – 150. 
13. Tandoi I (2011), High rate of endometriosis 
recurrence in young women, J Pediatr 
Adolesc Gynecol , 26 (4), pp 376 – 379. 
14. Vignali M (2005) Surgical treatment 
of deep endometriosis and risk of 
recurrence, The Journal of Minimally 
Invasive Gynecology. 12(6), pp 508 – 513

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_tien_luong_lac_noi_mac_tu_cung_tai_phat.pdf