Một số yếu tố tiên lượng kết quả dẫn lưu mật ở bệnh nhân teo mật bẩm sinh sau phẫu thuật kasai

Đặt vấn đề: Teo mật bẩm sinh (TMBS) là một trong những dị dạng đường mật hay gặp ở

trẻ em. Việc tiên lượng kết quả phẫu thuật Kasai ở bệnh nhân teo mật bẩm sinh hiện còn nhiều

khó khăn

Mục tiêu: Đánh giá các yếu tố góp phần tiên lượng kết quả dẫn lưu mật sau phẫu thuật

Kasai ở bệnh nhân TMBS. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu các bệnh nhân teo

mật bẩm sinh (TMBS) được điều trị và theo dõi tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian

2017-1/2019. Các thông số được đánh giá bao gồm: Nồng độ AST, ALT, GGT, ALP, Bilirubin

toàn phần, Bilirubin trực tiếp, Albumin, Protein, tiểu cầu trước mổ, nhiễm CMV trước mổ,

dấu hiệu TC sign trước và sau mổ, thời gian xuất hiện phân vàng sau mổ, tỉ lệ bilirubin toàn

phần và trực tiếp sau mổ 2 tuần so với trước mổ, tình trạng nhiễm trùng đường mật sau mổ,

số đợt nhiễm trùng đường mật sau mổ. Các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được theo dõi

ít nhất 6 tháng sau phẫu thuật.

pdf 9 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố tiên lượng kết quả dẫn lưu mật ở bệnh nhân teo mật bẩm sinh sau phẫu thuật kasai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số yếu tố tiên lượng kết quả dẫn lưu mật ở bệnh nhân teo mật bẩm sinh sau phẫu thuật kasai

Một số yếu tố tiên lượng kết quả dẫn lưu mật ở bệnh nhân teo mật bẩm sinh sau phẫu thuật kasai
MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG KẾT QUẢ 
DẪN LƯU MẬT Ở BỆNH NHÂN TEO MẬT 
BẨM SINH SAU PHẪU THUẬT KASAI
1 Bệnh viện Nhi Trung ương
2 Trường Đại học Y Hà Nội
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Phạm Anh Hoa. Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 16/12/2019; Ngày phản biện khoa học: 21/01/2020; Ngày duyệt bài: 16/02/2020
Nguyễn Phạm Anh Hoa1, Phạm Thị Hải Yến2, Phạm Duy Hiền1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Teo mật bẩm sinh (TMBS) là một trong những dị dạng đường mật hay gặp ở 
trẻ em. Việc tiên lượng kết quả phẫu thuật Kasai ở bệnh nhân teo mật bẩm sinh hiện còn nhiều 
khó khăn
Mục tiêu: Đánh giá các yếu tố góp phần tiên lượng kết quả dẫn lưu mật sau phẫu thuật 
Kasai ở bệnh nhân TMBS. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu các bệnh nhân teo 
mật bẩm sinh (TMBS) được điều trị và theo dõi tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian 
2017-1/2019. Các thông số được đánh giá bao gồm: Nồng độ AST, ALT, GGT, ALP, Bilirubin 
toàn phần, Bilirubin trực tiếp, Albumin, Protein, tiểu cầu trước mổ, nhiễm CMV trước mổ, 
dấu hiệu TC sign trước và sau mổ, thời gian xuất hiện phân vàng sau mổ, tỉ lệ bilirubin toàn 
phần và trực tiếp sau mổ 2 tuần so với trước mổ, tình trạng nhiễm trùng đường mật sau mổ, 
số đợt nhiễm trùng đường mật sau mổ. Các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được theo dõi 
ít nhất 6 tháng sau phẫu thuật.
Kết quả: Có 117 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu, thời gian theo dõi trung bình 16,97 
tháng. 56,4% bệnh nhân dẫn lưu mật thành công sau 6 tháng, 83,8% bệnh nhân sống đến thời 
điểm kết thúc nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nhóm nhiễm CMV trước mổ các xác 
suất sống sót kém hơn so với nhóm không nhiễm CMV (p=0,031), TC sign dương tính trước 
mổ không ảnh hưởng đến kết quả thoát mật song làm ảnh hưởng tới tiên lượng lâu dài. Các 
bệnh nhân có phân vàng sớm trong 7 ngày sau mổ có khả năng thoát mật tốt gấp 4,464 lần 
nhóm có phân vàng sau 7 ngày. Tỉ số Bilirubin ở ngày thứ 14/ Bilirubin trước mổ dưới 1,156 
dự đoán khả năng thành công với độ nhạy 72,1% độ đặc hiệu 54,2%. Nhiễm trùng đường mật 
tái diễn dự đoán xác suất tử vong với độ nhạy 84,2%, độ đặc hiệu 48%.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 3
NGHIÊN CỨU
Kết luận: Các yếu tố nhiễm CMV trước phẫu thuật, phân vàng sớm trong 7 ngày sau mổ, tỉ 
số Bilirubin ở ngày thứ 14 và trước mổ, nhiễm trùng đường mật tái diễn có ý nghĩa tiên lượng 
kết quả dẫn lưu mật sau phẫu thuật Kasai ở bệnh nhân TMBS
Từ khóa: CMV, TC sign, Tỉ lệ Bilirubin D14/D0, nhiễm trùng đường mật tái diễn
Abstract
PROGNOSTIC FACTORS FOR THE OUTCOME OF KASAI 
PORTOENTEROSTOMY FOR PATIENTS WITH BILIARY ATRESIA
Context: Biliary atresia is one of the common biliary malformations in children. The 
prognosis of Kasai’s surgery results still faces with manny difficulties.
Aims: To evaluate the factors contributing to prognosis Kasai’s surgery outcomes.
Materials and Methods: A prospective clinical and laboratory study in biliary atresia 
patients who underwent Kasai operation at the NCH from 1/2017 to 1/2019. AST, ALT, GGT, 
ALP, total bilirubin, direct bilirubin, albumin, protein, number of platelet, CMV infection, TC 
sign before and after surgery, time of appearance of yellow stool after surgery, the ratio of total 
and direct bilirubin in 2 weeks after surgery and before surgery, cholangitis and the number of 
cholangitis episodes after surgery were evaluated. The patients in research group were followed 
at least 6 months after surgery.
Results: A total of 117 patients with biliary atresia were operated from 1/2017 to 1/2019. 
The mean follow-up time was 16,97 months. 56,4% of patients successfully after 6 months, 
83,8% of patients lived to the time end of the study. The results showed that: CMV infected 
group before surgery had lower survival chance than the non- CMV infected group (p= 0,031), 
the positive TC sign before surgery did not affect the results after 6 months but it was the long-
term prognosis. The appearance of yellow stool within 7 days after surgery had more successfully 
results after 6 months than the other group by 4,464 times. The ratio Bilirubin D14/D0 <1,156 
predicted the probality of success with a sensitivity of 72,1% and specificity 54,2%. The repeated 
cholangitis predicted the probability of death with a sensitivity of 84,2%, specificity 48%.
Conclusion: Preoperative CMV infection, yellow stool appearance within 7 days after 
surgery, the ratio bilirubin D14/D0, repeated cholangitis are the prognostics factors of 
Kasai’surgery outcomes.
Key words: CMV infection, TC sign, the ratio Bilirubin D14/Do, repeated cholangitis.
4 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Teo mật bẩm sinh (TMBS) là bệnh lí đặc 
trưng bởi quá trình viêm, xơ hóa tiến triển, 
gây phá hủy toàn bộ đường mật trong và ngoài 
gan dẫn đến sự cản trở lưu thông của mật. Đây 
là một trong những dị tật bẩm sinh đường 
mật phổ biến nhất gây vàng da ứ mật ở trẻ em 
Châu Á. TMBS nếu không được điều trị sẽ 
dẫn đến suy gan, xơ gan và tử vong. Năm 1959 
Kasai và Suzuki giới thiệu phương pháp phẫu 
thuật Kasai giúp tái lập lưu thông dòng chảy 
mật trong TMBS. Phẫu thuật này được triển 
khai thành công tại Việt Nam từ năm 1994.
Mức độ thành công sau phẫu thuật Kasai 
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó tuổi tại 
thời điểm phẫu thuật và type teo đường mật 
đã được xác định là yếu tố quan trọng trong 
việc tiên lượng kết quả phẫu thuật. Tuy nhiên 
còn chưa nhiều nghiên cứu đề cập đến ảnh 
hưởng của các yếu tố khác tới kết quả phẫu 
thuật như lâm sàng, cận lâm sàng trước và sau 
mổ. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với 
mục tiêu: Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng 
tới kết quả dẫn lưu mật sau phẫu thuật Kasai.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng: Các bệnh nhân được chẩn đoán 
TMBS và phẫu thuật theo phương pháp Kasai 
tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2017 đến 
7/2019, có thời gian theo dõi ít nhất 6 tháng 
sau phẫu thuật.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô 
tả tiến cứu, theo dõi dọc loạt ca bệnh. Các 
bệnh nhân được kiểm tra xét nghiệm chức 
năng gan: AST, ALT, GGT, ALP, bilirubin toàn 
phần, bilirubin trực tiếp, Prothrombin, INR, 
protein, albumin, siêu âm gan mật trước phẫu 
thuật và sau phẫu thuật 1 tuần, 2 tuần, 4 tuần, 
3 tháng, 6 tháng.
Phẫu thuật Kasai: Phẫu thuật được đánh 
giá dẫn lưu mật thành công nếu: sau phẫu 
thuật bệnh nhân có phân vàng, bilirubin < 34 
mmol/ltại thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật. 
Phẫu thuật được đánh giá là dẫn lưu mật thất 
bại nếu không đáp ứng đủ 3 tiêu chuẩn trên 
hoặc bệnh nhân tử vong sau phẫu thuật.
Xử lí số liệu: Các kết quả được nhập liệu 
và làm sạch bởi epidata, phân tích bằng phần 
mềm thống kê SPSS 20.0. Các test kiểm định 
X2, Fisher Exact test, Log-rank test được sử 
dụng để tìm mối liên quan giữa các chỉ số 
nghiên cứu và kết quả dẫn lưu mật.
- Nhiễm trùng đường mật được chẩn đoán 
theo đồng thuận ở Đài Loan [1], các tiêu chí 
bao gồm: Sốt cao hơn 38 độ C, vàng da tăng 
lên, phân bạc màu hơn so với trước khi sốt, 
không có nhiễm khuẩn ở cơ quan khác hoặc 
cấy máu dương tính. Xét nghiệm: Bạch cầu, 
CRP tăng, Bilirubin, Transaminase tăng hơn 
trước.
- Nhiễm trùng đường mật tái diễn: Nhiễm 
trùng đường mật xảy ra từ 2 đợt trở lên.
- Màu sắc phân: Đánh giá theo bảng màu 
phân thống nhất, so sánh trước và sau phẫu 
thuật.
- Nhiễm CMV: Trẻ được xác định nhiễm 
CMV khi có CMV PCR dương tính. Trẻ được 
xác định mắc CMV đang hoạt động khi có 
CMV IgM dương tính.
- Dấu hiệu TC (Triangular cord sign). Đo 
độ dày dải xơ vùng rốn gan trước tĩnh mạch 
cửa trên siêu âm. Dương tính: TC sign ≥ 3mm. 
Âm tính: TC sign < 3mm.
III. KẾT QUẢ
Có 117 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 
tuổi trung bình khi vào viện 67,4 ± 21,9 ngày 
và tuổi trung bình tại thời điểm phẫu thuật 
là 81,0 ± 20,6 bệnh nhân nhỏ nhất là 43 ngày 
tuổi và lớn nhất là 134,0 ngày tuổi. Tỉ lệ thoát 
mật thành công là 56,4% và thoát mật thất bại 
là 43,6%. Thời gian theo dõi trung bình 16,97 
MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG KẾT QUẢ DẪN LƯU MẬT Ở BỆNH NHÂN TEO MẬT 
BẨM SINH SAU PHẪU THUẬT KASAI
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 5
NGHIÊN CỨU
tháng, tại thời điểm kết thúc nghiên cứu có 83,8% (98) bệnh nhân còn sống, tỉ lệ tử vong 19,2%. 
Tỉ lệ sống tích lũy đến 6 tháng, 1 năm, 2 năm lần lượt là 91,5%, 86,9%, 80,1%.
Bảng 1: Liên quan giữa các chỉ số hóa sinh trước phẫu thuật và kết quả phẫu thuật
Xét nghiệm trước mổ
Kết quả phẫu thuật
P
Thành công Thất bại
AST 207,3 ±111,7 239,7 ±156,2 0,194
ALT 117,3 ±69,5 138,0 ±93,9 0,172
GGT 664,5 ±528,4 593,5 ±442 0,463
ALP 705,3 ±312,5 682,9 ±250,9 0,712
Bilirubin TP 173,1 ±48,2 179,1 ±49,9 0,510
Bilirubin TT 98,7 ± 30,0 98,8 ±30,1 0,976
Protein TP 55,8 ±4,5 56,6 ±4,7 0,352
Albumin 37,7 ±3,7 37,6 ±2,6 0,785
Tiểu cầu 395,05 ±16,4 375,96 ±137,9 0,451
Không có sự khác biệt về các chỉ số AST, ALT, GGT, Bilirubin TP, Bilirubin TT, protein, albumin 
và tiểu cầu trước phẫu thuật giữa 2 nhóm dẫn lưu mật thành công và dẫn lưu mật thất bại (p> 
0,05).
Bảng 2: Liên quan giữa nhiễm CMV và kết quả dẫn lưu mật sau phẫu thuật
Nhiễm CMV Tỉ lệ chung
Dẫn lưu mật
P
Thành công Thất bại
Có 61,5% (72) 51,4% (37) 48,6% (35)
0,166
Không 38,5% (45) 64,4% (29) 35,6 % (16)
Tổng 100% (117) 100% (72) 100% (45)
Có 61,5% BN nhiễm CMV, tỉ lệ dẫn lưu mật thành công ở nhóm không nhiễm CMV có xu 
hướng cao hơn nhóm có nhiễm CMV song sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p=0,166.
Biểu đồ: Xác suất sống ở bệnh nhân nhiễm CMV và không nhiễm CMV
 Không nhiễm CMV
 Nhiễm CMV
6 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
Xác suất sống lâu dài ở nhóm bệnh nhân không nhiễm CMV cao hơn so với nhóm nhiễm 
CMV. Xác suất sống tích lũy của 2 nhóm không nhiễm CMV và nhiễm CMV tại thời điểm 6 
tháng lần lượt là 94,0%, 81,8% , 12 tháng là 90,2% và 74,6% và 24 tháng là 86,7% và 62,2%: Sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,031.
Bảng 3: Liên quan giữa TC Sign trên siêu âm trước và sau phẫu thuật và kết quả phẫu thuật
TC sign
Kết quả dẫn lưu mật
P
Thành công Thất bại
Trước phẫu thuật
Dương tính (79) 55,7% 44,3%
0,082
Âm tính (38) 57,6% 42,1%
Sau phẫu thuật Dương tính (2) 100%
TC sign dương tính trước phẫu thuật không có mối liên quan đến kết quả dẫn lưu. Có 2 bệnh 
nhân có dấu hiệu TC sign trên siêu âm đều có kết quả dẫn lưu mật thất bại.
Bảng 4: Liên quan giữa thời điểm có phân vàng sau phẫu thuật và kết quả dẫn lưu mật
Thời điểm có phân vàng
Kết quả dẫn lưu mật
P OR (95%CI)Thành công 
(n= 72)
Thất bại 
(n= 45)
≤7 ngày sau mổ 50 (70,4%) 21 (29,6%)
0,000 4,464(2,021 - 9,860)>7 ngày sau mổ 16 (42,1%) 22 (57,9%)
Không có phân vàng 0 (0%) 8 (100%)
Thời gian trung bình (ngày) 
Max - Min
6,58 ± 2,9 
(2 - 17)
8,07 ± 3,6 
(3 - 17) 0,001
Số ngày xuất hiện phân vàng ở nhóm thành công thấp hơn nhóm thất bại lần lượt là 6,58 ±2,9 
và 8,07 ±3,6 (p=0,001). Nhóm có phân vàng trước 7 ngày sau phẫu thuật có tỉ lệ thoát mật thành 
công cao hơn các nhóm xuất hiện phân vàng sau 7 ngày và không thấy phân vàng. Khả năng thoát 
mật thành công ở nhóm có phân vàng trước 7 ngày gấp 4,464 lần so với 2 nhóm còn lại.
Bảng 5: So sánh Bilirubin trước phẫu thuật vàcác thời điểm sau mổ
Tỉ lệ
Kết quả phẫu thuật
P
Thành công Thất bại
Bilirubin D7/D0 1,17 ±0,43 1,26 ±0,54 0,363
Bilirubin D14/D0 0,99± 0,41 1,24±0,58 0,014
Bilirubin D7/D0: tỷ lệ Bilirubin toàn phần ngày thứ 7/ Bilirubin toàn phần trước phẫu thuật
Bilirubin D14/D0: tỷ lệ Bilirubin toàn phần ngày thứ 14/ Bilirubin toàn phần trước phẫu thuật
Tỉ lệ Bilirubin toàn phần sau mổ 2 tuần so với trước mổ ở nhóm thành công thấp hơn so với 
nhóm thất bại có ý nghĩa thống kê với p= 0,014.
MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG KẾT QUẢ DẪN LƯU MẬT Ở BỆNH NHÂN TEO MẬT 
BẨM SINH SAU PHẪU THUẬT KASAI
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 7
NGHIÊN CỨU
Biểu đồ 3: Đường cong Roc biểu thị mối liên quan giữa Bilirubin D14/D0 
và xác suất dẫn lưu mật thành công sau phẫu thuật
Tỉ lệ Bilirubin D14/D0 cao hơn ở nhóm dẫn lưu mật thất bại với diện tích dưới đường cong 
ROC đạt 0,618 (p= 0,035). Tại điểm cut off Bilirubin D14/D0 = 1,156 cho dự đoán tỉ lệ dẫn lưu 
mật thất bại với độ nhạy 72,1% và độ đặc hiệu đạt 54,2%.
Bảng 6: Nhiễm trùng đường mật sớm sau mổ và kết quả dẫn lưu mật
Nhiễm trùng đường mật sớm
Dẫn lưu mật
P
Thành công Thất bại
Có (59) 49,2% (29) 50,8% (30)
0,110
Không (58) 63,8% (37) 36,2% (21)
Tỉ lệ dẫn lưu mật thành công ở nhóm không có nhiễm trùng đường mật sớm sau mổ cao hơn 
nhóm có nhiễm trùng (63,8% so với 49,2%). Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Biểu đồ 4: 
A. Mối liên quan giữa số đợt nhiễm trùng đường mật và xác suất sống sau phẫu thuật 
B. Xác suất sống theo thời gian 2 nhóm nhiễm trùng đường mật < 2 lần và nhóm ≥ 2 lần
8 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
Số đợt nhiễm trùng đường mật của nhóm 
tử vong cao hơn nhóm sống sót với diện tích 
đường cong ROC đạt 0,668 với p= 0,021. Tại 
điểm cut off số đợt nhiễm trùng đường mật 
≥ 2 đợt dự đoán xác suất tử vong với độ nhạy 
84,2% độ đặc hiệu đạt 48%. Xác suất sống sót 
của nhóm nhiễm trùng đường mật từ 2 lần trở 
lên thấp hơn so với nhóm nhiễm trùng đường 
mật dưới 2 lần. Kiểm định Log rank cho thấy 
sự khác biệt với p = 0,015. Xác suất sống tích 
lũy tại thời điểm 6 tháng là 94,0% và 89,6%, 1 
năm là 94% và 81,8%, 2 năm là 94% và 70,6%.
IV. BÀN LUẬN
TMBS gây ứ mật và hủy hoại tế bào gan với 
hậu quả tăng bilirubin, tăng AST, ALT và rối 
loạn chức năng gan. GGT và ALP là những 
enzyme tăng ở những bệnh nhân có tổn 
thương đường mật. Cho tới nay phẫu thuật 
Kasai điều trị TMBS hiện nay được coi là phẫu 
thuật tiêu chuẩn cho bệnh nhân TMBS trên 
toàn thế giới, tuy nhiên các bệnh nhân TMBS 
thường xuyên có biến chứng sau phẫu thuật 
và có nhiều khó khăn trong việc tiên lượng kết 
quả phẫu thuật.
Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về 
nồng độ bilirubin, AST, ALT, protein, albumin, 
số lượng tiểu cầu trung bình trước mổ giữa 
hai nhóm dẫn lưu mật thành công và dẫn lưu 
mật thất bại (bảng 1). Kết quả này tương tự với 
nhận xét của Sanghai và cộng sự [2].
Tỉ lệ nhiễm CMV của các bệnh nhân trong 
nghiên cứu của chúng tôi là 61,5% (bảng 2)
cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Hoàng 
Thị Xuyến năm 2014 [3]. Sự khác biệt này có 
thể do chúng tôi sử dụng cả 2 phương pháp 
xác định kháng thể CMV IgM và phản ứng 
khuếch đại chuỗi gen PCR, trong khi đó tác 
giả chỉ sử dụng phương pháp khuếch đại 
chuỗi gen PCR. Tỉ lệ dẫn lưu mật thành công 
ở nhóm nhiễm CMV có xu hướng thấp hơn 
nhóm không nhiễm CMV (51,4% so với 
64,4%). Tuy nhiên sự khác biệt không có ý 
nghĩa thống kê.
Theo dõi sự sống sót lâu dài chúng tôi nhận 
thấy có sự khác biệt giữa 2 nhóm. Xác suất sống 
tích lũy ở nhóm không nhiễm CMV và nhiễm 
CMV lần lượt ở thời điểm 6 tháng 94,0% và 
81,8%, 1 năm 90,2% và 74,6%, 2 năm 86,7% 
và 62,2% (biểu đồ 1). Có nhiều giả thuyết đưa 
ra CMV có thể là nguyên nhân của một chuỗi 
các phản ứng miễn dịch và chính kháng thể 
sinh ra từ phản ứng viêm trung gian này đã 
thúc đẩy quá trình các đường mật xơ hóa tiến 
triển, gây phá hủy dẫn đường mật trong gan 
và trong các ống dẫn mật nhỏ dẫn đến biểu 
hiện của TMBS. Có thể sự tồn tại dai dẳng 
của CMV trong đường mật sau mổ tiếp tục 
gây phá hủy đường mật, làm thay đổi kết cục 
lâu dài của bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu 
của chúng tôi khác với nghiên cứu của Hoàng 
Thị Xuyến năm 2014 cho kết luận không có 
sự khác biệt về kết quả sau phẫu thuật của hai 
nhóm bệnh nhân TMBS có nhiễm CMV và 
không nhiễm CMV. Nghiên cứu năm 2015 
của Zani A và cộng sự đánh giá nhiễm CMV 
trên 210 trẻ TMBS trên tiêu bản mô bệnh học 
cho thấy ở nhóm nhiễm CMV tỉ lệ thoát mật 
kém hơn và tăng tỉ lệ tử vong [4], sự khác biệt 
trong nghiên cứu của Zani A là ông dùng xét 
nghiệm hóa mô miễn dịch để xác định sự có 
mặt của CMV trong mô gan sinh thiết, trong 
khi các nghiên cứu khác hầu hết chỉ dùng xét 
nghiệm huyết thanh học. Điều này cho thấy 
sự cần thiết của các nghiên cứu tiếp theo về 
ảnh hưởng của CMV trên bệnh nhân TMBS 
với nhiều cách tiếp cận đầy đủ hơn trong 
tương lai.
TC sign là dấu hiệu của sự xơ hóa, có thể 
bệnh nhân có dấu hiệu TC sign trước phẫu 
thuật có kết quả phẫu thuật kém hơn so với 
những người không có dấu hiệu này. Trong 
MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG KẾT QUẢ DẪN LƯU MẬT Ở BỆNH NHÂN TEO MẬT 
BẨM SINH SAU PHẪU THUẬT KASAI
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 9
NGHIÊN CỨU
nghiên cứu của tác giả Shehata và cộng sự 
năm 2018 kết luận rằng xu hướng về kết quả 
kém trong nhóm có dấu hiệu này dương tính 
với 78% thất bại so với 45 % thất bại ở nhóm 
có dấu hiệu này âm tính [5]. Nghiên cứu của 
tác giả Kobt MA và cộng sự năm 2005 đánh 
giá trên 27 bệnh nhân, kết luận 14,3% trẻ có 
xuất hiện lại dấu hiệu TC sign sau phẫu thuật 
và những trẻ này có tỉ lệ tử vong cao hơn, phản 
ánh việc loại bỏ dải xơ rốn gan không hoàn 
toàn trong quá trình phẫu thuật [6]. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi TC sign dương tính 
hiện diện ở 67,5% bệnh nhân trên siêu âm gan 
mật trước phẫu thuật, không có sự khác biệt về 
kết quả dẫn lưu mật thành công giữa 2 nhóm 
có TC sign dương tính và TC sign âm tính. Có 
2 bệnh nhân có dấu hiệu TC sign trên siêu âm 
sau phẫu thuật, 2 bệnh nhân này có kết quả 
dẫn lưu mật kém và tử vong lúc 3 tháng tuổi 
và 6 tháng tuổi (bảng 3).
Sự xuất hiện của phân vàng sau mổ là minh 
chứng cho tình trạng lưu thông mật đã được 
khắc phục sau phẫu thuật nối mật ruột và sự 
thành công của phẫu thuật Kasai. Trong nghiên 
cứu này, nhóm dẫn lưu mật thành công có thời 
gian có phân vàng sau mổ sớm hơn đáng kể 
so với nhóm dẫn lưu mật thất bại 6,58 ± 2,9 
so với 8,07 ± 3,6 (p=0,001), tỉ lệ dẫn lưu mật 
thành công ở nhóm có phân vàng trong 7 ngày 
đầu sau phẫu thuật đạt 70,4% trong khi đó tỉ lệ 
này chỉ đạt 42,1% ở nhóm có phân vàng sau 7 
ngày, và 0% ở nhóm phân không cải thiện màu 
(bảng 4).Việc theo dõi màu phân sau phẫu 
thuật tuy đơn giản nhưng giúp đánh giá hiệu 
quả kết quả của cuộc phẫu thuật.
So sánh sự thay đổi bilirubin toàn phần và 
trực tiếp ở ngày thứ 7 và ngày thứ 14 sau phẫu 
thuật so với lượng bilirubin trước phẫu thuật 
chúng tôi thấy rằng có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê giữa 2 nhóm dẫn lưu mật thành công 
và dẫn lưu mật thất bại về tỉ số bilirubin toàn 
phần ngày thứ 14 / bilirubin toàn phần trước 
phẫu thuật (bilirubin D14/D0) với các tỉ lệ 
lần lượt là 0,99 ±0,41 và 1,24 ± 0,58 (bảng 5). 
Phân tích ROC cho thấy tỉ số BilirubinD14/
D0 giúp dự đoán kết quả sớm sau phẫu thuật. 
Tại điểm cut off BilirubinD14/D0= 1,156 cho 
dự đoán với độ nhạy 72,1% và độ đặc hiệu đạt 
54,2% (biểu đồ 3). Đây là một chỉ số đơn giản, 
dễ tính toán và có thể sử dụng một cách khách 
quan để giải thích cho cha mẹ về kết quả dự 
kiến của phẫu thuật Kasai trong thời gian theo 
dõi sau phẫu thuật và dự kiến những phương 
án điều trị tiếp theo một các hợp lí và khoa 
học.
Nghiên cứu đa trung tâm của tác giả Ng 
VL và cộng sự năm 2014 tại Bắc Mỹ báo cáo 
rằng trong số 219 bệnh nhân TMBS sau mổ 
Kasai có 162 (62,1%) viêm đường mật ít nhất 
1 lần và đây được coi là yếu tố quan trọng đẩy 
nhanh quá trình xơ gan. Phân tích đa biến về 
các yếu tố nguy cơ của ghép gan thì nhiễm 
trùng đường mật sớm không phải là yếu tố 
nguy cơ độc lập đối với ghép gan. Mặt khác 
nghiên cứu của Wildhaber BE và cộng sự cho 
thấy viêm đường mật tái diễn trong vòng 2 
năm đầu khi phẫu thuật là yếu tố quan trọng 
góp phần làm tăng nguy cơ cần chỉ định ghép 
gan sớm của bệnh nhân [7]. Nghiên cứu của 
chúng tôi cũng cho thấy bệnh nhân có nhiễm 
trùng đường mật sớm sau mổ không làm ảnh 
hưởng tới kết quả thoát mật (bảng 6) nhưng 
số đợt nhiễm trùng sau mổ từ 2 đợt trở lên 
trong vòng 2 năm đầu sau phẫu thuật Kasai là 
dấu hiệu tiên lượng dự đoán xác suất tử vong 
trong tương lai với độ nhạy 84,2% và độ đặc 
hiệu 48% (biểu đồ 4).
V. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò của 
lâm sàng, cận lâm sàng trong tiên lượng dẫn 
lưu mật thành công sau phẫu thuật Kasai của 
các bệnh nhân TMBS. Các bệnh nhân không 
10 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG KẾT QUẢ DẪN LƯU MẬT Ở BỆNH NHÂN TEO MẬT 
BẨM SINH SAU PHẪU THUẬT KASAI
nhiễm CMV tại thời điểm trước mổ, có phân 
vàng sớm trong 7 ngày sau mổ, bệnh nhân có 
số đợt nhiễm trùng đường mật dưới 2 đợt, tỉ lệ 
Bilirubin TP D14/Do< 1,156 là các yếu tố tiên 
lượng tốt cho kết quả của bệnh nhân TMBS 
sau phẫu thuật Kasai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
1. Hung P.-Y., Chen C.-C., Chen W.-J. và cộng sự. (2006). Long-term prognosis of patients 
with biliary atresia: a 25 year summary. J Pediatr Gastroenterol Nutr, 42(2), 190-195.
2. Sanghai S.R., Shah I., Bhatnagar S. và cộng sự. (2009). Incidence and prognostic 
factors associated with biliary atresia in western India. Ann Hepatol, 8(2), 120-122.
3. Hoàng Thị Xuyến (2014). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phân loại và 
tỉ lệ nhiễm cytomegalovirus ở bệnh nhân teo đường mật bẩm sinh. Luận văn Thạc sĩ Y 
học.
4. Zani A., Quaglia A., Hadzić N. và cộng sự. (2015). Cytomegalovirus-associated biliary 
atresia: An aetiological and prognostic subgroup. J Pediatr Surg, 50(10), 1739-1745.
5. Sammeh M Shehata, Saber M Waheeb (2018). Prognostic factors for the outcome of 
Kasai portoenterostomy for infants with biliary atresia in Egypt. Alexandria Journal of 
Pediatrics, 31(3), 112-119.
6. Kotb M.A., Sheba M., El Koofy N. và cộng sự. (2005). Post-portoenterostomy triangular 
cord sign prognostic value in biliary atresia: a prospective study. Br J Radiol, 78(934), 
884-887.
7. Wildhaber B.E., Coran A.G., Drongowski R.A. và cộng sự. (2003). The Kasai 
portoenterostomy for biliary atresia: A review of a 27-year experience with 81 patients. 
J Pediatr Surg, 38(10), 1480-1485.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 11

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_tien_luong_ket_qua_dan_luu_mat_o_benh_nhan_teo.pdf