Một số yếu tố nguy cơ trước khi sinh và tình trạng khuyết tật vận động ở trẻ tại huyện Hoài Đức, Hà Nội

Tỷ lệ khuyết tật vận động (KTVĐ) chiếm tỷ lệ lớn

(1-3% dân số), nghiên cứu nhằm tìm xác định các yếu

tố nguy cơ qua đó có được biện pháp phòng ngừa trẻ

khuyết tật. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu bệnh

chứng trên 116 trẻ khuyết tật vận động và 228 trẻ bình

thường, bằng việc phỏng vấn cha, mẹ trẻ, kết quả nghiên

cứu cho thấy:

- Trẻ sinh thiếu tháng có nguy cơ KTVĐ cao gấp

17,07 lần trẻ sinh đủ tháng

- Tuổi bà mẹ lúc sinh con từ 35 tuổi có nguy cơ trẻ

KTVĐ cao gấp 2,11 lần bà mẹ có độ tuổi 20-35.

- Tuổi bố khi sinh con từ 45 tuổi có nguy cơ trẻ KTVĐ

cao gấp 7,07 lần bố có độ tuổi nhỏ hơn 45.

- Mẹ bị ho, sốt, chảy mũi có nguy cơ trẻ KTVĐ cao

gấp 4,87 lần bà mẹ bình thường.

- Bố, mẹ có tiền sử tiếp xúc hóa chất, chất phóng xạ

có nguy cơ trẻ KTVĐ cao gấp 2,27 lần bố, mẹ không có

tiền sử tiếp xúc

pdf 5 trang phuongnguyen 480
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố nguy cơ trước khi sinh và tình trạng khuyết tật vận động ở trẻ tại huyện Hoài Đức, Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số yếu tố nguy cơ trước khi sinh và tình trạng khuyết tật vận động ở trẻ tại huyện Hoài Đức, Hà Nội

Một số yếu tố nguy cơ trước khi sinh và tình trạng khuyết tật vận động ở trẻ tại huyện Hoài Đức, Hà Nội
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 89
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÓM TẮT
Tỷ lệ khuyết tật vận động (KTVĐ) chiếm tỷ lệ lớn 
(1-3% dân số), nghiên cứu nhằm tìm xác định các yếu 
tố nguy cơ qua đó có được biện pháp phòng ngừa trẻ 
khuyết tật. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu bệnh 
chứng trên 116 trẻ khuyết tật vận động và 228 trẻ bình 
thường, bằng việc phỏng vấn cha, mẹ trẻ, kết quả nghiên 
cứu cho thấy:
- Trẻ sinh thiếu tháng có nguy cơ KTVĐ cao gấp 
17,07 lần trẻ sinh đủ tháng
- Tuổi bà mẹ lúc sinh con từ 35 tuổi có nguy cơ trẻ 
KTVĐ cao gấp 2,11 lần bà mẹ có độ tuổi 20-35.
- Tuổi bố khi sinh con từ 45 tuổi có nguy cơ trẻ KTVĐ 
cao gấp 7,07 lần bố có độ tuổi nhỏ hơn 45.
- Mẹ bị ho, sốt, chảy mũi có nguy cơ trẻ KTVĐ cao 
gấp 4,87 lần bà mẹ bình thường.
- Bố, mẹ có tiền sử tiếp xúc hóa chất, chất phóng xạ 
có nguy cơ trẻ KTVĐ cao gấp 2,27 lần bố, mẹ không có 
tiền sử tiếp xúc.
Từ khóa: Khuyết tật vận động, yếu tố nguy cơ, cha 
mẹ trẻ
ABSTRACT:
RISK FACTORS AFFECTING CHILDREN 
WITH IMPAIRED PHYSICAL MOBILITY IN HOAI 
DUC OVER PRENATAL PERIOD
People with impared physical mobility occupy a 
large proportion, accounting for 1-3% of the nation’s 
population. Finding out risk-factors plays the important 
role in minimizing the risk of children being physically 
affected. For the above-mentioned reason, we conducted 
a case-control study of how parental risk factors affected 
on children with impaired physical mobility over 
prenatal period. Parents of 116 children living in mobility 
impairements and 228 normal children were interviewed. 
The results revealed that: 
- Children who were born preterm suffered from risk 
of impaired physical mobility 17.07 times as much as the 
full-term ones. 
- Children who were born to mothers from over 35 
years of childbearing age suffered from risk of impaired 
physical mobility 2.11 times as much as those born to 
mothers from 20-35 years of childbearing age.
- Children whose fathers were from over 45 years of 
childbearing age suffered from risk of impaired physical 
mobility 7.07 times as much as those born to fathers from 
under 45 years of childbearing age.
- Mothers catching flu, cough, fever, runny nose 
affected children’s physical mobility 4.87 times as much 
as healthy mothers.
- Parents with history of exposing to chemicals 
and radioactive substances caused children’s impaired 
physical mobility 2.27 times as much as those without 
exposure history.
Keywords: Impared physical mobility, risk-factors, 
parental
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo phân loại của chương trình PHCNDVCĐ, khuyết 
tật vận động (hay còn gọi là khó khăn về vận động) là một 
trong 7 nhóm tàn tật thường gặp. KTVĐ có tỷ lệ rất lớn, 
thường đứng cao nhất trong các dạng khuyết tật [1], [5], 
[11]. Tỷ lệ KTVĐ dao động từ 1- 3‰ dân số và chiếm từ 
25 – 70% tổng số người khuyết tật [4], [5], [11]. Hiện nay 
trên thế giới những nghiên cứu về KTVĐ và nguy cơ gây 
KTVĐ rất được chú trọng, bởi vì căn cứ vào các nghiên 
cứu này các nhà y tế công cộng có thể đề ra các biện pháp 
dự phòng KTVĐ một cách rất hữu hiệu [14]. Ở Việt Nam 
đã có một số nghiên cứu xác định tỷ lệ trẻ KTVĐ và mô 
hình khuyết tật, nhu cầu PHCN của trẻ KTVĐ. Qua đó đã 
có những chương trình can thiệp PHCN như: vận động trị 
liệu, hoạt động trị liệu, tập luyện tại nhà, hỗ trợ xe lăn, dụng 
MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TRƯỚC KHI SINH VÀ 
TÌNH TRẠNG KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG Ở TRẺ 
TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI
Phạm Thu Hiền1, Đỗ Mạnh Hùng1
Ngày nhận bài: 01/12/2017 Ngày phản biện: 05/02/2018 Ngày duyệt đăng: 08/03/2018
1. Bệnh viện Nhi Trung ương
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn90
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
Bảng 1. Đặc điểm của bố, mẹ ảnh hưởng đến KTVĐ ở trẻ
Đặc điểm 
KTVĐ Không KTVĐ
p OR (CI 95%)
SL % SL %
Tuổi thai 
khi sinh
Thiếu tháng 
(< 37 tuần)
17 70,83 7 29,17
<0,001
17,07 
(2,16-16,84)Bình thường 
(37 – 42 tuần)
91 29,74 215 70,26
Tuổi bà mẹ lúc 
sinh con
Tuổi ≥ 35* 23 48,94 24 51,06
0,018
2,11
(1,07–4,14)Tuổi 20 – 34 85 31,25 187 68,75
Tuổi của bố lúc 
sinh con
≥ 45 10 8,6 3 1,3
0,001
7,07
(1,91–26,24)< 45 106 91,4 225 98,7
cụ chỉnh hình, dụng cụ trợ giúp di chuyển, giáo dục hướng 
nghiệp... cho trẻ KTVĐ, nhằm làm giảm hậu quả của giảm 
khả năng và tàn tật, giúp trẻ KTVĐ hội nhập và tái hội nhập 
xã hội [1], [6]. Mặc dù các biện pháp can thiệp này đã đem 
lại những kết quả đáng khích lệ nhưng đó vẫn là những biệt 
pháp còn mang tính bị động, chỉ là nhằm khắc phục những 
hậu quả đã xảy ra [7]. Biện pháp can thiệp quan trọng là cần 
chủ động hạ thấp tỷ lệ KTVĐ bằng các hoạt động dự phòng 
sớm [2]. Nhưng cho đến nay, tại Việt Nam, có rất ít nghiên 
cứu về nguy cơ gây KTVĐ. Nghiên cứu nhằm tìm ra các 
bằng chứng nguy cơ KTVĐ là cần thiết trong việc tìm ra 
các bằng chứng và các giải pháp phòng ngừa trẻ khuyết tật. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Số liệu khám về KTVĐ của trẻ dưới 06 tuổi bị 
KTVĐ tại địa điểm nghiên cứu.
- Nhóm bà mẹ có trẻ KTVĐ và nhóm bà mẹ có trẻ 
không KTVĐ. 
- Nhóm bà mẹ có trẻ KTVĐ gồm 116 bà mẹ có trẻ 
KTVĐ dưới 06 tuổi hiện đang sống tại huyện Hoài Đức; 
được khám, phân loại và xác định KTVĐ. 
- Nhóm bà mẹ có trẻ không KTVĐ dưới 06 tuổi gồm 
232 bà mẹ (ghép cặp tỷ lệ 01 bệnh – 02 chứng, trẻ sinh ra 
cùng tuổi, cùng giới tính, ở gần nhà trẻ KTVĐ)
- Ghép cặp về tuổi và giới tính của trẻ trong nhóm 
bệnh và nhóm chứng.
Địa điểm nghiên cứu: Huyện Hoài Đức.
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu có 116 trẻ KTVĐ và 228 trẻ bình 
thường, để tránh yếu tố nhiễu, chúng tôi phân tầng so 
sánh, do vậy ở bảng khi so sánh tuổi thai khi sinh và tuổi 
bà mẹ có loại trừ 8 trường hợp. 
Nghiên cứu viên chưa tìm thấy mối liên quan (có ý 
nghĩa thống kê, với giá trị p < 0,05) giữa KTVĐ với các 
yếu tố thông tin chung của bà mẹ như: thai già tháng (p = 
0,188); mẹ làm ruộng so với mẹ làm các nghề khác (p = 
0,56); tuổi của mẹ khi sinh con (p = 0,685). Các yếu tố còn 
lại có sự liên quan như sau:
Bà mẹ có con sinh ra thiếu tháng, trẻ có nguy cơ 
mắc KTVĐ cao gấp 17,7 lần những bà mẹ có con sinh 
ra đủ tháng.
Những đứa trẻ sinh ra khi bà mẹ trên 35 tuổi có nguy 
cơ mắc KTVĐ cao gấp 2,1 lần những đứa trẻ sinh ra ở 
những bà mẹ trong nhóm tuổi 20 – 34.
Những đứa trẻ sinh ra khi người bố trên 45 tuổi có 
nguy cơ bị KTVĐ cao gấp 7,07 lần những đứa trẻ sinh ra 
khi những người bố dưới 45 tuổi. Sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê (χ2 = 11,283; p = 0,001).
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 91
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 2. Mối liên quan giữa KTVĐ với một số YTNC trước khi sinh
Phân loại
Đặc điểm 
KTVĐ Không KTVĐ
p
OR
(CI 95%)SL % SL %
Mẹ có tiền sử 
sẩy thai
Có 15 12,9 22 9,5
0,332
1,42
(0,70-2,83)Không 101 87,1 210 90,5
Mẹ hút thuốc lá
Có 0 0,0 0 0,0
Không 116 100 232 100
Mẹ uống rượu
Có 0 0,0 0 0,0
Không 116 100 232 100
Mẹ bị cúm
 03 tháng đầu 
mang thai
Có 53 45,7 34 14,7
<0,001
4,87
(2,91-8,16)Không 63 54,3 198 85,3
Gia đình có họ hàng 
hay người thân mắc 
bệnh có liên quan 
đến KTVĐ
Có 4 3,4 2 0,9
0,081
4,11
(0,74-22,76)Không 112 96,6 230 99,1
Bố uống rượu
Thường xuyên 5 4,3 8 3,4
0,712
1,24
(0,40–3,88)
Hiếm khi, 
không
111 95,7 220 96,6
Bố, mẹ tiếp xúc hóa 
chất, chất phóng xạ
Có 16 51,6 15 48,4
0,027
2,27
(1,08-4,78 )Không 100 31,9 213 68,1
Bố, mẹ sử dụng
 ma túy
Có 2 66,7 1 33,3
0,23
3,98
(0,35-44,3)Không 114 33,4 227 66,6
Nguy cơ mắc KTVĐ của những đứa trẻ sinh ra từ 
những người mẹ có tiền sử sẩy thai cao gấp 1,42 lần những 
đứa trẻ sinh ra từ bà mẹ không có tiền sử sẩy thai. Tuy vậy 
sự khác biệt lại không có ý nghĩa thống kê (p = 0,332).
Không có trẻ nào thuộc cả 2 nhóm có mẹ hút thuốc lá 
và uống rượu khi mang thai.
Những đứa trẻ sinh ra từ những người me bị bướu cổ 
có nguy cơ mắc KTVĐ cao gấp 2,01 lần những đứa trẻ 
sinh ra từ những người mẹ không bị bướu cổ. Tuy vậy, sự 
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,48).
Nguy cơ KTVĐ của những đứa trẻ sinh ra từ những 
người mẹ bị ho, sốt chảy mũi (cúm) 3 tháng đầu mang thai 
cao gấp 4,87 lần những đứa trẻ sinh ra từ người mẹ không 
bị ho, sốt chảy mũi. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
(χ2 = 39,42; p < 0,001).
Nguy cơ mắc KTVĐ của những đứa trẻ mẹ có tiền sử 
bệnh KTVĐ, CPTTT, tâm thần, động kinh cao gấp 4,11 
lần những đứa trẻ mẹ không có tiền sử KTVĐ CPTTT, 
động kinh. Tuy vậy, sự khác biệt này không có ý nghĩa 
thống kê (χ2 = 3,053; p = 0,081).
Những đứa trẻ sinh ra khi người bố trên 45 tuổi có 
nguy cơ bị KTVĐ cao gấp 7,07 lần những đứa trẻ sinh ra 
khi những người bố dưới 45 tuổi. Sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê (χ2 = 11,283; p = 0,001).
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn92
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
Nguy cơ mắc bệnh của những đứa trẻ sinh ra từ 
những người bố uống rượu thường xuyên cao gấp 1,24 
những đứa trẻ sinh ra từ những ông bố hiếm khi, không 
uống rượu. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (χ2 
= 0,136; p = 0,712).
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng 
KTVĐ ở trẻ và việc tiếp xúc hóa chất hay phóng xạ của 
người bố (χ2 = 4,88; P = 0,027). Khả năng mắc KTVĐ của 
trẻ khi người bố tiếp xúc với hoá chất (phóng xạ) cao gấp 
2,27 lần những trường hợp bố không tiếp xúc với hoá chất 
hay phóng xạ.
Như vậy, mối liên quan không có ý nghĩa thống kê 
giữa tình trạng KTVĐ và việc nghiện thuốc phiện của bố 
(χ2 = 1,47; p = 0,23 > 0,05). 
IV. BÀN LUẬN
Tìm hiểu mối liên quan giữa KTVĐ và tuổi thai trong 
nghiên cứu cho thấy bà mẹ có con sinh ra thiếu tháng 
(dưới 37 tuần tuổi) thì trẻ sinh ra có nguy cơ mắc KTVĐ 
cao gấp 17,7 lần những bà mẹ có con sinh ra đủ tháng 
(37 – 42 tuần). Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của 
Trần Thị Thu Hà (7,26 lần), thấp hơn so với nghiên cứu 
của Bengt và Harberg (27 lần) [3]. Ens, Veen, Dunin và 
cộng sự cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
đẻ non, cân nặng khi sinh thấp (< 2.500 gr) và KTVĐ 
(95% CI = 42,6 – 119,6; p = 0,001) [9].
Mối liên quan giữa tuổi của mẹ và khuyết tật vận 
động ở trẻ có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu cho 
thấy, nguy cơ mắc KTVĐ ở những trẻ sinh ra từ các bà 
mẹ trên 35 tuổi lớn hơn gấp 2,1 lần (p = 0,018) so với 
các trẻ sinh ra từ bà mẹ trong nhóm 20 – 34 tuổi. Kết quả 
trên phù hợp với kết quả một số tác giả: Hobbs (2001); 
Stanley (2000) [12]. Nguy cơ có con mắc KTVĐ ở các 
bà mẹ trên 35 tuổi có thể liên quan đến một số yếu tố 
nguy cơ biến đổi gen, sức khỏe sinh sản của bà mẹ giảm 
sút, nguy cơ tai biến khi sinh trẻ cao. Các yếu tố này ảnh 
hưởng đến sự phát triển của bào thai (suy dinh dưỡng 
bào thai, bất thường thai nghén...), sự phát triển của 
con sau khi sinh (không phát hiện sớm các dị tật bẩm 
sinh, bệnh lý sơ sinh có thể gây hậu quả xấu sau này...). 
Những đứa trẻ sinh ra khi bố trên 45 tuổi có nguy cơ 
mắc KTVĐ cao gấp 7,04 lần những đứa trẻ sinh ra khi 
bố dưới 45 tuổi (OR = 7,07; 95%CI=1,91–26,24; p = 
0,001; χ2 = 11,28). Theo Fletcher và Forley (2003), con 
của bố mẹ nhiều tuổi có nguy cơ mắc KTVĐ (rối loạn 
trương lực cơ, liệt nửa người, dị tật bẩm sinh hệ vận 
động...) cao hơn ở nhóm còn lại [10].
Nguy cơ mắc KTVĐ của những trẻ sinh ra từ những 
người mẹ có tiền sử nạo thai, sẩy thai, thai chết lưu cao 
gấp 1,42 lần các bà mẹ không có tiền sử trên (OR = 1,42; 
95%CI=0,70–2,83; p = 0,332; χ2 = 0,94). Những đứa trẻ 
sinh ra khi bố trên 45 tuổi có nguy cơ mắc KTVĐ cao 
gấp 7,04 lần những đứa trẻ sinh ra khi bố dưới 45 tuổi 
(OR = 7,07; 95%CI=1,91–26,24; p = 0,001; χ2 = 11,28). 
Theo Fletcher và Forley (2003), con của bố mẹ nhiều 
tuổi có nguy cơ mắc KTVĐ (rối loạn trương lực cơ, liệt 
nửa người, dị tật bẩm sinh hệ vận động...) cao hơn ở 
nhóm còn lại [10].
Kết quả nghiên cứu đã tìm thấy sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê (χ2 = 39,42, p < 0,001) khi tìm hiểu nguy 
cơ mắc KTVĐ ở trẻ khi bà mẹ bị cúm trong 03 tháng 
đầu của thời kỳ mang thai (OR = 4,87). Nhiều tác giả 
trên thế giới đã đề cập đến vai trò của một số virus gây 
tổn thương tế bào thần kinh của thai nhi và gây nên 
tình trạng KTVĐ sau này ở trẻ [8]. Điều này giúp đưa 
ra một số lưu ý cho các bà mẹ sau này cần thận trọng 
và siêu âm thường xuyên hơn để có thể phát hiện bất 
thường ở thai nhi trước 22 tuần (nếu có), từ đó sẽ được 
tư vấn phù hợp.
Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa KTVĐ 
ở nhóm trẻ có tiền sử gia đình bất thường (OR = 4,11; 
95%CI = 0,74 – 26,24; p = 0,081, χ2 = 3,053). Tuy nhiên, 
mối liên quan ở đây không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ 
4/116 (3,4%) gia đình trẻ KTVĐ có tiền sử bất thường 
thấp hơn so với nghiên cứu của Gustavon (16,3%) và 
Sinha (8,3%) [3]. Monreal cho thấy sự khác biệt về nguy 
cơ mắc KTVĐ ở gia đình có người bị động kinh, CPTTT, 
teo cơ giả phì đại... (OR = 1,70; 95%CI = 1,12 – 2,47; p = 
0,02, χ2 = 1,033) [13].
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng 
KTVĐ ở trẻ và việc tiếp xúc hóa chất độc hại hay phóng 
xạ của người bố (p = 0,027; OR = 2,271). Việc đánh giá 
mức độ ảnh hưởng và tác động do hóa chất độc hại hay 
phóng xạ đến người bố với tình trạng KTVĐ ở trẻ là 
không hề đơn giản và cần nhiều nguồn lực để có thể đưa 
ra một đo lường chính xác cũng như nghiên cứu có chiều 
sâu, đòi hỏi nhiều kinh phí hơn. Tác giả của nghiên cứu 
đã không tìm được nhiều tài liệu có liên quan đến chủ 
đề thú vị này.
V. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố nguy cơ dẫn 
tới tình trạng khuyết tật ở trẻ là trẻ sinh ra thiếu tháng; tuổi 
các bà mẹ, ông bố lúc sinh con; người mẹ bị ho, sốt chảy 
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 93
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. Phạm Dũng (2003), Thực trạng tàn tật và phục hồi chức năng ng ười tàn tật tại gia đình ở hai xã huyện Tiên 
Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2003, Luận văn Thạc sỹ Y tế Công cộng, Đại học Y tế Công cộng. 
2. Trần Trọng Hải (1993), Bại não và phục hồi chức năng, NXB Y học. 
3. Hội Phục hồi chức năng Việt Nam (1996), Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, NXB Y học, Hà Nội. 
4. Nguyễn Thị Minh Thủy (2001), Kết quả bước đầu điều tra dịch tễ học bại não tại tỉnh Hà Tây, Kỷ yếu công 
trình nghiên cứu khoa học - Hội phục hồi chức năng, số 7, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.292-293. 
5. Benjamin DK Jr, Stoll BJ, Fanaroff AA (2006), Neonatal candidiasis among extremely low birth weight 
infants: risk factors, mortality rates, and neurodevelopmental outcomes at 18 to 22 months, Duke Clinical Research, 
Duke University, USA, PMD: 16396864. 
6. Dunin WD, Rewecka TK, Milewska BB (2000), Risk factors for cerebral palsy in very low – birth weight 
infants in the 1980 – 1990s, Journal Child Neurol, United States, 15(6), pp.417 – 420. 
7. WHO (2001), International Classification of Impairments, Disabilities and Handicaps, Geneva: World 
Health Organization; pp.1 – 30. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
máu mũi (cúm) trong 03 tháng đầu mang thai; bố, mẹ có 
tiếp xúc hóa chất, phóng xạ trước khi sinh con.
Cần có thêm các nghiên cứu chứng tỏ vai trò các yếu 
tố nguy cơ trẻ khuyết tật, tuy vậy nghiên cứu cũng cho thấy 
sự phòng ngừa trẻ khuyết tật bao gồm các biện pháp liên 
quan đến độ tuổi sinh con của các cặp vợ chồng, tăng cường 
sức khỏe cho người mẹ khi mang thai và giảm tiếp xúc hóa 
chất, phóng xạ cho cả người mẹ và bố trước sinh.

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_nguy_co_truoc_khi_sinh_va_tinh_trang_khuyet_ta.pdf