Một số yếu tố nguy cơ dẫn đến truyền máu trong đẻ đường âm đạo tại khoa đẻ Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017

Mục đích: Xác định những yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến truyền máu sau

đẻ đường âm đạo tại khoa Đẻ Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017.

Phương pháp: tiến cứu, các chỉ số nghiên cứu theo mẫu bệnh án nghiên

cứu đánh giá trực tiếp trên những bệnh nhân có chỉ định truyền máu sau

đẻ đường âm đạo từ tháng 1 năm 2017 đến hết tháng 12 năm 2017.

Kết quả: Trong năm 2017 có 58 trường hợp sản phụ sau đẻ đường

âm đạo phải truyền máu sau đẻ, chiếm 0,61% (58/9488 ca). Trong

những chỉ định truyền máu thì chỉ định truyền máu do sản phụ mắc

bệnh lý về máu và do đờ tử cung sau đẻ chiếm tỷ lệ cao nhất và ngang

bằng nhau, chiếm 34,48%, tiếp đến là chỉ định truyền máu do sang

chấn sau đẻ thủ thuật (forceps, ventourse) chiếm 20,68%, đứng thứ ba

là do chấn thương tầng sinh môn sau đẻ chiếm 8,6%.

Kết luận: Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến phải truyền máu sau đẻ

đường âm đạo tại khoa Đẻ bệnh viện PSTW là do sản phụ mắc bệnh

về máu trước và trong khi mang thai, và do đờ tử cung sau đẻ, do sang

chấn trong đẻ bằng thủ thuật. Do đó, với những trường hợp sản phụ

mắc bệnh về máu thì phải xem xét, đánh giá cẩn thận trước khi chỉ định

đẻ đường âm đạo, tránh nguy cơ phải truyền máu.

pdf 4 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố nguy cơ dẫn đến truyền máu trong đẻ đường âm đạo tại khoa đẻ Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số yếu tố nguy cơ dẫn đến truyền máu trong đẻ đường âm đạo tại khoa đẻ Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017

Một số yếu tố nguy cơ dẫn đến truyền máu trong đẻ đường âm đạo tại khoa đẻ Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 83 - 86, 2018
83
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Đoàn Thị Phương Lam, Lê Thiện Thái, Phó Thị Quỳnh Châu 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ DẪN ĐẾN TRUYỀN MÁU 
TRONG ĐẺ ĐƯỜNG ÂM ĐẠO TẠI KHOA ĐẺ
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2017
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đoàn Thị Phương Lam, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: truyền máu, đẻ đường 
âm đạo, yếu tố nguy cơ.
Keywords: blood transfusion, 
vaginal delivery, risk factors. 
Tóm tắt
Mục đích: Xác định những yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến truyền máu sau 
đẻ đường âm đạo tại khoa Đẻ Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017. 
Phương pháp: tiến cứu, các chỉ số nghiên cứu theo mẫu bệnh án nghiên 
cứu đánh giá trực tiếp trên những bệnh nhân có chỉ định truyền máu sau 
đẻ đường âm đạo từ tháng 1 năm 2017 đến hết tháng 12 năm 2017. 
Kết quả: Trong năm 2017 có 58 trường hợp sản phụ sau đẻ đường 
âm đạo phải truyền máu sau đẻ, chiếm 0,61% (58/9488 ca). Trong 
những chỉ định truyền máu thì chỉ định truyền máu do sản phụ mắc 
bệnh lý về máu và do đờ tử cung sau đẻ chiếm tỷ lệ cao nhất và ngang 
bằng nhau, chiếm 34,48%, tiếp đến là chỉ định truyền máu do sang 
chấn sau đẻ thủ thuật (forceps, ventourse) chiếm 20,68%, đứng thứ ba 
là do chấn thương tầng sinh môn sau đẻ chiếm 8,6%. 
Kết luận: Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến phải truyền máu sau đẻ 
đường âm đạo tại khoa Đẻ bệnh viện PSTW là do sản phụ mắc bệnh 
về máu trước và trong khi mang thai, và do đờ tử cung sau đẻ, do sang 
chấn trong đẻ bằng thủ thuật. Do đó, với những trường hợp sản phụ 
mắc bệnh về máu thì phải xem xét, đánh giá cẩn thận trước khi chỉ định 
đẻ đường âm đạo, tránh nguy cơ phải truyền máu.
Từ khóa: truyền máu, đẻ đường âm đạo, yếu tố nguy cơ.
Abstract 
 EXPLORING RISK FACTORS LEADING TO 
BLOOD TRANSFUSION AFTER VAGINAL DELIVERY 
AT NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND 
GYNEACOLOGY IN 2017 
Objectives: To determine risk factors leading to blood transfusion 
after vaginal delivery at Department of Delivery, National hospital of 
Obstetrics and Gyneacology in 2017. 
Methodology: This is a prospective study among patient with blood 
transfusion after vaginal delivery from January to December, 2017. 
ĐOÀN THỊ PHƯƠNG LAM, LÊ THIỆN THÁI, PHÓ THỊ QUỲNH CHÂU
84
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
1. Đặt vấn đề
Sinh con là là giai đoạn quan trọng nhất và nguy 
hiểm nhất trong cuộc đời của người phụ nữ vì trong 
quá trình sinh đứa bé tính mạng của người phụ nữ 
có thể bị đe dọa. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 
528.000 phụ nữ tử vong do biến chứng của mang 
thai và sinh nở, trong đó trên 80 % trường hợp phụ 
nữ tử vong này gây ra trực tiếp bởi năm biến chứng 
sản khoa: chảy máu sau đẻ, nhiễm trùng, tiền sản 
giật, vỡ tử cung và biến chứng của phá thai [1]. 
Trong các nguyên nhân trên thì chảy máu sản khoa 
là nguyên nhân đứng hàng đầu vì nó có thể để lại 
di chứng và đe dọa đến tính mạng người phụ nữ 
nếu không được truyền máu kịp thời và đầy đủ [2].
Truyền máu ở đẻ đường âm đạo là một tai biến 
nặng và nguyên nhân hàng đầu được nghĩ đến là 
do cá nguyên nhân làm chảy máu sau đẻ gây ra 
như: đờ tử cung, chấn thương tầng sinh môn, hoặc 
do rau thai bám bất thường [3],[4]. Tuy nhiên, 
trong các nghiên cứu gần đây các tác giả nhận 
thấy bên cạnh những lý do trên thì có một số yếu 
tố nguy cơ dẫn đến sản phụ phải truyền máu trong 
đẻ có thể gặp là: sản phụ lớn tuổi, biến chứng của 
thai nghén như cao huyết áp, tiền sản giật, đái 
tháo đường thai nghén, sản phụ bệnh tim, béo phì, 
đẻ nhiều lần, chuyển dạ kéo dài, gây chuyển dạ, 
sót rau, nhiễm trùng ối, đa ối[5],[6].
Để phát hiện sớm và kịp thời những trường hợp 
mất máu cấp trong đẻ đường âm đạo, tại khoa Đẻ 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương (PSTW) đã sử dụng 
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Results: There were 58 cases of blood transfusion after vaginal delivery (0.61%, 58/9488). Common 
indications were blood conditions, uterine atony which had the equal rate (34.48%), followed by 
procedures (forcep, ventouse) 20.68%, end up by injury of perineum (8.6%). 
Conclusion: Leading causes of blood transfusion after vaginal delivery were maternal blood 
diseases, uterine atony and procedure-related injury. 
Keywords: blood transfusion, vaginal delivery, risk factors. 
túi đo lượng máu mất và áp dụng nhuần nhuyễn 
xử trí tích cực giai đoạn ba của cuộc chuyển dạ. 
Tuy nhiên, vẫn có một lượng không nhỏ sản phụ 
phải truyền máu sau đẻ. Vì vậy, với mong muốn 
dự phòng tốt nhất cho sản phụ trong và sau đẻ, 
tránh phải truyền máu sau đẻ chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu này.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu:
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tiến cứu, theo 
dõi dọc trên những sản phụ có chỉ định truyền máu 
trong và sau đẻ đường âm đạo tại khoa Đẻ bệnh 
viện PSTW từ tháng 1 năm 2017 đến hết tháng 12 
năm 2017.
Các dữ liệu cần nghiên cứu: 
Tất cả những yếu tố nguy cơ đã biết hoặc nghi 
ngờ có khả năng gây mất máu sau đẻ như sản phụ 
lớn tuổi, đờ tử cung, chấn thương đường sinh dục, 
rau thai bám bất thường, bệnh lý trước mang thai 
và bệnh lý do thai nghén gây ra như tiền sản giật, 
cao huyết áp, đái tháo đường thai nghén, sót rau, 
tuổi thai, trọng lượng thai, đẻ nhiều lần
Phân tích số liệu: 
Để khảo sát mối liên quan tiềm ẩn giữa các yếu 
tố nguy cơ và truyền máu khi sinh, chúng tôi tiến 
hành phân tích theo chiều dọc sử dụng các phương 
trình ước lượng tổng quát để kiểm tra sự kết hợp 
của mỗi trường hợp truyền máu sau sinh.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 83 - 86, 2018
85
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
3. Kết quả và bàn luận
3.1. Đặc điểm của sản phụ truyền máu
3.1.1. Đặc điểm chung của sản phụ
Kết quả bảng 1 cho thấy những sản phụ phải 
truyền máu sau đẻ đường âm đạo tại khoa Đẻ bệnh 
viện PSTW hầu hết là ở lứa tuổi sinh sản từ 20 tuổi 
đến 34 tuổi (81,03%). Kết quả của chúng tôi tương 
tự như kết quả nghiên cứu của Nadine Shehata và 
cộng sự năm 2017 thực hiện trên 45.213 sản phụ 
sau đẻ truyền máu thì tuổi trung bình của sản phụ 
là 31 tuổi [7]. Về nghề nghiệp và nơi ở thì kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sản phụ là viên 
chức và ở thành thị lại bị truyền máu sau đẻ đường 
âm đạo nhiều hơn sản phụ làm tự do và ở nông 
thôn, kết quả này tương tự kết quả những nghiên 
cứu khác [8],[9].
3.1.2. Đặc điểm về tiền sử sản phụ khoa của 
sản phụ
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2 cho thấy những 
sản phụ phải truyền máu sau đẻ hầu hết là sinh con 
dưới 3 lần, ít có tiền sử nạo hút thai nhiều lần, tiền 
sử đẻ thai to, đẻ băng huyết cũng ít gặp và không 
có trường hợp nào có tiền sử đẻ rách tầng sinh môn 
(TSM) phức tạp.
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %
Tuổi
< 20 tuổi 01 1,73 
 20 – 34 tuổi 47 81,03 
≥ 35 tuổi 10 17,24 
Nghề nghiệp
Cán bộ. CNV 26 44,83 
Làm ruộng 05 8,26 
Tự do 27 46,55 
Nởi ở 
Thành thị 29 50 
Nông thôn 29 50
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %
Số lần nạo hút thai
< 3 lần 54 93,1 
>=3 lần 04 6,9 
Số lần sinh đẻ 
< 3 lần 56 96,55 
>=3 lần 02 3,45 
Tiền sử đẻ thai to ( >=3500g)
Có 03 5,2 
không 55 94,8 
Tiền sử có băng huyết truyền máu sau đẻ ở lần sinh trước 
có 01 1,7 
không 57 98,3 
Tiền sử đẻ thủ thuật đường AĐ
Sang chấn TSM nhiều
Có 58 100 
không 0 0 
Tiền sử đẻ đường âm đạo lần trước bị rách TSM phức tạp
Có 0 0
không 0 0
Bảng 2. Tiền sử sản phụ khoa của đối tượng nghiên cứu
3.1.3. Đặc điểm bệnh lý mắc phải khi mang 
thai của sản phụ truyền máu
Kết quả nghiên cứu bảng 3 cho thấy trong 
tổng số sản phụ phải truyền máu sau đẻ thì có 
đến 53,45% số sản phụ có bị mắc bệnh trong quá 
trình mang thai trong đó đứng đầu là bệnh về máu 
(34,48), tiếp đến là bệnh cao HA- TSG (6,89%) 
và bệnh nội khoa tim phổi. Theo nghiên cứu của 
Hiergch L và cộng sự cho thấy chảy máu sau đẻ 
hay gặp ở sản phụ tiền sản giật và ít gặp ở sản phụ 
bị tiểu đường thai nghén [10].
3.2. Kết quả nghiên cứu về truyền 
máu sau đẻ đường âm đạo
3.2.1. Lý do phải truyền máu của đối tượng 
nghiên cứu
Kết quả bảng 4 cho thấy trong số sản phụ phải 
truyền máu khi đẻ đường âm đạo thì nguyên nhân 
do đờ tử cung và bệnh lý về máu là chiếm tỷ lệ cao 
nhất (34,48%), tiếp đến là đẻ thủ thuật (20,68%). 
Như vậy những trường hợp có bệnh lý về máu hay 
những sản phụ sinh đường âm đạo bằng thủ thuật 
có nguy cơ phải truyền máu vì mất máu khi đẻ cao.
3.2.2. Đặc điểm cuộc chuyển dạ của sản phụ 
phải truyền máu
Bảng 5 cho thấy những sản phụ phải truyền 
máu là sinh đủ tháng, gặp ở nhóm không dùng 
giảm đau trong đẻ hơn ở nhóm dùng, thời gian 
sử dụng oxytocin dài cũng ít gặp và trong lượng 
thai hầu hết là ở trong giới hạn thai không to. Như 
Bệnh lý mắc phải khi mang thai Số lượng Tỷ lệ %
Không bị bệnh 27 46,55
Bệnh lý khi 
mang thai
Cao HA, tiền sản giật 4 6,89
Bệnh về máu 20 34,48
Đái tháo đường thai nghén 2 3,44
Rau bám thấp, rau bám mép 1 1,75
Bệnh tim, phổi, gan 4 6,89
Tổng số 58 100
Bảng 3. Tình trạng bệnh lý khi mang thai của đối tượng nghiên cứu
Chỉ định truyền máu sau đẻ Số lượng Tỷ lệ %
Mất máu do tổn thương TSM, CTC nặng 5 8,62
Mất máu do đờ tử cung 20 34,48
Mất máu do đẻ thủ thuật ( forcep, giác hút) 12 20,68
Mất máu do bất thường rau thai ( rau bám chặt, rau bám thấp, rau 
bám mép) 01 1,74
Mất máu do bệnh lý về máu ở sản phụ 20 34,48
Mất máu sau đẻ kèm thiếu máu từ trước khi đẻ 0 0
Tổng số 58 100
Bảng 4. Những chỉ định truyền máu của đối tượng nghiên cứu
ĐOÀN THỊ PHƯƠNG LAM, LÊ THIỆN THÁI, PHÓ THỊ QUỲNH CHÂU
86
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %
Tuổi thai lúc sinh (tuần)
23 – 28 tuần 11 18,9
29 – 37 tuần 12 20,6
38 – 40 tuần 30 51,7
>= 41 tuần 5 8,8
Sử dụng giảm đau 
trong đẻ
Có 21 36,2
không 37 63,8
Truyền oxytocin >= 8 giờ
Có 05 8,62
không 53 91,38
Trọng lượng thai lúc đẻ
< 3500 gr 45 77,6
>= 3500gr 13 22,4
Lượng máu mất khi đẻ
< 500 ml 30 51,7
500 – 990 ml 21 36,2
>= 1000ml 07 12,1
Bảng 5. Đặc điểm cuộc chuyển dạ của đối tượng nghiên cứu
vậy những yếu tố này không phải là những yếu tố 
nguy cơ có thể dẫn đến sản phụ phải truyền máu 
sau đẻ [11]
3.2.3. Số lượng máu phải truyền ở sản phụ 
sau đẻ
Kết quả nghiên cứu ở bảng 6 cho thấy những sản 
phụ phải truyền máu sau đẻ đường âm đạo thường 
là truyền với số lượng ít, điều này là do những sản 
phụ này đã được theo dõi sát trong và sau đẻ nên 
phát hiện sớm, kịp thời nguy cơ mất máu.
3.2.4. Kết quả điều trị sản phụ sau đẻ phải 
truyền máu
Trong nghiên cứu này hầu hết sản phụ truyền 
máu là khỏi (91,38%), còn một số ít những trường 
Khối HC truyền Số lượng Tỷ lệ %
1 đơn vị 12 20,7
2 đơn vị 27 46,5
3 đơn vị 10 17,2
>= 4 đơn vị 09 15,6
Bảng 6. Mức độ truyền máu của sản phụ
Kết quả Số lượng Tỷ lệ %
Khỏi 53 91,38
Khỏi nhưng có di chứng 05 8,62
Tử vong 0 0
Tổng số 58 100
Bảng 7. Kết quả điều trị của đối tượng nghiên cứu
hợp khỏi nhưng để lại di chứng là những sản phụ 
bị cắt tử cung để cầm máu (8,62%), không có 
bệnh nhân nào tử vong. 
4. Kết luận
Qua 1 năm thực hiện tìm hiểu các yếu tố nguy 
cơ dẫn đến sản phụ phải truyền máu khi đẻ đường 
âm đạo tại khoa Đẻ Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
chúng tôi nhận thấy: yếu tố nguy cơ đứng hàng 
đầu là thai phụ có bệnh lý về máu và chảy máu 
do đờ tử cung, nguy cơ đứng thứ hai là do đẻ can 
thiệp bằng thủ thuật, tiếp đến là do chấn thương 
đường sinh dục.
5. Kiến nghị
Với những sản phụ có bệnh lý về máu phải 
theo dõi sát, đánh giá đầy đủ về các yếu tố nguy 
cơ xem có nên để đẻ đường âm đạo hay mổ lấy 
thai không để tránh phải truyền máu khi đẻ. Khi 
theo dõi đẻ đường âm đạo ở những sản phụ bị 
bệnh về máu thì phải cho thuốc dự phòng chảy 
máu, tránh mất máu nhiều khi đẻ. 
Với những trường hợp đẻ thủ thuật thì phải 
đánh giá chính xác thời điểm can thiệp, cách can 
thiệp tránh gây mất máu nhiều.
Tài liệu tham khảo
1. Lawani O.L., I.C.A., Onyebuchi A.K, Blood transfusion trends in obstetrics 
at the federal teaching hospital in Abakaliki, South East Nigeria. Int J 
Women’Health; 2013. 5: p. 407 - 412.
2. Clark S.L., B.M.A., Dildy G.A., Herbst M.A., Meyers J.A., Hankins G.D.. 
Maternal deaths in the 21 st century: causes, prevention, and relationship to 
cesarean delivery. Am J Obstet Gynecol; 2008. 199(1): p. 31 - 36.
3. Combs CA, M.E., Laros RK. Factors assossiated with postpartum 
hemorrhage with vaginal birth. Obstet Gyencol; 1991. 77: p. 69-76.
4. Stones RW, P.C., Sauders NJ. Risk factors for major obstertric haemorrhage 
Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol; 1993. 48: p. 15 -18.
5. Callaghan WM, K.E., Berg CJ. Trends in postpartum hemorrhage: United 
States, 1994-2006. Am J Obstet Gynecol; 2010. 202: p. 353.e1-6.
6. Lutomski JE, B.B., Devane D, et al. . Increasing trends in atonic postpartum 
haemorrhage in Ireland: an 11-year population-based cohort study. BJOG; 
2012. 119: p. 306-14.
7. Nadine Shehata, M.e.C., Jo Ann Colas, Malia Murphy, Alan J. Forster, 
Ann K. Malinowski, Robin Ducharme, Dean A. Fergusson, Alan Tinmouth, and 
Kumanan Wilson. Risks and trends of red blood cell transfusion in obstetric 
patients: a retrospective study of 45,213 deliveries using administrative data. 
TRANSFUSION; 2017. 00.
8. Callaghan WM, K.E., Berg CJ. . Trends in postpartum hemorrhage: United 
States, 1994–2006. Am J Obstet Gynecol; 2010. 202(4): p. 353.e1-6.
9. MAIJA JAKOBSSON, M.G., ANNA-MAIJA TAPPER. Risk factors for 
blood transfusion at delivery in Finland Acta Obstet Gynecol Scand; 2013. 
92: p. 414-420.
10. Hiersch L, B.-B.R., Asher D, Aviram A, Gabby-Benziv R3, Yogev Y, Ashwal 
E5. Risk factors for post-partum hemorrhage following vacuum assisted vaginal 
delivery. Arch Gynecol Obstet; 2017 Jan. 295(1): p. 75 - 80.
11. Al-Zirqi I, V.S., Fors´en L, Stray-Pedersen B.Am J Obstet Gynecol. Effects 
of onset of labor and mode of delivery on severe postpartum hemorrhage. Am 
J Obstet Gynecol; 2009. 201: p. 273.e1-9.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_nguy_co_dan_den_truyen_mau_trong_de_duong_am_d.pdf