Một số yếu tố liên quan phân mảnh DNA tinh trùng

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu một số

yếu tố liên quan đến chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng.

Phương pháp: Nghiên cứu tiến hành tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và

Vô sinh - Bệnh viện Đại học Y Dược Huế, trên những trường hợp nam

giới các cặp vợ chồng vô sinh đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Tiến

hành thu thập thông tin hành chính, tiền sử bệnh tật, thói quen sử dụng

thuốc lá, rượu bia; thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng bao gồm phân

tích tinh dịch và xét nghiệm phân mảnh DNA tinh trùng bằng phương

pháp SDC. Dựa vào chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng (DFI) chia thành

2 nhóm: DFI ≥ 30% và DFI < 30%,="" phân="" tích="" tìm="" mối="" liên="" quan="" giữa="">

và các yếu tố: tuổi, hút thuốc lá, rượu bia và các thông số mật độ, di

động tiến tới, bất thường hình thái, bất thường đầu và cổ - đuôi trong

phân tích tinh dịch.

Kết quả: Có 390 người đàn ông trong các cặp vợ chồng vô sinh đầy

đủ các tiêu chuẩn được lựa chọn vào mẫu nghiên cứu. Không có mối

tương quan nào giữa DFI với tuổi, sức sống và bất thường đuôi - cổ

của tinh trùng. Trong khi đó, có mối tương quan thuận của DFI với bất

thường hình thái tinh trùng đặc biệt là bất thường đầu và mối tương quan

nghịch của DFI với mật độ và di động tiến tới (p <>

Kết luận: Ngoài phân tích tinh dịch là xét nghiệm tiêu chuẩn để đánh giá

chất lượng tinh trùng ở nam giới hiếm muộn, xét nghiệm chỉ số phân mảnh

DNA tinh trùng cho thấy vai trò bổ sung cho chẩn đoán vô sinh nam.

pdf 8 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố liên quan phân mảnh DNA tinh trùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số yếu tố liên quan phân mảnh DNA tinh trùng

Một số yếu tố liên quan phân mảnh DNA tinh trùng
LÊ MINH TÂM, TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, LÊ ĐÌNH DƯƠNG, CAO NGỌC THÀNH
54
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
Lê Minh Tâm, Trần Thị Như Quỳnh, Lê Đình Dương, Cao Ngọc Thành 
Bệnh viện Đại học Y Dược Huế
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
PHÂN MẢNH DNA TINH TRÙNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Minh Tâm, email:
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/08/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
30/08/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 01/09/2019
Từ khóa: Chỉ số phân mảnh 
DNA tinh trùng, DFI, SDC, 
phân tích tinh dịch.
Keywords: sperm DNA 
fragmentation index, DFI, SDC, 
semen analysis.
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu một số 
yếu tố liên quan đến chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng.
Phương pháp: Nghiên cứu tiến hành tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và 
Vô sinh - Bệnh viện Đại học Y Dược Huế, trên những trường hợp nam 
giới các cặp vợ chồng vô sinh đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Tiến 
hành thu thập thông tin hành chính, tiền sử bệnh tật, thói quen sử dụng 
thuốc lá, rượu bia; thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng bao gồm phân 
tích tinh dịch và xét nghiệm phân mảnh DNA tinh trùng bằng phương 
pháp SDC. Dựa vào chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng (DFI) chia thành 
2 nhóm: DFI ≥ 30% và DFI < 30%, phân tích tìm mối liên quan giữa DFI 
và các yếu tố: tuổi, hút thuốc lá, rượu bia và các thông số mật độ, di 
động tiến tới, bất thường hình thái, bất thường đầu và cổ - đuôi trong 
phân tích tinh dịch.
Kết quả: Có 390 người đàn ông trong các cặp vợ chồng vô sinh đầy 
đủ các tiêu chuẩn được lựa chọn vào mẫu nghiên cứu. Không có mối 
tương quan nào giữa DFI với tuổi, sức sống và bất thường đuôi - cổ 
của tinh trùng. Trong khi đó, có mối tương quan thuận của DFI với bất 
thường hình thái tinh trùng đặc biệt là bất thường đầu và mối tương quan 
nghịch của DFI với mật độ và di động tiến tới (p < 0,05).
Kết luận: Ngoài phân tích tinh dịch là xét nghiệm tiêu chuẩn để đánh giá 
chất lượng tinh trùng ở nam giới hiếm muộn, xét nghiệm chỉ số phân mảnh 
DNA tinh trùng cho thấy vai trò bổ sung cho chẩn đoán vô sinh nam.
Từ khóa: Chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng, DFI, SDC, phân tích tinh dịch.
Abstract 
Objectives: The study was conducted to determine factors related to 
sperm DNA fragmentation index.
Materials and methods: The cross-sectional study, conducted at Hue 
Center of Reproductive Endocrinology and Infertility - Hue University 
Hospital, on cases of male in infertile couples and agreed to participate 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
55
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 54 - 61, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
in. Collecting administrative information, medical history, smoking and alcohol consumption; clinical and 
subclinical examination including semen analysis and sperm DNA fragmentation were tested by SDC 
method. Based on sperm DNA fragmentation index (DFI), patients were divided into 2 groups: DFI ≥ 30% 
and DFI <30% to find the relationship between DFI and factors such as: age, smoking, alcohol and other 
semen parameters: progressive motility, abnormal morphology, head and neck - tail abnormality.
Results: There are 390 men in infertile couples were selected for the study. There is no correlation 
between DFI and men’s age, vitality and tail-neck abnormality. Meanwhile, there is a positive correlation 
between DFI and abnormal morphology, especially abnormal head and negative correlation between 
DFI and progressive mobility, between DFI and concentration (p <0.05).
Conclusion: In addition to semen analysis, which is a standard test to discovery the sperm quality 
in infertile men, sperm DNA fragmentation test show as an additional role in the infertility diagnosis.
Key words: sperm DNA fragmentation index, DFI, SDC, semen analysis.
1. Đặt vấn đề
Thành công của thai kỳ chịu ảnh hưởng của cả 
nam và nữ. Trong tất cả các nguyên nhân gây vô 
sinh, gần 50% là do yếu tố vô sinh nam với vai trò 
là một yếu tố đơn lẻ hoặc kết hợp với yếu tố nữ (3), 
(46). Vô sinh nam được xác định bởi chất lượng 
của tinh trùng, ảnh hưởng đến khả năng thụ tinh. 
Trong các trường hợp vô sinh, phân tích tinh dịch 
đánh giá nồng độ, khả năng vận động và hình thái 
tinh trùng được thực hiện như một công cụ chẩn 
đoán tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tinh trùng 
(WHO, 2010) (47). Năm 1991, đã có báo cáo 
rằng hình thái tinh trùng bất thường không chỉ ảnh 
hưởng đến tỷ lệ thụ tinh thành công và tỷ lệ mang 
thai trong mỗi chu kỳ mà còn làm tăng nguy cơ sẩy 
thai, ngay cả khi chuyển phôi thành công thông 
qua chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) (23).
Năm 1993, Halliwell B đề cập đến vai trò của 
các stress oxy hóa (OS) – sự mất cân bằng trạng 
thái oxy hóa của cơ thể, gây ra do nồng độ quá 
cao của chất oxy hóa hoặc nồng độ quá thấp của 
chất chống oxy hóa. Các gốc oxy hóa phản ứng 
(ROS) được sản xuất bởi các tế bào tinh trùng nhằm 
tập hợp tinh trùng, điều hòa sự trưởng thành của 
tinh trùng và tăng cường đường truyền tín hiệu di 
động. Tuy nhiên, nồng độ cao ROS có thể tác dụng 
ngược lên chức năng tinh trùng, dẫn đến vô sinh. 
Tăng DFI, tức là tăng tỷ lệ đứt gãy DNA tinh trùng 
chính là dấu hiệu của mức ROS cao trong tinh dịch 
(10). Khi nồng độ ROS tăng cao, tinh trùng lại dễ 
bị tổn thương bởi OS do mất cân bằng quá trình 
oxy hóa – khử. Năm 2006, Agarwal A và cộng sự 
đã so sánh nồng độ ROS trong tinh dịch ở những 
người đàn ông bình thường với những người đàn 
ông vô sinh, kết quả nồng độ ROS cao có ý nghĩa 
(4). Năm 2016, SDF đã được AUA-Hiệp hội niệu 
học Hoa Kỳ và Hiệp hội châu Âu đưa vào hướng 
dẫn đối với vô sinh nam (21).
Sự phân mảnh DNA được biểu thị bằng chỉ 
số phân mảnh DNA (DFI). Tỷ lệ phân mảnh DNA 
thường tương quan với các thông số phân tích tinh 
dịch thông qua DFI bất thường cao (> 30%) và 
có thể được tìm thấy ở 8% nam giới vô sinh với 
phân tích tinh dịch bình thường, cho thấy vai trò 
bổ trợ cho phân tích tinh dịch chuẩn (27). Một 
nghiên cứu khác của Bungum và cộng sự vào năm 
2011 đã ước tính rằng 40% các trường hợp vô 
sinh không rõ nguyên có thể liên quan đến sự gia 
tăng đứt gãy DNA và đề xuất phương án điều trị 
đối với bệnh nhân có DFI >30% chuyển trực tiếp 
IVF/ICSI (11). Trong các nghiên cứu về tỷ lệ mang 
thai tự nhiên được phân tầng theo DFI, tỷ lệ thụ 
thai thấp hơn, tăng nguy cơ sẩy thai hoặc bệnh 
LÊ MINH TÂM, TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, LÊ ĐÌNH DƯƠNG, CAO NGỌC THÀNH
56
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
lý bào thai có ý nghĩa thống kê ở những cặp vợ 
chồng có DFI tăng (5).
Trong những năm gần đây, một số xét nghiệm 
đã được giới thiệu để đánh giá cấu trúc nhiễm 
sắc thể của tinh trùng, bao gồm xét nghiệm 
TUNEL (Terminal dUTP Nick-End Labeling), xét 
nghiệm Comet (Điện di gel đơn), xét nghiệm AO 
(Acridine Orange), CMA3 (Chromomycin A3), 
xét nghiệm SCSA và xét nghiệm SCD (Sperm 
chromatindispertion -phân tán chất nhiễm sắc của 
tinh trùng) (16), (42). Xét nghiệm SCD dựa trên 
nguyên tắc tinh trùng có DNA bị phân mảnh không 
tạo ra quầng sáng đặc trưng của các vòng DNA 
phân tán (18). Ngược lại, tinh trùng không có sự 
phân mảnh DNA sẽ giải phóng DNA tạo ra các 
quầng sáng lớn hoặc các tinh trùng ít phân mảnh 
tạo ra các quầng sáng trung bình. Tinh trùng có 
đứt gãy DNA xảy ra quá trình khử protein trong 
nhân của tế bào tinh trùng bởi acid biến tính và ly 
giải trong dung dịch tạo ra quầng sáng halo nhỏ 
hoặc không có (quầng sáng phát ra ở đầu tinh 
trùng). Ngược lại, các tinh trùng không có sự phân 
mảnh DNA sẽ không xảy ra quá trình khử protein 
trong nhân tế bào, các DNA được giải phóng và 
tạo ra các quầng sáng halo lớn hoặc trung bình khi 
bắt màu thuốc nhuộm (41).
Bằng cách phân tích tinh dịch thông thường, 
các thông số bình thường, bao gồm nồng độ, khả 
năng vận động và hình thái tinh trùng, không đảm 
bảo DNA tinh trùng bình thường. Tuy nhiên, thụ 
tinh vẫn có thể xảy ra ngay cả với DNA bị đứt 
gãy, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả mang thai, 
gia tăng tỷ lệ sẩy thai liên tiếp. Xét nghiệm sự phân 
mảnh DNA tinh trùng là công cụ cần thiết bổ sung 
chẩn đoán về tình trạng giao tử của nam giới (1). 
Mục đích bài báo này nhằm tìm hiểu một số yếu tố 
liên quan đến kết quả phân mảnh DNA tinh trùng 
ở những trường hợp vô sinh nam.
2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại 
Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Đại học 
Y Dược Huế từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 3 
năm 2019. Tiêu chí bao gồm là nam giới từ các 
cặp vợ chồng vô sinh được chẩn đoán vô sinh theo 
tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. (WHO) với 
phân tích tinh dịch và kết quả xét nghiệm đứt gãy 
DNA tinh trùng thông qua test halosperm. Tiêu chí 
loại trừ bao gồm bất kỳ trường hợp nào không thể 
xuất tinh, tinh trùng từ bảo quản lạnh hoặc phẫu 
thuật, bệnh nhân có số lượng tinh trùng cực thấp 
(dưới 1 triệu / mL) và trường hợp nam giới xét 
nghiệm không tìm thấy tinh trùng trong tinh dịch 
(azoospermia). Các trường hợp bị nhiễm trùng nói 
chung hoặc nhiễm trùng niệu sinh dục, với xuất 
tinh ngược, cũng bị loại khỏi nghiên cứu. Nghiên 
cứu được xét duyệt thông qua hội đồng đạo đức 
của trường Đại học Y Dược Huế.
Tiếp cận lâm sàng
Thông tin chung được ghi nhận liên quan đến 
tuổi, nghề nghiệp, địa lý, thời gian vô sinh, loại vô 
sinh, tiền sử bệnh nội khoa hoặc phẫu thuật, hút 
thuốc và uống rượu. Kiểm tra thể chất được thực 
hiện để đo chỉ số BMI, vòng eo, vòng hông, kiểm 
tra bộ phận sinh dục nam liên quan đến bất kỳ bất 
thường nào ở dương vật, bìu và tinh hoàn.
Quy trình thí nghiệm
Phân tích tinh dịch
Mẫu tinh dịch được thu thập và phân tích theo 
tiêu chuẩn của WHO năm 2010. Kiểm tra bằng 
kính hiển vi về khả năng di chuyển của tinh trùng, 
sức sống, mật độ và hình thái tinh trùng.
a. Độ di động của tinh trùng: Thông số vận 
động của tinh trùng được phân tích bằng cách đếm 
thủ công dưới kính hiển vi tương phản (Primo Star, 
Zeiss, Đức) với độ phóng đại tổng cộng 400 lần. 
Khả năng vận động của tinh trùng có hai loại: vận 
động tiến tới và vận động không tiến tới. Trong 
nghiên cứu này, sự vận động tiến tới của 200 tinh 
trùng đã được đánh giá.
b. Sức sống tinh trùng: Thông số sức sống được 
đánh giá bằng kỹ thuật eosin dưới kính hiển vi 
tương phản (Primo Star, Zeiss, Đức) với độ phóng 
đại 400 lần theo khuyến nghị của WHO. Hai trăm 
tế bào đã được tính ngay sau khi hóa lỏng các mẫu 
tinh dịch và phần trăm các tế bào khả thi đã được 
tính toán.
c. Hình thái tinh trùng: Thông số này được ước 
tính bằng nhuộm Giemsa. Hình thái của hình dạng 
và kích thước đầu tinh trùng, vùng acrosomal, cổ 
tinh trùng, trung gian, đuôi và giọt tế bào chất 
được xác định dưới kính hiển vi (Zeiss, Đức) với 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
57
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 54 - 61, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
độ phóng đại 1000 lần, theo ấn bản thứ 5 của 
hướng dẫn của WHO. Ít nhất 200 tinh trùng đã 
được tính để tính tỷ lệ phần trăm của cả hình thái 
bình thường và bất thường.
Kiểm tra phân mảnh DNA (test SCD)
Tất cả các mẫu tinh dịch được phân tích bằng 
xét nghiệm Sperm chromatindispertion (SCD) dựa 
trên quy trình biến tính DNA loại bỏ các protein 
có trong tinh trùng. Bằng cách này, các tinh trùng 
bình thường tạo ra quầng sáng được hình thành 
bởi các vòng DNA ở đầu tinh trùng, không có ở 
những người có DNA bị đứt gãy, test phân mảnh 
được thực hiện:
Tinh dịch được pha loãng trong môi trường nuôi 
cấy để thu được nồng độ tối đa 20 triệu tinh trùng 
/ ml. Lấy 1 lượng tinh dịch 0,2 ml pha loãng trong 
môi trường agar để thu được nồng độ tinh trùng 
dao động trong khoảng từ 5 đến 10 triệu / ml sau 
đó đặt lên tiêu bản. Tiêu bản có tinh trùng được ủ 
trong dung dịch biến tính axit trong 7 phút (dung 
dịch AD-acid denudation). Tiếp tục ủ trong dung 
dịch LS ly giải trong 25 phút. Qúa trình loại bỏ 
nước trong dung dịch bằng etanol 70%, 90% và 
100% (mỗi lần 2 phút) và để khô trong không khí 
ở nhiệt độ phòng, nhộm mẫu và đánh giá. Mỗi 
slide được kiểm tra dưới kính hiển vi ánh sáng ở độ 
phóng đại x 100 và tinh trùng được ghi nhận độ 
phân mảnh DNA.
Tinh trùng không có DNA bị phân mảnh tạo ra 
quầng sáng của DNA phân tán. Các quầng sáng 
tương ứng với các vòng DNA giãn ra gắn liền với 
cấu trúc của nhân bên trong, tinh trùng với DNA 
phân mảnh tạo ra các DNA phân tán nhỏ hoặc 
không có. Có 5 đánh giá đứt gãy DNA tinh trùng 
bao gồm:
1. Tế bào tinh trùng có quầng sáng lớn (độ dày 
bằng hoặc lớn hơn chiều dài đường kính)
2. Tế bào tinh trùng có halos trung bình (độ dày 
nhỏ hơn chiều dài đường kính nhỏ và lớn hơn 1/3 
đường kính nhỏ)
3. Tế bào tinh trùng có quầng nhỏ (độ dày 
bằng hoặc nhỏ hơn 1/3 đường kính nhỏ)
4. Tinh trùng không có quầng sáng
5. Tế bào tinh trùng thoái hóa
Tổng số 500 tinh trùng đã được đếm khi đánh 
giá phân mảnh DNA sau đó tính chỉ số phân mảnh 
DNA (DFI) theo công thức;
Đánh giá chia thành hai nhóm liên quan đến 
giá trị DFI. Chúng tôi đã chọn ngưỡng DFI ở mức 
30% để phân biệt giữa hai nhóm: nhóm DFI ≥ 30% 
và nhóm DFI <30%. Ngưỡng này được sử dụng bởi 
một số tác giả qua nghiên cứu (Sivanarayana T, 
2014), (Venkatesh S, 2011) .
Xử lý số liệu
Tất cả các phân tích thống kê được thực hiện 
bằng phần mềm SPSS (phiên bản 22.0, SPSS Inc., 
Chicago, IL, US). Tất cả dữ liệu số được trình bày 
dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Các 
tần số được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm so sánh 
các giá trị trung bình giữa hai nhóm được thực hiện 
bằng phân tích kiểm tra phương sai. Sự kết hợp của 
các tham số tiêu chuẩn và DFI được đo bằng hệ số 
tương quan Pearson (r). Độ chênh lệch giữa các giá 
trị được coi là có ý nghĩa thống kê khi p <0,05.
3. Kết quả
Tổng cộng có 390 người đàn ông trong các 
cặp vợ chồng vô sinh đã được lựa chọn vào nhóm 
nghiên cứu. Bảng 1 cho thấy các đặc điểm chung 
Yếu tố Tổng Mean ± SD DFI (%)median (IQR) Giá trị p
Tuổi 0.130
≥35 195 (50.0) 24.21 ± 17.59 19.4 (12.2 – 31.8)
<35 195 (50.0) 21.52 ± 17.38 16.0 (9.6 – 29.4)
Phân loại vô sinh 0.397
Nguyên phát 257 (65.9) 23.41 ± 17.99 18.6 (10.6 – 31.4)
Thứ phát 133 (34.1) 21.82 ± 16.57 16.6 (10.2 - 28.2)
Thời gian vô sinh 0.846
> 3 năm 192 (49.2) 23.04 ± 17.44 17.4 (10.9 – 29.4)
≤ 3 năm 198 (50.8) 22.70 ± 17.62 18.1 (10.2 – 30.4)
BMI (kg/m2) 0.815
<18.5 10 (2.6) 21.06 ± 12.58 15.8 (9.8 – 29.6)
18.5 – 22.9 173 (44.4) 22.16 ± 18.36 16.2 (9.8 – 26.4)
23 – 24.9 94 (24.1) 22.88 ± 16.53 17.4 (11.2 – 33.4)
≥25 113 (29.0) 24.10 ± 17.46 19.4 (13.4 – 31.8)
Địa dư 0.900
Thành thị 165 (42.3) 23.00 ± 15.76 19.2 (12.4 – 30.4)
Nông thôn 225 (57.7) 22.77 ± 18.72 16.6 (10.02 – 29.8)
Hút thuốc lá 0.364
Có 150 (38.5) 23.88 ± 16.18 20.2 (13.2 – 31.4)
Không 240 (61.5) 22.23 ± 18.30 15.3 (9.7 – 28.5)
Thói quen rượ ... NA (43).
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê về đầu bất thường giữa 
hai nhóm (85,33 ± 4,90 so với 86,90 ± 5,50, p 
= 0,009) và mối tương quan dương giữa DFI và 
bất thường đầu tinh trùng (r = 0,119, p = 0,002). 
Đồng thời, có mối tương quan dương giữa DFI và 
bất thường hình thái tinh trùng ( r = 0,113, p = 
0,027). Tuy nhiên, chúng tôi không tìm thấy bất 
kỳ mối quan hệ nào giữa DFI và bất thường cổ - 
đuôi tinh trùng (p = 0,568). Trong quá trình sinh 
tinh phát triển tinh trùng ở thể cực đầu, phần đầu 
của tinh trùng đang phát triển tạo nên bởi cấu trúc 
thể cực (acrosome) và sự cô đặc nhân (condensing 
nucleus), trong lúc đó sự phát triển của sợi trục kéo 
dài để trở thành đuôi, phần cổ (hay phần giữa) của 
tinh trùng dày lên là nơi chứa ty thể và là nơi các 
ATP năng lượng tạo ra cho sự chuyển động của tinh 
trùng (30). Vi vậy, bất kỳ tác động tiêu cực nào lên 
giai đoạn này sẽ dẫn đến hình thái bất thường của 
tinh trùng và xảy ra quá trình tổn thương DNA, tuy 
nhiên các ảnh hưởng có thể không gây tác động 
lên đuôi và cổ. Do đó phân tích chỉ số DFI có thể 
liên quan đến bất thường đầu nhưng không liên 
quan đến các bất thường ở cổ và đuôi.
Những thay đổi biển hiện gene và đột biến 
DNA cùng với các dị nguyên nhiễm sắc thể có liên 
quan đến việc tăng tuổi cha (38). Phân tích tinh 
dịch thông thường thường không thể phát hiện ra 
khiếm khuyết về sinh tinh (DFI cao) ở những người 
đàn ông lớn tuổi, do vậy, ở các cặp vợ chồng vô 
sinh có tuổi cha cao, kể cả khi các thông số tinh 
dịch bình thường, vẫn nên thực hiện xét nghiệm 
DNA tinh trùng như một phần của đánh giá cặp 
vợ chồng (15), (34). Tinh trùng có DFI cao hơn 
có ý nghĩa ở những người đàn ông lớn tuổi hơn 
(≥40 tuổi) so với những người đàn ông <40 tuổi có 
phân tích tinh trùng bình thường, trong khi mật độ, 
độ di động tiến tới và hình thái tinh trùng không 
khác biệt đáng kể giữa hai nhóm này (15). Trong 
nghiên cứu hiện tại, chúng tôi không tìm thấy sự 
khác biệt đáng kể giữa sự phân mảnh DNA của 
tinh trùng dựa trên tuổi trong hai nhóm (≥35 tuổi so 
với <35 tuổi). Đồng thời, trong phân tích đa biến, 
mối tương quan giữa DFI và tuổi cũng không có ý 
nghĩa thống kê (r = 0,098, p = 0,054). Trong các 
nghiên cứu trước đây, một mối tương quan dương 
nhẹ cũng được phát hiện giữa tuổi và tổn thương 
DNA (Komiya A, 2014), (28). Các báo cáo khác 
đã tìm thấy không có mối quan hệ giữa sự phân 
mảnh DNA và tuổi (32), (9).
Những căng thẳng và lối sống có thể ảnh hưởng 
đến đứt gãy DNA tinh trùng. Trong một nghiên cứu 
thực nghiệm trên chuột, sự xuất hiện của tổn thương 
DNA trong cùng các tế bào đã được ghi nhận bằng 
cách sử dụng xét nghiệm COMET, cho thấy sự gia 
tăng đáng kể về sự phá vỡ chuỗi đơn và chuỗi kép ở 
LÊ MINH TÂM, TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, LÊ ĐÌNH DƯƠNG, CAO NGỌC THÀNH
60
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
chuột phơi nhiễm khói thuốc lá (25). Kết quả của các 
nghiên cứu này cho thấy khói thuốc lá ảnh hưởng 
xấu đến nhân tinh trùng, do đó làm tăng sự phân 
mảnh tinh trùng trong các mẫu tinh dịch. Trong các 
nghiên cứu lâm sàng, mối quan hệ giữa hút thuốc và 
phân mảnh DNA tinh trùng đã được thảo luận trong 
các kết luận gây tranh cãi (37), (13). Trong nghiên 
cứu này, chúng tôi đã không tìm thấy một tác động 
đáng kể nào của việc hút thuốc lá đối với sự phân 
mảnh DNA của tinh trùng (p = 0.364).
Các nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đã 
gợi ý rằng rượu bia làm tăng DFI bằng cách tăng 
hoạt động oxy phản ứng (6), (40). Trong một mô 
hình chuột trưởng thành, tiêu thụ rượu làm gián 
đoạn khả năng vận động của tinh trùng, sự trưởng 
thành hạt nhân và tính toàn vẹn DNA của tinh 
trùng (40) (35). Các nghiên cứu ở người đã tiết lộ 
rằng tiêu thụ rượu gây ra những thay đổi đáng kể 
về hình thái trong tinh trùng, dẫn đến tinh trùng 
đầu và đuôi bất thường (26). Một nghiên cứu của 
Akira Komiya cho thấy DFI khác biệt đáng kể dựa 
trên tình trạng rượu và sử dụng rượu mãn tính làm 
tăng DFI lên 49,6 ± 23,3% so với 33,9 ± 18,0% ở 
những người không thường xuyên uống rượu (P = 
0,0084) (31). Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng 
DFI (24,70 ± 17,72) đã tăng trong các mẫu tinh 
dịch từ những người sử dụng rượu (n = 190) so 
với những người không thường xuyên sử dụng rượu 
(21,13 ± 17,18) (p = 0,044).
5. Kết luận 
Dữ liệu của chúng tôi cho thấy chỉ số phân 
mảnh DNA của tinh trùng không tương quan với 
tất cả các thông số tinh dịch thông thường mà chỉ 
tương quan với mật độ, di động tiến tới, bất thường 
hình thái đặc biệt là bất thường đầu tinh trùng. Do 
đó, xét nghiệm phân mảnh DNA tinh trùng nên 
được thực hiện như một bước bổ sung trong kiểm 
tra khả năng sinh sản của nam giới.
Tài liệu tham khảo
1. A.S.Rex, J.Aagaard and J.Fedder. (2017) DNA fragmentation in 
spermatozoa: a historical review. Andrology. 2017 Jul; 5(4):622-630.
2. Agarwal A, Allamaneni SS. Sperm DNA damage assessment: a test 
whose time has come. Fertility and sterility. 2005;84(4):850-3.
3. Agarwal A, Mulgund A, Hamada A, Chyatte MR. A unique view 
on male infertility around the globe. Reproductive biology and 
endocrinology: RB&E. 2015;13:37.
4. Agarwal A, Sharma RK, Nallella KP, Thomas Jr AJ, Alvarez JG, 
Sikka SC, Reactive oxygen species as an independent marker of male 
factor infertility, Fertil Steril 2006;86:878–85. 
5. Aitken RJ, De Iuliis GN & McLachlan RI. (2009) Biological and 
clinical significance of DNA damage in the male germ line. Int J Androl 
32, 46–56.
6. Akang EN, Oremosu AA, Osinubi AA, James AB, Biose IJ, Dike SI, 
et al. Alcohol-induced male infertility: Is sperm DNA fragmentation a 
causative? Journal of Experimental and Clinical Anatomy. 2017;16(1).
7. Avendano C, Franchi A, Taylor S, Morshedi M, Bocca S, Oehninger S. 
Fragmentation of DNA in morphologically normal human spermatozoa. 
Fertility and sterility. 2009;91(4):1077-84.
8. Belloc S, Benkhalifa M, Cohen-Bacrie M, Dalleac A, Chahine H, 
Amar E, et al. Which isolated sperm abnormality is most related to 
sperm DNA damage in men presenting for infertility evaluation. Journal 
of assisted reproduction and genetics. 2014;31(5):527-32.
9. Brahem S, Mehdi M, Elghezal H, Saad A. The effects of male 
aging on semen quality, sperm DNA fragmentation and chromosomal 
abnormalities in an infertile population. Journal of assisted reproduction 
and genetics. 2011;28(5):425-32.
10. Brooker RJ. Genetics: analysis and principles. 4th ed. Ohio, USA: 
McGraw-Hill Higher Education; 2011.
11. Bungum M, Bungum L & Giwercman A. (2011) Sperm chromatin 
structure assay (SCSA): a tool in diagnosis and treatment of infertility. 
Asian J Androl 13, 69–75.
12. Christensen P & Birck A. (2015) Comparison of methods for 
assesment of sperm DNA damage (fragmentation) and implications for 
the assisted reproductive technologies In: Screening the Single Euploid 
Embryo (ed. Scott Sills E, editor. ), pp. 53–71. Springer International 
Publishing, Switzerland.
13. Cui X, Jing X, Wu X, Wang Z, Li Q. Potential effect of smoking on 
semen quality through DNA damage and the downregulation of Chk1 in 
sperm. Mol Med Rep. 2016;14(1):753-61.
14. Daris B, Goropevsek A, Hojnik N, Vlaisavljevic V. Sperm 
morphological abnormalities as indicators of DNA fragmentation 
and fertilization in ICSI. Archives of gynecology and obstetrics. 
2010;281(2):363-7.
15. Das M, Al-Hathal N, San-Gabriel M, Phillips S, Kadoch IJ, 
Bissonnette F, et al. High prevalence of isolated sperm DNA damage 
in infertile men with advanced paternal age. Journal of assisted 
reproduction and genetics. 2013;30(6):843-8.
16. Evenson DP. The Sperm Chromatin Structure Assay (SCSA) and 
other sperm DNA fragmentation tests for evaluation of sperm nuclear 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
61
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 54 - 61, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
DNA integrity as related to fertility. Animal reproduction science. 
2016;169:56-75.
17. Evgeni E, Lymberopoulos G, Touloupidis S, Asimakopoulos B. 
Sperm nuclear DNA fragmentation and its association with semen 
quality in Greek men. Andrologia. 2015;47(10):1166-74.
18. Fernandez JL, Muriel L, Rivero MT, Goyanes V, Vazquez, 
Alvarez. The sperm chromatin dispersion test: a simple method for 
the determination of sperm DNA fragmentation. Journal of andrology. 
2003;24(1):59-66.
19. Fuentes-Mascorro G, Serrano H, Rosado A. Sperm chromatin. 
Archives of andrology. 2000;45(3):215-25.
20. Hasanzadeh Keshteli S, Farsi MM, Khafri S. Should We Perform Semen 
Analysis, DNA Fragmentation, and Hypo-osmotic Swelling Tests together? 
International journal of molecular and cellular medicine. 2016;5(4):246–54.
21. Jarow J, Sigman M, Kolettis P. Optimal evaluation of the Infertile 
Male: Best Practice Statement reviewed and validity confirmed 2011. 
Available at:  tility-optimal-
evaluation-(reviewed-and-validity-confirmed-2011), 2016. Accessed 
September 2018. 
22. Khalili MA, Aghaie-Maybodi F, Anvari M, Talebi AR. Sperm nuclear 
DNA in ejaculates of fertile and infertile men: correlation with semen 
parameters. Urology journal. 2006;3(3):154-9.
23. Kobayashi T, Miyazaki T, Natori M, Nozawa S. Protective role of 
superoxide dismutase in human sperm motility: superoxide dismutase 
activity and lipid peroxide in human seminal plasma and spermatozoa. 
Human reproduction (Oxford, England). 1991;6(7):987-91.
24. Komiya A, Kato T, Kawauchi Y, Watanabe A, Fuse H. Clinical 
factors associated with sperm DNA fragmentation in male patients with 
infertility. TheScientificWorldJournal. 2014;2014:868303.
25. La Maestra S, De Flora S, Micale RT. Effect of cigarette smoke 
on DNA damage, oxidative stress, and morphological alterations in 
mouse testis and spermatozoa. International journal of hygiene and 
environmental health. 2015;218(1):117-22.
26. La Vignera S, Condorelli RA, Balercia G, Vicari E, Calogero AE. 
Does alcohol have any effect on male reproductive function? A review of 
literature. Asian journal of andrology. 2013;15(2):221-5.
27. Lopez G, Lafuente R, Checa MA, Carreras R, Brassesco M. 
Diagnostic value of sperm DNA fragmentation and sperm high-
magnification for predicting outcome of assisted reproduction treatment. 
Asian journal of andrology. 2013;15(6):790-4.
28. Lu JC, Jing J, Chen L, Ge YF, Feng RX, Liang YJ, et al. Analysis of 
human sperm DNA fragmentation index (DFI) related factors: a report of 
1010 subfertile men in China. Reproductive biology and endocrinology: 
RB&E. 2018;16(1):23.
29. Mehdi M, Khantouche L, Ajina M, Saad A. Detection of DNA 
fragmentation in human spermatozoa: correlation with semen 
parameters. Andrologia. 2009;41(6):383-6.
30. Mescher AL. The Male Reproductive System. Junqueira’s Basic 
Histology text and atlas: MC Graw Hill Education; 2016. p. 439 - 59.
31. Muriel L, Meseguer M, Fernandez JL, Alvarez J, Remohi J, Pellicer 
A, et al. Value of the sperm chromatin dispersion test in predicting 
pregnancy outcome in intrauterine insemination: a blind prospective 
study. Human reproduction (Oxford, England). 2006;21(3):738-44.
32. Nijs M, De Jonge C, Cox A, Janssen M, Bosmans E, Ombelet 
W. Correlation between male age, WHO sperm parameters, DNA 
fragmentation, chromatin packaging and outcome in assisted 
reproduction technology. Andrologia. 2011;43(3):174-9.
33. Oliveira JB, Massaro FC, Baruffi RL, Mauri AL, Petersen CG, Silva 
LF, et al. Correlation between semen analysis by motile sperm organelle 
morphology examination and sperm DNA damage. Fertility and sterility. 
2010;94(5):1937-40.
34. Petersen CG, Mauri AL, Vagnini LD, Renzi A, Petersen B, Mattila M, 
et al. The effects of male age on sperm DNA damage: an evaluation of 
2,178 semen samples. JBRA assisted reproduction. 2018;22(4):323-30.
35. Rahimipour M, Talebi AR, Anvari M, Sarcheshmeh AA, Omidi M. 
Effects of different doses of ethanol on sperm parameters, chromatin 
structure and apoptosis in adult mice. European journal of obstetrics, 
gynecology, and reproductive biology. 2013;170(2):423-8.
36. Samplaski MK, Dimitromanolakis A, Lo KC, Grober ED, Mullen B, 
Garbens A, et al. The relationship between sperm viability and DNA 
fragmentation rates. Reproductive biology and endocrinology: RB&E. 
2015;13:42.
37. Sepaniak S, Forges T, Gerard H, Foliguet B, Bene MC, Monnier-
Barbarino P. The influence of cigarette smoking on human sperm quality 
and DNA fragmentation. Toxicology. 2006;223(1-2):54-60.
38. Sharma R, Agarwal A, Rohra VK, Assidi M, Abu-Elmagd M, Turki 
RF. Effects of increased paternal age on sperm quality, reproductive 
outcome and associated epigenetic risks to offspring. Reproductive 
biology and endocrinology: RB&E. 2015;13:35.
39. Sivanarayana T, Ravi Krishna C, Jaya Prakash G, Krishna KM, 
Madan K, Sudhakar G, et al. Sperm DNA fragmentation assay by sperm 
chromatin dispersion (SCD): correlation between DNA fragmentation 
and outcome of intracytoplasmic sperm injection. Reproductive medicine 
and biology. 2014;13(2):87-94.
40. Talebi AR, Sarcheshmeh AA, Khalili MA, Tabibnejad N. Effects 
of ethanol consumption on chromatin condensation and DNA 
integrity of epididymal spermatozoa in rat. Alcohol (Fayetteville, NY). 
2011;45(4):403-9.
41. Tandara M, Bajic A, Tandara L, Bilic-Zulle L, Sunj M, Kozina V, et al. 
Sperm DNA integrity testing: big halo is a good predictor of embryo quality 
and pregnancy after conventional IVF. Andrology. 2014;2(5):678-86.
42. Tandara M, Bajić A, Tandara L, Šunj M, Jurišić Z, Jukić M. 
Correlation between proportions of sperm with DNA fragmentation 
assessed by Halosperm test and values of standard quality parameters 
of semen and possible impact on embryo quality. Izvirni članek/Original 
article. 2013;82:298 - 307.
43. Utsuno H, Oka K, Yamamoto A, Shiozawa T. Evaluation of sperm 
head shape at high magnification revealed correlation of sperm DNA 
fragmentation with aberrant head ellipticity and angularity. Fertility and 
sterility. 2013;99(6):1573-80.
44. Velez de la Calle JF, Muller A, Walschaerts M, Clavere JL, Jimenez 
C, Wittemer C, et al. Sperm deoxyribonucleic acid fragmentation as 
assessed by the sperm chromatin dispersion test in assisted reproductive 
technology programs: results of a large prospective multicenter study. 
Fertility and sterility. 2008;90(5):1792-9.
45. Venkatesh S, Singh A, Shamsi MB, Thilagavathi J, Kumar R, Mitra 
DK, et al. Clinical significance of sperm DNA damage threshold value 
in the assessment of male infertility. Reproductive sciences (Thousand 
Oaks, Calif). 2011;18(10):1005-13.
46. Wiweko B, Utami P. Predictive value of sperm deoxyribonucleic 
acid (DNA) fragmentation index in male infertility. Basic and clinical 
andrology. 2017;27:1.
47. World Health Organization. WHO laboratory manual for the 
Examination and processing of human semen. Switzerland. 2010.

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_lien_quan_phan_manh_dna_tinh_trung.pdf