Một số nhận xét về kỹ thuật và kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi tại Bệnh viện Quân Y 103

31 bệnh nhân được PTNS cắt thùy phổi từ 5/2016 đến 9/2017. Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, không đối chứng. PTNS được chỉ định để cắt tất cả các vị trí thùy phổi, gồm bệnh phổi lành tính (tỷ lệ 16%) và ung thư phổi (84%). Cả 02 phương pháp PTNS được áp dụng (PTNS hoàn toàn 64,6%; PTNS hỗ trợ 35,4%), PTNS hỗ trợ thường được áp dụng ở những trường hợp u phổi có kích thước lớn trên 5cm, rãnh liên thùy không hoàn toàn (p < 0,05).="" tĩnh="" mạch="" luôn="" được="" cắt="" đầu="" tiên="" khi="" cắt="" thùy="" trên="" phổi="" (14/14="" trường="" hợp),="" phế="" quản="" luôn="" được="" cắt="" sau="" khi="" cắt="" các="" mạch="" máu="" (tỷ="" lệ="" 100%).="" ptns="" vét="" hạch="" ở="" bệnh="" nhân="" ung="" thư="" phổi="" hiệu="" quả="" với="" 58,3%="" vét="" được="" hạch="" n1,="" 69,4%="" vét="" hạch="" n2,="" số="" vị="" trí="" vét="" được="" hạch="" trung="" bình="" là="" 1,6="" ±="" 1,0.="" kết="" quả="" phẫu="" thuật="" khả="" quan="" với="" tỷ="" lệ="" tai="" biến="" và="" biến="" chứng="" thấp="" (6,4%).="" không="" có="" tử="" vong="" trong="" và="" sau="">

pdf 9 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Một số nhận xét về kỹ thuật và kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi tại Bệnh viện Quân Y 103", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số nhận xét về kỹ thuật và kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi tại Bệnh viện Quân Y 103

Một số nhận xét về kỹ thuật và kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi tại Bệnh viện Quân Y 103
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 104 
MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ KỸ THUẬT VÀ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU 
PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC CẮT THÙY PHỔI 
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 
Vũ Anh Hải*, Nguyễn Văn Nam*, Nguyễn Ngọc Trung*, Lê Việt Anh*, Trần Thanh Bình*, Lại Hợp Hậu*, 
Nguyễn Khánh*, Phan Duy Nguyên*, Đặng Tuấn Nghĩa*, Nguyễn Trường Giang* 
TÓM TẮT 
31 bệnh nhân được PTNS cắt thùy phổi từ 
5/2016 đến 9/2017. Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, 
không đối chứng. PTNS được chỉ định để cắt tất 
cả các vị trí thùy phổi, gồm bệnh phổi lành tính 
(tỷ lệ 16%) và ung thư phổi (84%). Cả 02 phương 
pháp PTNS được áp dụng (PTNS hoàn toàn 
64,6%; PTNS hỗ trợ 35,4%), PTNS hỗ trợ thường 
được áp dụng ở những trường hợp u phổi có kích 
thước lớn trên 5cm, rãnh liên thùy không hoàn 
toàn (p < 0,05). Tĩnh mạch luôn được cắt đầu tiên 
khi cắt thùy trên phổi (14/14 trường hợp), phế 
quản luôn được cắt sau khi cắt các mạch máu (tỷ 
lệ 100%). PTNS vét hạch ở bệnh nhân ung thư 
phổi hiệu quả với 58,3% vét được hạch N1, 
69,4% vét hạch N2, số vị trí vét được hạch trung 
bình là 1,6 ± 1,0. Kết quả phẫu thuật khả quan với 
tỷ lệ tai biến và biến chứng thấp (6,4%). Không 
có tử vong trong và sau mổ. 
* Từ khóa: Phẫu thuật nội soi lồng ngực, Phẫu 
thuật nội soi cắt thùy phổi 
ABSTRACT 
THORACOSCOPIC LOBECTOMY IN 
MILITARY HOSPITAL 103: TECHNIQUE 
AND INITIAL RESULTS 
31 patients underwent operation by 
thoracoscopic surgery lobectomy at the Military 
hospital 103 from 05/2016 to 9/2017. Methods: 
prospective, descriptive. Thoracoscopic 
lobectomy was indicated for all lung segments 
that include benign lung disease (16%) and lung 
cancer (84%). The operation procedures included: 
thoracoscopic surgery (64.6%) and video-assisted 
thoracoscopic surgery (VATS) (35.4%), VATS 
was indicated in patient with tumor’s size > 5cm, 
the fissure was not clear (p < 0.05). The 
pulmonary vein was always cut first with upper 
lobar (14/14 of patients), the bronchus was divided 
after excision of pulmonary vein and artery 
(100%). The lympho nodes excision in lung cancer 
included: N1 (58.3%), N2 (69.4%), the average 
number of lympho nodes resection was 1.6 ± 1. 
Results: low rate of complication (6.4%). The 
death rate in and post – operative was 0%.* 
*Keywords: thoracoscopic surgery, VATS lobectomy 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Nội soi lồng ngực được thực hiện đầu tiên 
bởi Jacobaeus năm 1910 tại bệnh viện Serafimerla 
sarettet ở Stockholm. Đến năm 1992, cắt thùy phổi 
bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực lần đầu tiên 
được thực hiện thành công [1], [7], [9]. 
Ngày nay, nhiều trung tâm trên thế giới đã 
áp dụng kỹ thuật này. Tại Việt Nam, phẫu thuật 
nội soi lồng ngực được đưa vào áp dụng từ năm 
1996. Tuy nhiên, kỹ thuật phẫu thuật chưa được 
thống nhất, vấn đề chỉ định áp dụng cũng còn 
nhiều tranh luận, nhất là trong phẫu thuật cắt thùy 
phổi điều trị ung thư phổi [2], [8], [10]. 
 Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực 
hiện nghiên cứu nhằm mục tiêu: Nhận xét kỹ 
thuật và đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật 
* Bệnh viện Quân y 103 - Học viện Quân y 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Trường Giang 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ KỸ THUẬT VÀ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC... 
 105 
nội soi lồng ngực cắt thùy phổi tại Bệnh viện 
Quân y 103 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
31 bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội 
soi cắt thùy phổi tại khoa Phẫu thuật lồng ngực - 
Tim mạch, Bệnh viện Quân y 103 từ 5/2016 đến 
9/2017. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, không đối 
chứng. 
2.3. Quy trình phẫu thuật và chăm sóc 
sau mổ 
- Chỉ định phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi 
+ Bệnh nhân đủ điều kiện để phẫu thuật 
lồng ngực, chịu đựng được gây mê một phổi, 
không có bệnh lý màng phổi và phẫu thuật 
khoang màng phổi trước đó. 
+ Bệnh phổi lành tính: dãn phế quản khu 
trú; u phổi lành tính nhưng vị trí u nằm sâu trong 
nhu mô phổi hay u kích thước lớn không thể cắt 
phổi hình chêm; phổi biệt lập  
+ Ung thư phổi nguyên phát: giai đoạn I, II, 
u kích thước < 6 cm. 
- Quy trình kỹ thuật phẫu thuật nội soi 
cắt thùy phổi 
+ Vô cảm: thông khí chọn lọc một phổi 
bằng ống nội khí quản hai nòng. 
+ Tư thế bệnh nhân: Nằm nghiêng 90 độ, 
độn gối dưới bờ sườn. 
Hình 1. Tư thế bệnh nhân 
+ Vị trí kíp phẫu thuật: 
 Phẫu thuật viên chính: luôn đứng bên phải 
bệnh nhân 
 Phẫu thuật viên phụ 1: đối diện phẫu thuật 
viên chính 
 Phẫu thuật viên phụ 2: cùng bên phẫu 
thuật viên chính 
 Kỹ thuật viên dụng cụ: bên trái phẫu thuật 
viên phụ 1 
+ Màn hình máy nội soi: 2 màn hình nội soi ở 
hai bên bàn mổ để cho phẫu thuật viên chính và phẫu 
thuật viên phụ 1 quan sát, góc khoảng 15 - 30 độ. 
+ Các bước kỹ thuật: 
Bước 1: Đặt trocar 
Trocar 10mm cho ống soi, thường được đặt 
tại khoang liên sườn VII hoặc VIII đường nách 
giữa. 
Trocar 12mm ở khoang liên sườn 6 hoặc 7 
đường nách sau để đưa dụng cụ vén phổi. 
Bước 2: Đánh giá tổn thương và quyết định 
phương pháp phẫu thuật 
Đánh giá tình trạng dầy dính khoang màng 
phổi (KMP): Có dày dính hay không (phổi tự do 
hoàn toàn) 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 106 
Tình trạng rãnh liên thùy : Hoàn toàn hay 
không hoàn toàn 
Xác định vị trí, kích thước và tính chất tổn 
thương (xâm lấn tại mạch máu, thùy phổi liền kề, 
màng phổi hay không) 
Quyết định phương pháp phẫu thuật: 
- PTNS hoàn toàn: Mở ngực nhỏ khoảng 
3 - 5cm tại khoang liên sườn 4 hoặc 5 đường 
nách trước. Không dùng dụng cụ banh sườn, 
mà sử dụng Wound retractor/protector bằng 
silicon để banh cơ và cô lập đường mổ. 
Hình 2. Vị trí đặt trocar và đường mở ngực 
- PTNS hỗ trợ: Mở ngực 8 - 10cm, vị trí KLS 
IV hoặc V, đường nách trước. Sử dụng banh sườn 
nhỏ để mở rộng KSL để có thể đưa các dụng cụ mổ 
mở có cán dài qua vị trí này (thường 3cm) 
Bước 3: Cắt thùy phổi và vét hạch 
Các thành phần cuống thùy phổi được phẫu 
tích và cắt riêng theo giải phẫu. Sử dụng 
dụng cụ khâu cắt nội soi để cắt mạch máu phổi, phế 
quản và rãnh liên thùy. Với các nhánh nhỏ động mạch 
có thể sử dụng hemolock 
Tiến hành vét hạch theo hệ thống nếu kết 
quả tế bào/ mô bệnh của khổi u là ung thư (dựa 
trên kết quả sinh thiết trước mổ hoặc mô học tức 
thì trong mổ). 
Bước 4: Kết thúc phẫu thuật 
Bệnh phẩm được cho vào túi, lấy ra khỏi 
lồng ngực. 
Kiểm tra cầm máu. Rửa sạch khoang màng 
phổi, đánh giá tình trạng nở phổi, kiểm tra các vị 
trí dò khí để khâu tăng cường. 
Đặt ống dẫn lưu khoang màng phổi. 
Hình 3. Kết thúc phẫu thuật 
MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ KỸ THUẬT VÀ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC... 
 107 
2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu 
2.4.1. Đặc điểm chung 
 Tuổi, giới tính 
2.4.2. Quy trình phẫu thuật 
a. Chỉ định 
- Theo vị trí thùy phổi được cắt 
- Kích thước khối u (đường kính lớn nhất 
của khối u đo được sau khi cắt thùy phổi) 
- Bệnh lý phẫu thuật (theo kết quả mô bệnh 
học sau mổ) 
- Giai đoạn TNM trước phẫu thuật theo 
AJCC 2009 (với những trường hợp ung thư phổi 
không tế bào nhỏ) 
- Đặc điểm tổn thương đánh giá được khi 
đưa ống soi quan sát: Mức độ dầy dính KMP; 
tính chất xâm lấn của tổn thương; đặc điểm rãnh 
liên thùy. 
b. Kỹ thuật phẫu thuật 
- Phương pháp PTNS: Hoàn toàn hay hỗ trợ 
PTNS hoàn toàn: Mở ngực nhỏ (3 - 5cm), 
sử dụng dụng cụ PTNS lồng ngực chuyên dụng, 
quá trình phẫu thuật quan sát toàn bộ trên màn 
hình nội soi 
PTNS hỗ trợ: Mở ngực 8 - 10cm, sử dụng 
kết hợp các dụng cụ mổ mở có cán dài, quá trình 
phẫu thuật kết hợp quan sát trực tiếp và màn hình 
nội soi 
- Trình tự xử lý các thành phần cuống thùy 
- Vét hạch (với những trường hợp UTP 
không TBN) 
2.4.3. Đánh giá kết quả 
- Thời gian, máu mất trong mổ 
- Thời gian dẫn lưu KMP, nằm viện sau mổ 
- Biến chứng trong và sau mổ 
- Tử vong phẫu thuật (tháng đầu tiên sau mổ). 
2.5. Xử lý số liệu 
Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê Epi 
Info 3.3.2. 
III. KẾT QUẢ 
 Trong thời gian nghiên cứu, có 31 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn bệnh, với: 
 - Tuổi trung bình là 57,0 ± 8,4 (nhỏ nhất 40, lớn nhất 72) 
 - Nam giới 25 trường hợp (chiếm 80,6%) và nữ 6 trường hợp (tỷ lệ 19,4%) 
 3.1. Đặc điểm kỹ thuật 
 3.1.1. Chỉ định 
Bảng 3.1. Vị trí thùy phổi được cắt 
Vị trí u phổi Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) 
Thùy trên phổi P 6 19,3 
Thùy giữa phổi P 1 3,2 
Thùy dưới phổi P 11 35,4 
Thùy trên phổi T 8 25,8 
Thùy dưới phổi T 5 16,3 
Tổng 31 100 
Nhận xét: Tất cả các thùy phổi đều có thể cắt bằng PTNS. Phổi phải chiếm ưu thế hơn (18/31 = 58,1%). 
Bảng 3.2. Kích thước tổn thương 
 Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình 
Kích thước tổn thương (cm) 1,2 7,5 3,3 ± 1,4 
Nhận xét: PTNS cắt thùy phổi có thể thực hiện khi kích thước khối u lớn nhất đến 7,5cm. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 108 
Bảng 3.3. Bệnh lý phổi được điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt thùy 
Bệnh lý phổi Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) 
Ung thư không tế bào nhỏ 26 84,0 
U mạch 1 3,2 
U lao 2 6,4 
Hamartoma 1 3,2 
Áp xe phổi 1 3,2 
Tổng 31 100,0 
Nhận xét: Ung thư phổi không tế bào nhỏ là bệnh lý chiếm chủ yếu được chỉ định PTNS cắt thùy 
phổi điều trị (tỷ lệ 84,0%). 
Bảng 3.4. Đặc điểm rãnh liên thùy và dầy dính khoang màng phổi 
Chỉ tiêu Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) 
Dầy dính KMP 
Có 14 45,2 
Không 17 54,8 
Rãnh liên thùy 
Hoàn toàn 17 54,8 
Không hoàn toàn 14 45,2 
Nhận xét: PTNS cắt thùy phổi ở cả những BN có rãnh liên thùy không hoàn toàn (tỷ lệ 45,2%) và 
có dày dính KMP (45,2%). 
Bảng 3.5. Giai đoạn TNM trước mổ (n = 26) 
Giai đoạn TNM Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) 
IA 11 42,3 
IB 11 42,3 
IIA 1 3,8 
IIB 1 3,8 
IIIA 2 7,7 
Nhận xét: BN ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I chiếm chủ yếu (84,6%). 
 3.1.2. Kỹ thuật phẫu thuật 
 Trong số 31 bệnh nhân, chúng tôi thực hiện PTNS hoàn toàn cắt thùy phổi cho 20 trường hợp 
(chiếm 64,5%), 11 trường hợp được PTNS hỗ trợ (tỷ lệ 35,5%). 
Bảng 3.6. Liên quan phương pháp phẫu thuật nội soi và một số yếu tố 
Chỉ tiêu Nội soi hoàn toàn Nội soi hỗ trợ P 
Dày dính KMP 
Có 8 6 
> 0,05a 
Không 12 5 
Rãnh liên thùy 
Có 15 2 
0,007b 
Không 5 9 
U dính màng phổi 
thành 
Có 1 2 
> 0,05b 
Không 19 9 
Kích thước u 
≥ 5cm 0 4 
0,01b 
< 5cm 20 7 
Mô bệnh học 
UTP 18 9 
> 0,05b 
U lành 2 2 
Nhận xét: Rãnh liên thùy không hoàn toàn, kích thước u từ 5cm trở lên là yếu tố có chi phối tới 
quyết định lựa chọn phương pháp PTNS hỗ trợ. 
MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ KỸ THUẬT VÀ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC... 
 109 
Bảng 3.7. Thành phần cuống thùy được cắt trước theo thùy phổi 
Thành phần cuống thùy 
được cắt cắt trước 
Thùy phổi cắt 
Trên Giữa Dưới 
Động mạch phổi 0 0 7 
Tĩnh mạch phổi 14 1 9 
Phế quản 0 
Nhận xét: Khi cắt thùy trên, TM luôn được cắt trước (14/14 bệnh nhân). ĐM phổi được cắt 
trước khi cắt thùy dưới phổi chiếm tỷ lệ 43,8% (7/16 trường hợp). 
Bảng 3.8. Nhóm hạch được vét trong mổ 
Nhóm hạch Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) 
Hạch trong và rốn phổi (N1) 21 58,3 
Hạch trung thất (N2) 25 69,4 
Số hạch trung bình được vét 1,6 ± 1,0 
Nhận xét: Có 21 trường hợp nạo vét hạch N1 (58,3%) và 25 trường hợp nạo vét hạch N2 
(69,4%) trong mổ, số hạch trung bình vét được trong một ca mổ là 1,6 ± 1,0 hạch. 
3.2. Kết quả sớm 
Bảng 3.9. Thời gian, máu mất phẫu thuật 
Chỉ tiêu PTNS hoàn toàn PTNS hỗ trợ P values 
Thời gian (phút) 
149,0 ± 33,2 154,5 ± 40,7 
> 0.05 
150,9 ± 35,5 
Máu mất (ml) 
94 ± 60,2 100 ± 59,3 
96 ± 48,3 
Nhận xét: Sự khác biệt về thời gian và máu mất theo phương pháp PTNS không có ý nghĩa thống 
kê (p > 0,05). 
Bảng 3.10. Tai biến, biến chứng 
Tai biến, biến chứng Số bệnh nhân Tỷ lệ (%) 
Tổn thương mạch máu 2 6,4 
Rò khí kéo dài sau mổ 2 6,4 
Tử vong 0 0,0 
Nhận xét : 2 trường hợp có tai biến chảy máu trong mổ: 01 do rách ĐM phổi khi cắt thùy trên 
phổi (P); 01 do rách TM phổi ở bệnh nhân được cắt thùy trên (T) 
Bảng 3.11. Thời gian dẫn lưu khoang màng phổi và nằm viện sau mổ 
Chỉ tiêu Ngắn nhất Dài nhất Trung bình 
Thời gian dẫn lưu KMP (ngày) 3 10 4,0 ± 1,9 
Thời gian nằm viện sau mổ (ngày) 6 16 9,8 ± 3,3 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 110 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Về đặc điểm chung 
- Phân bố về giới: Tỷ lệ bệnh nhân theo giới 
có sự khác nhau trong các nghiên cứu. Mc Kenna 
[3] thực hiện PTNS cho 1100 bệnh nhân, tỷ lệ 
nam, nữ lần lượt là 45,9% và 54,1%. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam, nữ lần lượt 
là 80,6% và 19,4%. 
- Phân bố về tuổi: Cắt thùy phổi bằng PTNS 
có thể thực hiện được ở các bệnh nhân lớn tuổi 
(BN lớn tuổi nhất trong nghiên cứu là 72 tuổi) 
nếu chức năng tim, phổi cho phép. Chỉ định này 
phù hợp với quan điểm của các tác giả khác [3-5]. 
4.2. Đặc điểm kỹ thuật 
4.2.1. Chỉ định PTNS cắt thùy phổi 
- Vị trí thùy phổi được cắt: PTNS có thể 
được áp dụng để cắt tất cả các thùy phổi, tuy mức 
độ khó khăn khi thực hiện phẫu thuật là khác 
nhau. Các tác giả như Yim P. C [6], Gossot. D [7] 
đều cho rằng PTNS cắt thùy trên phổi, đặc biệt 
thùy trên phổi trái có độ khó cao nhất. Chúng tôi, 
đã thực hiện cắt các thùy phổi có u ở tất cả các vị 
trí (bảng 3.1) trong giai đoạn đầu ứng dụng kỹ 
thuật PTNS, mặc dù số lượng bệnh nhân còn hạn 
chế nhưng với quá trình chuẩn bị chu đáo trên mô 
hình thực nghiệm, phẫu thuật viên là những người 
đều có bề dày kinh nghiệm trong phẫu thuật phổi 
mở. Do vậy, đảm bảo an toàn, khả thi. 
- Kích thước khối u: trung bình là 3,3 ± 1,4 
cm, u lớn nhất là 7,5cm, phù hợp với chỉ định 
phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi. 
- Bệnh lý phổi: PTNS là cách tiếp cận mới 
trong điều trị phẫu thuật các bệnh lý phổi. Chỉ 
định cắt thùy phổi trong điều trị phụ thuộc vào 
từng bệnh lý cụ thể. Áp dụng PTNS trong cắt 
thùy phổi để điều trị các bệnh lý phổi của chúng 
tôi là tương tự các tác giả khác [1], [4]. 
- Giai đoạn TNM: Theo McKennna R. J. 
và cs (2006), có thể chỉ định PTNS điều trị cho 
những bệnh nhân UTP không TBN giai đoạn đến 
IIIA. Trong số 1015 trường hợp được phẫu 
thuật, giai đoạn I chiếm 87,9%, IIA tỷ lệ 1,3%, 
IIB tỷ lệ 0,9% và IIIA tỷ lệ 2,2% [1]. Tuy vậy, 
nhìn chung các báo cáo cho thấy, PTNS điều trị 
UTP không TBN được chỉ định giới hạn ở 
những bệnh nhân giai đoạn sớm I đến II [2], [1], 
[13]. Chúng tôi, thực hiện cắt thùy phổi ở những 
bệnh nhân UTP không TBN giai đoạn I và II 
chiếm chủ yếu, tỷ lệ 92,2%. 
4.2.2. Về kỹ thuật phẫu thuật 
- Đường vào 
Các nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau 
về số lượng trocar sử dụng trong mổ, có thể từ 1 
đến 4. Chúng tôi luôn đặt 02 trocar ở tất cả các 
trường hợp: 01 trocar cho ống soi, trocar còn lại 
là cửa cho dụng cụ kéo, vén phổi. Quá trình phẫu 
thuật thuận lợi, không cần đặt thêm trocar khác. 
Mở ngực nhỏ luôn được chúng tôi thực hiện 
từ đầu, ngay sau khi đưa ống soi vào KMP quan 
sát đánh giá tổn thương. Khi khối u phổi có kích 
thước lớn (trên 5cm) hay rãnh liên thùy không 
hoàn toàn, thường đường mở ngực dài hơn và 
chúng tôi thực hiện PTNS hỗ trợ. Đường mở 
ngực cũng luôn ở trước đường nách trước vì ở vị 
trí này KLS rộng hơn, dễ dàng hơn khi banh rộng 
vết mổ khi cần thiết (sử dụng dụng cụ mổ mở cán 
dài, lấy thùy phổi đã cắt ) đồng thời vị trí này 
cho phép kiểm soát ĐM phổi tốt hơn, dễ và nhanh 
hơn trong xử trí tai biến chảy máu  
- Phương pháp PTNS lồng ngực: Mặc dù 
còn nhiều vấn đề còn đang được tiếp tục tranh cãi 
về khái niệm PTNS lồng ngực cắt thùy phổi, trên 
thực tế, các nghiên cứu về ứng dụng PTNS cho 
thấy hai phương pháp thể hiện cấp độ khác nhau 
trong khai thác ưu thế của PTNS (phóng đại hình 
ảnh, quan sát được ở những góc khuất mà nếu 
nhìn trực tiếp rất khó khăn ) vẫn đang được 
ứng dụng song hành: PTNS hoàn toàn và hỗ trợ. 
Nhìn chung, PTNS hoàn toàn có độ khó cao hơn, 
đòi hỏi dụng cụ PTNS chuyên dụng, chỉ định hẹp 
hơn  Có thể nói PTNS như là một kỹ thuật 
trung gian của PTNS hoàn toàn và mổ mở. 
Tại Bệnh viện 103, cả hai phương pháp 
PTNS đã và đang được áp dụng. Với tỷ lệ áp 
dụng lần lượt là 64,6% và 35,4%. Phân tích 
chúng tôi thấy, PTNS hỗ trợ thường được áp 
dụng ở những trường hợp có u phổi to từ 5cm trở 
lên, rãnh liên thùy không hoàn toàn (bảng 3.6). 
Như vậy sẽ giúp quá trình bộc lộ, phẫu tích thuận 
lợi hơn, an toàn hơn. 
MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ KỸ THUẬT VÀ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC... 
 111 
- Thứ tự cắt mạch máu cuống thuỳ: Không 
có quy tắc chung về thứ tự cắt các mạch máu 
cuống thùy phổi. Thực tế chúng ta thấy: các mạch 
ở sâu, bị che bới nhánh mạch khác chỉ được phẫu 
tích, cắt khi đã khâu, cắt các nhánh mạch gây cản 
trở. Khi TM và ĐM của thùy phổi xa nhau, thứ tự 
ưu tiên xử lý là ĐM rồi đến TM, vì như vậy sẽ 
không làm tăng áp lực trong động mạch phổi và 
phế quản, giảm nguy cơ chảy máu khi phẫu tích. 
Chúng tôi khi cắt thùy trên thường tiếp cận theo 
hướng từ trước, do vậy thường tiến hành phẫu 
tích và cắt TM phổi trên trước tiên để giúp phẫu 
tích, bộc lộ nhánh ĐM trung thất dễ dàng (14/14 
trường hợp). 
- Vét hạch trong PTNS điều trị UTP không 
TBN 
Kể từ khi bản đồ hạch được giới thiệu bởi 
Naruke vào năm 1978, phẫu thuật lấy hạch trung 
thất và trong rốn phổi và trong phổi có vai trò 
quan trọng trong sự phân chia giai đoạn UTP sau 
phẫu thuật. Vét hạch là một kỹ thuật khó, ngay cả 
khi áp dụng mổ mở. Đã có nhiều tác giả tỏ ra lo 
lắng khi áp dụng PTNS trong điều trị UTP, bởi lo 
ngại sự hạn chế của kỹ thuật này về khả năng vét 
hạch. Tuy vậy, nhiều tác giả mà tiêu biểu là Scott 
W.J. và cs đã minh chứng khả năng vét hạch bằng 
PTNS tương đương mổ mở. Như vậy, vấn đề nằm 
ở kỹ năng phẫu thuật. Chúng tôi cho rằng vét 
hạch trong PTNS là khả thi vì : 
+ Đa phần bệnh nhân ở giai đoạn sớm, hạch 
nhỏ, chưa xâm lấn nên việc phẫu tích, vét hạch 
thuận lợi 
- Kết quả bước đầu của chúng tôi đã cho 
thấy PTNS có thể vét hạch tương đối hiệu quả với 
21 trường hợp được vét hạch N1 (58,3%) và 25 
trường hợp nạo vét hạch N2 (69,4%) trong mổ, số 
hạch trung bình vét được trong một ca mổ là 1,6 
± 1,0 hạch; trong đó có 4 trường hợp (chiếm tỷ lệ 
12,5%) có tế bào ung thư di căn hạch N1, 6 
trường hợp (chiếm tỷ lệ 18,8%) có tế bào ung thư 
di căn hạch N2. 
4.3. Về kết quả sớm 
- Thời gian phẫu thuật: thời gian phẫu thuật 
trung bình của chúng tôi đối với nội soi hỗ trợ và 
nội soi hoàn toàn lần lượt là 154,5 ± 40,7 phút và 
149,0 ± 33,2 phút. Kết quả tương tự các tác giả: 
Swanson S.J (130 phút) [2], Tomaszek S.C (139 
phút) [8], Loscertales J (148 phút) [9]. 
- Tai biến trong mổ: 02 trường hợp trong 
quá trình phẫu thuật có tổn thương mạch máu 
thùy phổi (01 trường hợp tổn thương động mạch 
và 01 trường hợp tổn thương tĩnh mạch), đã được 
chuyển mổ nội soi hỗ trợ để an toàn cho bệnh 
nhân (6,4%). Tỉ lệ này thấp hơn so với Amer K 
(14,7%) [10], nhưng cao hơn so với Mc Kenna 
R.J (2,5%) [4] và Van Schil P. E (1,6%) [11]. 
- Biến chứng sau mổ: Tỷ lệ biến chứng sau 
phẫu thuật trong nghiên cứu chúng tôi là 6,4% 
(02 trường hợp rò khí kéo dài). Kết quả này 
tương đương khi so sánh với các tác giả như: 
Loscetales J (12,8%) [9], Solaini L (11,6%) [12]. 
Không có trường hợp nào tử vong trong mổ 
và trong thời kỳ hậu phẫu. Sandra. C Tomaszek 
[8] phẫu thuật 56 bệnh nhân không có trường hợp 
nào tử vong trong mổ. Yamamoto. K [13] phẫu 
thuật cho 502 bệnh nhân ghi nhận tử vong sau mổ 
là 0,3%. Mc Kenna [3] không có tử vong trong 
mổ, tỷ lệ tràn khí màng phổi là 5%. Số lượng 
phẫu thuật của chúng tôi còn nhỏ nhưng kết quả 
là đáng khích lệ. 
 - Thời gian dẫn lưu KMP: thời gian dẫn 
lưu khoang màng phổi trung bình của các bệnh 
nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là 6,1 ± 0,7 
ngày; ngắn nhất là 3 ngày, dài nhất là 10 ngày do 
có biến chứng rò khí kéo dài sau mổ. Theo 
Tomaszek [8], ống dẫn lưu được rút sau trung 
bình 2 ngày (1 - 12 ngày). 
- Thời gian nằm viện sau mổ: của chúng tôi 
trung bình là 9,8 ± 3,3 ngày. So với một số tác giả 
thì thời gian hậu phẫu của chúng tôi dài hơn như 
Yamamoto K (6,5 ngày) [14], Swanson S.J (6,15 
ngày) [2]. 
V. Kết luận 
Bệnh viện Quân y 103 bước đầu đã áp dụng 
PTNS cắt thùy phổi điều trị các bệnh lý phổi hiệu 
quả, tỷ lệ áp dụng PTNS hoàn toàn cao (64,6%), 
kết quả khả quan với tai biến và biến chứng thấp 
(6,4%), không có tử vong trong mổ và trong thời 
gian hậu phẫu. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 112 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. P. Modi, et al. (2009), "Minimally 
invasive video-assisted mitral valve surgery: a 
12-year, 2-center experience in 1178 patients", J 
Thorac Cardiovasc Surg. 137(6), pp. 1481-7. 
2. S. J. Swanson, et al. (2007), "Video-
assisted thoracic surgery lobectomy: report of 
CALGB 39802--a prospective, multi-institution 
feasibility study", J Clin Oncol. 25(31), pp. 
4993-7. 
3. R. J. McKenna, Jr., W. Houck, and 
C. B. Fuller (2006), "Video-assisted thoracic 
surgery lobectomy: experience with 1,100 cases", 
Ann Thorac Surg. 81(2), pp. 421-5; discussion 
425-6. 
4. P. E. Van Schil, et al. (2013), 
"Surgical treatment of early-stage non-small-cell 
lung cancer", EJC Suppl. 11(2), pp. 110-22. 
5. D. Dziedzic and T. Orlowski (2015), 
"The Role of VATS in Lung Cancer Surgery: 
Current Status and Prospects for Development", 
Minim Invasive Surg. 2015, p. 938430. 
6. Yim A. P. C., et al. (2000), Minimal 
Access Cardiothoracic Surgery, W. B. Saunders 
company, USA. 
7. Gossot D. (2010), Atlas of Endoscopic 
Major Pulmonary Resections, Springer, Paris - 
France. 
8. S. C. Tomaszek, et al. (2009), 
"Clinical Outcomes of Video-Assisted 
Thoracoscopic Lobectomy", Mayo Clin Proc. 
84(6), pp. 509-13. 
9. J. Loscertales, et al. (2010), "Video-
assisted thoracic surgery lobectomy: results in 
lung cancer", J Thorac Dis. 2(1), pp. 29-35. 
10. Amer K, Khan A, and Vohra H 
(2011), "Video-assisted thoracic surgery of major 
pulmonary resections for lung cancer: the 
Southampton experience", Eur J Cardiothorac 
Surg. 39(2), pp. 173-179. 
11. M. W. Onaitis, et al. (2006), 
"Thoracoscopic Lobectomy Is a Safe and Versatile 
Procedure: Experience With 500 Consecutive 
Patients", Ann Surg. 244(3), pp. 420-5. 
12. L. Solaini, et al. (2001), "Video-
assisted thoracic surgery major pulmonary 
resections. Present experience", Eur J 
Cardiothorac Surg. 20(3), pp. 437-42. 
13. K. Yamamoto, et al. (2010), "Long-
term survival after video-assisted thoracic surgery 
lobectomy for primary lung cancer", Ann Thorac 
Surg. 89(2), pp. 353-9. 
14. W. Wang, et al. (2014), 
"Comparative study of systematic thoracoscopic 
lymphadenectomy and conventional thoracotomy 
in resectable non-small cell lung cancer", J 
Thorac Dis. 6(1), pp. 45-51. 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_nhan_xet_ve_ky_thuat_va_ket_qua_buoc_dau_phau_thuat_n.pdf