Một số nhận xét chẩn đoán và điều trị lóc động mạch chủ type A tại Bệnh viện Việt Đức

Mục đích: Nhận xét về chẩn đoán và điều trị lóc động mạch chủ type A tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

Đối tượng và phương pháp: Mô tả 74 trường hợp được chẩn đoán lóc động mạch chủ type A tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 9 năm 2012 tới tháng 9 năm 2014.

Kết quả: Số bệnh nhân được phẫu thuật là 44, có 30 trường hợp không phẫu thuật. Bệnh nhân được chuyển tới bệnh viện Việt Đức muộn (trung bình 3.3 ngày). Nhiều biến chứng, bệnh phức tạp phối hợp và chi phí điều trị cao là những lý do cản trở điều trị phẫu thuật. Có 8 trường hợp mạn tính, 66 trường hợp cấp tính. Tỉ lệ tử vong chung tại bệnh viện là 43.2 % ; 1 tháng của nhóm phẫu thuật là 18.2%; 1 tháng của nhóm không phẫu thuật là 86.7%. Chẩn đoán và điều trị thành công những thể lóc động mạch chủ type A ít gặp và phức tạp như bệnh nhân đã mổ tim hở, có bệnh thận nặng (chạy thận chu kỳ, hội chứng thận hư) và bệnh nhân suy chức năng thất trái nặng.

Kết luận: Bệnh nhân lóc động mạch chủ type A thường được chuyển đến Bệnh viện Việt Đức muộn, tỉ lệ được phẫu thuật còn hạn chế. Điều trị phẫu thuật cấp cứu làm giảm nguy cơ tử vong rõ rệt so với điều trị không phẫu thuật. Đã chẩn đoán và điều trị thành công nhiều thể ít gặp và nặng của lóc động mạch chủ type A

pdf 5 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Một số nhận xét chẩn đoán và điều trị lóc động mạch chủ type A tại Bệnh viện Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số nhận xét chẩn đoán và điều trị lóc động mạch chủ type A tại Bệnh viện Việt Đức

Một số nhận xét chẩn đoán và điều trị lóc động mạch chủ type A tại Bệnh viện Việt Đức
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 12/2016 
 14 
MỘT SỐ NHẬN XÉT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ 
LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ TYPE A TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC 
Vũ Ngọc Tú*, Nguyễn Hữu Ước* 
TÓM TẮT: 
Mục đích: Nhận xét về chẩn đoán và điều trị lóc 
động mạch chủ type A tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. 
Đối tượng và phương pháp: Mô tả 74 trường hợp 
được chẩn đoán lóc động mạch chủ type A tại Bệnh viện 
Việt Đức từ tháng 9 năm 2012 tới tháng 9 năm 2014. 
Kết quả: Số bệnh nhân được phẫu thuật là 44, có 
30 trường hợp không phẫu thuật. Bệnh nhân được 
chuyển tới bệnh viện Việt Đức muộn (trung bình 3.3 
ngày). Nhiều biến chứng, bệnh phức tạp phối hợp và 
chi phí điều trị cao là những lý do cản trở điều trị phẫu 
thuật. Có 8 trường hợp mạn tính, 66 trường hợp cấp 
tính. Tỉ lệ tử vong chung tại bệnh viện là 43.2 % ; 1 
tháng của nhóm phẫu thuật là 18.2%; 1 tháng của 
nhóm không phẫu thuật là 86.7%. Chẩn đoán và điều 
trị thành công những thể lóc động mạch chủ type A ít 
gặp và phức tạp như bệnh nhân đã mổ tim hở, có bệnh 
thận nặng (chạy thận chu kỳ, hội chứng thận hư) và 
bệnh nhân suy chức năng thất trái nặng. 
Kết luận: Bệnh nhân lóc động mạch chủ type A 
thường được chuyển đến Bệnh viện Việt Đức muộn, tỉ 
lệ được phẫu thuật còn hạn chế. Điều trị phẫu thuật 
cấp cứu làm giảm nguy cơ tử vong rõ rệt so với điều 
trị không phẫu thuật. Đã chẩn đoán và điều trị thành 
công nhiều thể ít gặp và nặng của lóc động mạch chủ 
type A. 
SUMMARY 
DIAGNOSTIC AND TREATMENT OF AORTIC 
DISSECTION IN VIETDUC HOSPITAL 
Background: Diagnostic and early results of 
surgical and non-surgical type A aortic dissection in 
Vietduc hospital. 
Materials and methods: Description of 74 cases 
of type A aortic dissection in Vietduc hospital from 
9/2012 to 9/2014. 
Results: 44 of surgical treatment and 30 of non-
surgical treatment. Patient hospitalized late to Vietduc 
(3.3 days). Reasons of non-surgical treatment: late 
diagnostic, severe complications and expensive cost. 8 
of chronic type A aortic dissections and 66 of acute 
type A aortic dissections. In hospital mortality: 
43.2%; 30 days post-operative mortality: 18.2% and 
30 days non-surgical mortality: 86.7%. Adapting of 
point of view, suture technique, CPB and ECMO 
technique, we have succesful diagnostic and treatment 
of rare and complex type A aortic dissections: 
intramural hematoma, after previous aortic valve 
replacement, penetrating atherosclerotic ulcer and 
severe left ventricle dysfunction. 
Conclusion: Patient hospitalized late to Vietduc 
and limitation of surgical treatment for type A aortic 
dissection. Significant lower mortality of surgical 
treament of type A aortic dissection. Succesful 
diagnostic and treatment of rare and complex type A 
aortic dissections in Vietduc hospital. * 
I- ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phẫu thuật là biện pháp điều trị đem lại hiệu quả 
cho lóc động mạch chủ (LĐMC) type A(theo phân 
loại của Stanford). Nếu được điều trị đúng và phẫu 
thuật kịp thời, tỉ lệ tử vong của bệnh nhân giảm đi rất 
nhiều, có thể chỉ còn dưới 10% [2]. Tại Việt Nam 
phẫu thuật LĐMC type A đã được thực hiện ở một số 
trung tâm phẫu thuật tim mạch từ khoảng hơn mười 
năm nay [3], [4]. Tuy nhiên để điều trị tốt bệnh lý này, 
đòi hỏi phải chẩn đoán đúng và chỉ định phẫu thuật 
ngay từ những giờ đầu tiên. Hơn nữa chi phí điều trị 
rất tốn kém nên nhiều khi không thể triển khai phẫu 
thuật, dẫn tới tỉ lệ tử vong và biến chứng còn cao. 
Mục tiêu của nghiên cứu là đưa ra những nhận xét về 
chẩn đoán và điều trị bệnh lý phức tạp này tại Bệnh 
viện Việt Đức. 
* Khoa Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực – Bệnh viện Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
Ngày nhận bài: 10/01/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 24/02/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Bùi Đức Phú 
MỘT SỐ NHẬN XÉT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ TYPE A  
 15 
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Mô tả 74 trường hợp LĐMC type A được điều trị 
phẫu thuật và không phẫu thuật tại Bệnh viện Việt 
Đức từ tháng 9 năm 2012 tới tháng 9 năm 2014. 
Tiêu chuẩn lựa chọn: 
+ Tất cả các bệnh nhân chẩn đoán là LĐMC type A. 
+ Có đầy đủ hồ sơ, bệnh án, xét nghiệm cận lâm 
sàng phục vụ cho nghiên cứu. 
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 
3.1. Dịch tễ học: 
Tỉ lệ nam/ nữ: 2,3 : 1 
Kết quả này phù hợp với đa số các tác giả khác. 
Theo kết quả nghiên cứu đa trung tâm của Hagan PG 
và cs năm 2000, tỉ lệ nam chiếm 65% [5] 
Thời gian chuyển viện trung bình và các nguyên 
nhân gây chậm trễ. 
Bảng 1: nguyên nhân gây chậm trễ và thời gian 
chuyển viện 
Nguyên nhân N 
Không đi khám 16 (21.6%) 
Vị trí địa lý và phương thức vận 
chuyển không thuận lợi 
10 (13.5%) 
Chẩn đoán xác định chậm 34 (46%) 
Nơi chẩn đoán không có khả năng 
phẫu thuật 
14 (18.9%) 
Thời gian trung bình trước khi tới bệnh viện Việt Đức: 
3.3 ± 4.4 (ngày) (ít nhất: 10 giờ - nhiều nhất: 21 ngày) 
LĐMC type A là bệnh lí cấp cứu ngoại khoa tối 
cấp, nhất là type A cấp tính. Nếu không được điều 
trị phẫu thuật, bệnh này có tỉ lệ tử vong tới 50% 
trong 48 giờ đầu, tăng thêm 1% mỗi giờ, và tử vong 
tới 92% sau 1 năm [10]. Toàn bộ số bệnh nhân 
trong nghiên cứu đều được chuyển từ nơi khác tới 
Bệnh viện Việt Đức để chẩn đoán và/ hoặc phẫu 
thuật. Tuy nhiên thời gian trung bình bệnh nhân tới 
Bệnh viện Việt Đức là khoảng 3.3 ngày, lâu nhất là 
21 ngày là tương đối chậm. Nguyên nhân chủ yếu là 
do bệnh nhân có tâm lí chủ quan, không đi khám 
bệnh, bệnh nhân ở các vùng địa lí xa xôi, không có 
khả năng chuyên sâu để chẩn đoán, nhưng cũng 
không thuận lợi cho công tác vận chuyển bệnh 
nhân. Tuy nhiên nguyên nhân chính dẫn tới việc 
chậm trễ lại do công tác chẩn đoán bệnh ở những cơ 
sở y tế đủ khả năng chuyên môn (bệnh viện tuyến 
tỉnh, khu vực trở lên) lại không chẩn đoán được 
bệnh (chiếm 46%). 
3.2. Tuổi trung bình và tỉ lệ bệnh nhân Marfan. 
Bảng 2: Tuổi trung bình và tỉ lệ bệnh nhân Marfan 
Tổng số BN 74 
Số BN Marfan 15 (20.2) 
Tuổi TB chung 49.8± 9.5 
Tuổi cao nhất/ thấp nhất 78 / 20 
Tuổi TB Marfan 36.1 ± 14.3 
Tuổi trung bình của nghiên cứu là 49.8 tuổi. So 
với các nghiên cứu khác của các nước phát triển, độ 
tuổi này trẻ hơn. Ví dụ theo Hagan độ tuổi trung bình 
là 62, còn theo Inamura tuổi trung bình là 60. Tuy 
nhiên nếu so với các nước đang phát triển thì độ tuổi 
như vậy cũng có sự tương đồng. Ví dụ theo tác giả 
LiZhong Sun thì độ tuổi trung bình là 45 [5]. Có thể 
do nền kinh tế phát triển, chăm sóc y tế cũng hiện đại 
hơn nên có thể tiến hành phẫu thuật LĐMC type A, là 
một phẫu thuật rất nặng cho những bệnh nhân lớn 
tuổi. Ngược lại ở các nước đang phát triển, như ở Việt 
Nam, phẫu thuật này ngoài sự rủi ro lớn, còn kèm theo 
chi phí kinh tế lớn cho người bệnh. Vì vậy số lượng 
bệnh nhân được phẫu thuật LĐMC type A ở người lớn 
tuổi còn nhiều hạn chế. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có tới 15 bệnh 
nhân (chiếm 20.2%) bệnh nhân có kiểu hình của hội 
chứng Marfan. So với các nghiên cứu khác, đây là 
một tỉ lệ khá cao (của Hagan chỉ là 6.7%). Đối với các 
bệnh nhân Marfan, tuổi bị LĐMC cũng trẻ hơn nhiều 
so với tuổi trung bình chung, và như vậy cũng sẽ là 
một nguyên nhân làm cho tuổi trung bình của nghiên 
cứu thấp đi nhiều. 
3.3. Triệu chứng lâm sàng: 
Bảng 3: Triệu chứng lâm sàng trước khi điều trị 
phẫu thuật 
Triệu chứng N % 
THA 63 85.4 
Chênh lệch HA các chi 26 35.4 
Tiếng thổi tâm thu 21 28.2 
Chèn ép tim 12 15.8 
Thiếu máu tạng – viêm phúc mạc 9 12.1 
Sốc mất máu nặng 16 21.6 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 16 
Trong số các triệu chứng lâm sàng, triệu chứng 
đau ngực và và tăng huyết áp có tỉ lệ cao nhất. Mặc dù 
không phải là triệu chứng đặc hiệu, nhưng theo nhiều 
tác giả, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ lớn nhất gây 
LĐMC [6]. Huyết áp tăng càng cao thì tỉ lệ LĐMC 
càng cao, đặc biệt là với tăng huyết áp ác tính. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi, ngoại trừ các bệnh nhân 
Marfan, các bệnh nhân khác đều có tăng huyết áp, và 
phần lớn những bệnh nhân này không được điều trị 
khống chế tốt huyết áp thường xuyên. 
Cũng đáng lưu ý là trong số này, có 12 bệnh nhân 
khi vào viện đã có triệu chứng chèn ép tim. Tuy nhiên, 
các trường hợp này áp lực tĩnh mạch trung ương 
không quá cao, bởi vì chủ yếu là do máu thấm qua 
thành ĐMC vào khoang màng tim chứ không phải là 
do vỡ ĐMC. Các biến chứng nặng khác của LĐMC là 
sốc mất máu nặng do vỡ ĐMC và thiếu máu tạng ổ 
bụng muộn – viêm phúc mạc gây suy đa tạng, nhóm 
này có 9 bệnh nhân, đều không điều trị phẫu thuật. Lý 
do chính là nguy cơ điều trị phẫu thuật và chi phí là 
rất lớn nên dù chúng tôi có đưa ra chỉ định nhưng gia 
đình và bệnh nhân cũng từ chối phẫu thuật. 
3.4. Triệu chứng cận lâm sàng 
Bảng 4: Các triệu chứng cận lâm sàng trước 
phẫu thuật 
Chỉ số N % 
ĐMC lên + quai 4 5.4 
ĐMC ngực + bụng 68 91.8 
Các mạch cảnh 43 58.1 
Vị trí 
lóc 
Các mạch tạng 12 16.2 
Loét thủng do xơ vữa 1 - 
Máu tụ trong thành 5 - 
Các thể 
đặc biệt 
Đã mổ tim hở 2 - 
Về vị trí LĐMC, chỉ có 2 trường hợp lóc đơn 
thuần tại ĐMC lên, còn lại đại đa số lóc ở toàn bộ 
ĐMC. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của 
Robert WC [6]. Tỉ lệ các động mạch cảnh bị lóc cũng 
khá cao (33.3%). 
Biện pháp chính để chúng tôi chẩn đoán xác định 
LĐMC là chụp cắt lớp vi tính đa dãy có tiêm thuốc 
cản quang và dựng hình. Phương pháp này có độ nhậy 
đạt 83-94%, độ đặc hiệu là 87-100% đối với chẩn 
đoán LĐMC. Vì vậy, để chẩn đoán xác định được 
LĐMC type A với vách nội mạc phân chia lòng thật, 
lòng giả như kinh điển là không quá khó. Tuy nhiên 
để có thể đưa ra chỉ định sớm nhất và hiệu quả phẫu 
thuật cao nhất, chúng tôi cố gắng chẩn đoán các thể 
bệnh ít gặp và là những giai đoạn sớm của LĐMC, 
chưa hình thành lòng giả, lòng thật rõ ràng. Đó là các 
thể: loét thủng do xơ vữa, máu tụ trong thành. 
3.5. Kĩ thuật vận hành máy tim phổi nhân tạo 
và các phương pháp bảo vệ não 
Bảng 5: Vận hành máy tim phổi nhân tạo trong 
phẫu thuật LĐMC type A 
Chỉ số N % 
Máu ấm 7 15.9 Dung dịch 
bảo vệ tim Custodiol lạnh 37 84.1 
ĐM nách 34 77.4 
ĐM đùi 4 9 
Vị trí canuyn 
ĐM 
ĐM nách + đùi 6 13.6 
Chọn lọc (riêng 
các mạch cảnh) 
11 25 Tưới máu 
não 
Không chọn lọc 33 75 
Đối với những bệnh nhân LĐMC type A, thường 
không thể đặt trực tiếp canul vào ĐMC lên. Vì vậy, 
hai vị trí thường được sử dụng thay thế là động mạch 
đùi và động mạch nách. Tại vị trí động mạch đùi, 
chúng ta có thể đặt trực tiếp canul một cách nhanh 
chóng và dễ dàng. Tuy nhiên, đã có những nghiên cứu 
tổng kết cho rằng đặt canul động mạch tại vị trí này có 
một số nguy cơ: 1) làm cho tình trạng tổn thương mạch 
nặng hơn, vì đại đa số các trường hợp LĐMC type A 
đều kèm theo lóc tới hệ thống động mạch chậu. 2) có thể 
gây hậu quả thiếu máu tạng do tưới máu ngược vào lòng 
giả [7]. Vì vậy, xu hướng hiện nay là sử dụng canul động 
mạch nách để đảm bảo tưới máu xuôi dòng sinh lý, qua 
đó hạn chế tối thiểu nguy cơ thiếu máu tạng [8]. Chúng 
tôi sử dụng phương pháp đặt canul động mạch nách qua 
một cầu nối tận bên bằng mạch nhân tạo Dacron 8mm, 
ngoài đảm bảo tưới máu cơ thể xuôi dòng, còn có tác 
dụng giảm thiểu tưới máu chi trong quá trình phẫu thuật 
kéo dài. 
Khi không phải can thiệp vào các nhánh của quai 
ĐMC, chúng tôi không sử dụng tưới máu riêng các 
MỘT SỐ NHẬN XÉT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ TYPE A  
 17 
mạch cảnh. Trong trường hợp bắt buộc phải can thiệp 
vào quai (thay toàn bộ quai hay bán quai), cần phải 
tưới máu riêng rẽ qua động mạch nách phải (hoặc 
động mạch cảnh phải) và động mạch cảnh trái, có 
đường theo dõi áp lực riêng kèm theo. Can thiệp trên 
các nhánh của quai ĐMC có nguy cơ tử vong và biến 
chứng cao hơn, nên thay vì quan điểm lấy bỏ triệt để 
ĐMC bị lóc, quan điểm hiện nay của chúng tôi là thay 
ĐMC chủ lên cho mọi trường hợp không có lỗ rách 
nội mạc lớn liên quan tới các nhánh này. 
Với đại đa số các trường hợp không phải thay 
quai ĐMC, bệnh nhân được hạ nhiệt độ vừa (28 – 
32ºC). Trong trường hợp phải thay toàn bộ quai, thân 
nhiệt được hạ sâu hơn (25 ºC), kết hợp với tưới máu 
nửa dưới cơ thể bằng canul động mạch đùi và đặt 
sonde Foley ĐMC xuống. Chỉ trong những trường 
hợp không thể bảo đảm phẫu trường rộng rãi, rõ ràng 
thì mới phải dung tới phương pháp hạ thân nhiệt sâu 
(tới 18 - 20ºC) kèm ngừng tuần hoàn. Việc chỉ hạ nhẹ 
- vừa thân nhiệt sẽ giúp thời gian phẫu thuật nhanh 
hơn, nhưng quan trọng hơn là giúp bệnh nhân tránh 
được các rối loạn toàn thân nặng nề sau mổ. 
3.6. Tỉ lệ tử vong sau điều trị phẫu thuật và 
điều trị không phẫu thuật 
43.2
18.2 
86.7
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
A B C
Hình 2: Các tỉ lệ tử vong sau điều trị lóc ĐMC type A 
A: tử vong chung tại viện; B: 1 tháng – nhóm mổ ; 
C: 1 tháng - nhóm không mổ 
Tỉ lệ tử vong sau phẫu thuật 1 tháng là 18.2 %, 
nằm trong phạm vi tỉ lệ tử vong 15 – 25% theo nhiều 
tác giả khác thế giới [3], [5]. Hiện nay đã có những 
trung tâm hạ tỉ lệ tử vong của phẫu thuật LĐMC type 
A còn dưới 10%. Tỉ lệ tử vong nếu không được phẫu 
thuật là 86.7 %, cao hơn nhiều tỉ lệ tử vong sau phẫu 
thuật. Tỉ lệ tử vong 24 giờ đầu của LĐMC cách đây 
50 năm được thông báo là 21%. Trong 30 ngày, chỉ 
8% trong số còn lại sống sót. Và con số này chỉ là 2% 
sau 1 năm. 10 năm sau, tỉ lệ tử vong 48h đầu vẫn còn 
là 50% hoặc 1% mỗi giờ. Có tới 20% chết trước khi 
tới bệnh viện. thậm chí trong nghiên cứu gần đây, có 
tới 68% bệnh nhân tử vong 48h đầu, hay 1.4% mỗi 
giờ trong một nghiên cứu kéo dài 27 năm. Nguyên 
nhân tử vong chính là vỡ ĐMC trong khoảng 80% 
trường hợp [10]. 
Trong số những bệnh nhân không được phẫu 
thuật, đa phần là các trường hợp đến muộn có các biến 
chứng nặng (vỡ ĐMC, hội chứng thiếu máu tạng nặng 
), trên những bệnh nhân cao tuổi có nhiều bệnh 
khác phối hợp. Khi chỉ định phẫu thuật cho những 
bệnh nhân, thường gia đình bệnh nhân sẽ từ chối phẫu 
thuật. Thêm một lí do nữa để bệnh nhân và gia đình 
bệnh nhân không đồng ý phẫu thuật là chi phí cho 
phẫu thuật này vẫn còn rất cao so với thu nhập của đại 
bộ phận người dân Việt Nam.Trong nghiên cứu này 
có tới 14/38 trường hợp không được phẫu thuật, chỉ 2 
người còn sống sau 1 tháng, 2/3 số này chết vì vỡ, và 
1/3 còn lại do thiếu máu tạng ổ bụng. Do đó, điều rất 
quan trọng đối với bệnh lí này là cần phải chẩn đoán 
được sớm ngay từ những giờ đầu tiên, sau đó càng 
sớm càng tốt, phải chỉ định phẫu thuật thì mới cứu 
sống được bệnh nhân. 
3.7. Kết quả điều trị phẫu thuật 
Bảng 6: Tử vong và mổ lại sau phẫu thuật 
LĐMC type A 
Biến chứng Nguyên nhân N 
Chảy máu 2 
Mổ lại (2 = 4.5%) 
Viêm xương ức 1 
Suy đa tạng 4 
Tử vong (8 = 18.2%) 
Nhiễm trùng 1 
Một trong các biến chứng thường gặp nhất của 
phẫu thuật lóc ĐMC type A là chảy máu sau mổ. 
Nguyên nhân là do phẫu thuật kéo dài, trong tình 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 18 
trạng cấp cứu, thêm vào đó là có thể phải hạ thân nhiệt 
sâu để có thể ngừng tuần hoàn, dẫn tới rối loạn đông 
máu sau mổ. Để giảm thiểu nguy cơ chảy máu, hiện 
nay chúng tôi cải tiến thêm về mặt kĩ thuật khâu các 
miệng nối ĐMC, theo nguyên tắc đưa hoàn toàn mạch 
nhân tạo vào lòng ĐMC thật để giảm lực tác động trực 
tiếp của dòng máu lên miệng nối. Theo nhiều nghiên 
cứu, các biến chứng chủ yếu của phẫu thuật LĐMC 
type A dẫn tới mổ lại là chảy máu, viêm xương ức [9], 
[10]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ có 2 trường 
hợp phải mổ lại vì chảy máu, trong đó 1 trường hợp 
phải dùng chống đông liều cao do phải sử dụng 
ECMO ngay sau mổ. Trường hợp này bị bỏ sót 
thương tổn lóc gây tắc động mạch vành phải nhiều 
ngày từ tuyến trước, vào viện bệnh nhân suy tim nặng, 
EF 37%. Cũng chính bệnh nhân này phải mổ lại viêm 
xương ức 1 lần nữa, là trường hợp viêm xương ức duy 
nhất trong nghiên cứu này. Bệnh nhân xuất viện với 
tình trạng sức khỏe tốt. 
4. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật LĐMC type A đã được triển khai 
như một cấp cứu thường qui ở bệnh viện Việt Đức. 
Tuy nhiên vẫn còn nhiều bệnh nhân LĐMC type A 
chưa được phẫu thuật, chủ yếu do chẩn đoán muộn, 
người bệnh già yếu, có nhiều bệnh kết hợp dẫn tới tỉ lệ 
tử vong chung còn cao. Hiện nay chúng tôi đã áp dụng 
nhiều thay đổi về mặt quan điểm và kĩ thuật để một 
mặt có thể chẩn đoán và điều trị nhiều thể bệnh sớm, 
mặt khác có thể phẫu thuật thành công các thể bệnh 
nặng của LĐMC type A. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Wheat MWJ, Wilson JR, Bartley TD: Successful 
replacement of the entire ascending aorta and 
aortic valve. JAMA 1964; 188:717. 
2. Cachera JP , Vouhe PR , Loisance DY , Menu P , 
Poulain H , Bloch G , Vasile N , Aubry P and 
Galey JJ. Surgical management of acute 
dissections involving the ascending aorta. Early 
and late results in 38 patients 
3. Nguyễn Thái An, Phạm Thọ Tuấn Anh. Đánh giá 
kết quả sớm phẫu thuật phình và bóc tách động 
mạch chủ lên và quai. Tạp chí Y học Việt Nam, 
11/2010, tập 375: trang 77 – 82. 
4. Nguyễn Công Hựu, Đoàn Quốc Hưng, Dương 
Đức Hùng, Nguyễn Hữu Ước, Lê Ngọc Thành và 
CS. Kết quả phẫu thuật bệnh lí động mạch chủ 
ngực tại bệnh viện Việt Đức. Bệnh viện 103 - Học 
viện quân y: Hội nghị quốc tế Việt – Đức – 
Những tiến bộ trong phẫu thuật và can thiệp tim 
mạch, 3/2010: 24-31. 
5. Hagan PG, Nienaber CA, Isselbacher EM, et al. 
The International Registry of Acute Aortic 
Dissection (IRAD): new insights into an old 
disease. JAMA. Feb 16 2000;283(7):897-903. 
6. Roberts WC. Aortic dissection: anatomy, 
consequences, and causes. Am Heart J. 1981 
Feb;101(2):195-214. 
7. Laas J, Heinemann M, Schaefers HJ, Daniel W, 
Borst HG. Management of thoracoabdominal 
malperfusion in aortic dissection. Circulation. 
1991 Nov;84(5 Suppl):III20-4 
8. Van Arsdell GS, David TE, Butany J. Autopsies 
in acute type A aortic dissection. Surgical 
implications. Circulation. 1998 Nov 10;98(19 
Suppl):II299-302; discussion II302-4. 
9. Chiappini B et al. Early and late outcomes of 
acute type A aortic dissection: analysis of risk 
factors in 487 consecutive patients. Eur Heart 
J (January 2005) 26(2): 180-18 
10. Shiono M et al. Surgical results in acute type A 
aortic dissection. Ann Thorac Cardiovasc Surg 
2005; 11: 29–34 

File đính kèm:

  • pdfmot_so_nhan_xet_chan_doan_va_dieu_tri_loc_dong_mach_chu_type.pdf