Một số đặc điểm sản phụ và con nhiễm HIV tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm và kết quả điều trị dự phòng lây

truyên HIV mẹ - con tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ năm 201- 2014.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:198 thai phụ nhiễm HIV và sinh

con tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ 1/2013 – 12/2014. Phương pháp

mô tả hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án.

Kết quả: Tỷ lệ quản lý thai nghén cao 78,8%; Phát hiện HIV trước khi

có thai là 73,2%, chuyển dạ là 9,6%; Tỷ lệ điều trị kháng virus cho mẹ

là 100%, trước 12 tuần tuổi thai là 63,6%. Tỷ lệ điêu trị kháng virus cho

con 100%, không bú mẹ 100%; Tỷ lệ viêm gan B phối hợp 10,1%; Xử trí

sản khoa mổ lấy thai là chủ yếu (76,3%); Tỷ lệ sơ sinh cân nặng <>

8,1%; Tỷ lệ trẻ nhiễm HIV là 1,5%.

Kết luận: Các can thiệp phòng lây truyền HIV mẹ con làm giảm đáng

kể tỷ lệ lây nhiễm HIV cho trẻ

pdf 5 trang phuongnguyen 60
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm sản phụ và con nhiễm HIV tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số đặc điểm sản phụ và con nhiễm HIV tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Một số đặc điểm sản phụ và con nhiễm HIV tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
PHẠM VĂN CHUNG, PHẠM HUY HIỀN HÀO
38
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
Phạm Văn Chung(1), Phạm Huy Hiền Hào(2) 
(1) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SẢN PHỤ VÀ CON NHIỄM HIV
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Huy Hiền Hào, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: kháng virus, mổ đẻ, 
bú sữa mẹ, phòng lây truyền 
mẹ con.
Keywords: antiretroviral, 
cesarean section, 
breastfeeding, prevention of 
mother-to-child transmission.
Tóm tắt
Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm và kết quả điều trị dự phòng lây 
truyên HIV mẹ - con tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ năm 201- 2014. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:198 thai phụ nhiễm HIV và sinh 
con tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ 1/2013 – 12/2014. Phương pháp 
mô tả hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án.
Kết quả: Tỷ lệ quản lý thai nghén cao 78,8%; Phát hiện HIV trước khi 
có thai là 73,2%, chuyển dạ là 9,6%; Tỷ lệ điều trị kháng virus cho mẹ 
là 100%, trước 12 tuần tuổi thai là 63,6%. Tỷ lệ điêu trị kháng virus cho 
con 100%, không bú mẹ 100%; Tỷ lệ viêm gan B phối hợp 10,1%; Xử trí 
sản khoa mổ lấy thai là chủ yếu (76,3%); Tỷ lệ sơ sinh cân nặng <2500g: 
8,1%; Tỷ lệ trẻ nhiễm HIV là 1,5%. 
Kết luận: Các can thiệp phòng lây truyền HIV mẹ con làm giảm đáng 
kể tỷ lệ lây nhiễm HIV cho trẻ
Từ khóa: kháng virus, mổ đẻ, bú sữa mẹ, phòng lây truyền mẹ con.
Abstract 
SOME CHARACTERISTICSOF PREGNANT WOMEN 
INFECTED WITH HIV AND THEIR CHILDREN AT 
NATIONAL HOSPITAL OF OB-GYN IN 2013-2014 
 Objectives: To discribre on some features and results of treatment 
for prevention mother-to-child transmission of HIV from 2013 to 2014. 
Material and method: Sample size: 198 HIV-positive pregnant 
women gaven birth in NH – OBGYN from 1/2013 to 12/2014. Research 
Methodology: A retrospective description based on medical records.
Results: Prenatal care rate was 78.8%; Timing of detection HIV: Pre-
conception was 73.2%, during labor was 9.6%; The rate of antiretroviral 
therapy for mothers is 100%, before 12th week is 63.6%. Rate of antiretroviral 
treatment for infants 100%, without breastfeding 100%; Combined infected 
hepatitis B 10.1%; Cesarean section management 76.3%; Birth weight 
<2500g: 8.1%; The rate of children infected with HIV were 1.5%. 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 38 - 42, 2017
39
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
1. Đặt vấn đề
HIV là đại dịch của nhân loại, hiện chưa có thuốc 
đặc trị và vacxin dự phòng.Hàng năm ở Việt Nam có 
khoảng 5000 – 7000 phụ nữ mang thai nhiễm HIV.
Nếu không được dùng thuốc dự phòng sẽ có khoảng 
1.800 trẻ em sinh ra nhiễm HIV.Tỷ lệ lây truyền mẹ 
con khi không có sự can thiệp dự phòng là 25 – 40%. 
Nếu bà mẹ được phát hiện nhiễm HIV sớm, dùng 
thuốc Antiretroviral (ARV) sớm, xử trí sản khoa hợp 
lý, không cho con bú thì tỷ lệ lây truyền mẹ con < 1%.
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương (BVPSTW) là 
bệnh viện đầu ngành của chuyên ngành Sản Phụ 
khoa của cả nước và là nơi đã triển khai các can 
thiệp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con từ 
nhiều năm nay. Nghiên cứu này được thực hiện ở 
BVPSTW nhằm mục tiêu: “Nhận xét một số đặc 
điểm và kết quả điều trị dự phòng lây truyền HIV 
mẹ - con tại BVPSTWtừ năm 2013 – 2014”.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả thai phụ nhiễm HIV và sinh con tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01 năm 2013 
đến tháng 12 năm 2014.
Tiêu chuẩn lựa chọn 
- Thai phụ nhiễm HIV được khẳng định bằng 
phương cách III,theo quy định của Bộ Y tế
- Tuổi thai từ 23 tuần, không có bất thường
- Trẻ đẻ ra sống
Tiêu chuẩn loại trừ
- Thai chết lưu, chết trong chuyển dạ. 
- Tuổi thai 23 tuần nhưng 
bất thường.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả, hồi cứu.
2.3. Phác đồ điều trị dự phòng
Cho Mẹ: AZT 300 mg/ngày từ 14 tuần tuổi 
thai, hoặc ngay từ lúc phát hiện ra, khi chuyển dạ 
AZT 600 mg + NVP 200 mg + 3 TC 150 mg, sau 
đó 12 tiếng cho đến sau đẻ 7 ngày AZT 300 mg + 
3 TC 150 mg cứ 12 tiếng.
Cho con NVP 6 mg ngay sau sinh và AZT 4mg/
kg x 2 lần/ngày trong 4 tuần [1].
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Trong hai năm 2013-2014 nghiên cứu thu 
nhận được 198 sản phụ nhiễm HIV đến sinh con 
(năm 2013: 107bà mẹ và năm 2014: 91 bà mẹ)
• Độ tuổi của các bà mẹ:Tỷ lệ bà mẹ có độ tuổi < 
20 tuổi: 0,5%; từ 20- 24 tuổi: chiếm 14,1%; từ 25 – 
29 tuổi chiếm 35,9%, từ 30 – 34 tuổi: 35,4%,và từ>35 
tuổi: 14,1%. Độ tuổi trung bình: 29,1 ± 4,5 tuổi.
• Nghề nghiệp: Đa số là lao động tự do (làm 
đầu, buôn bán nhỏ,..) chiếm hơn một nửa (56,1%), 
cán bộ công chức: 36,9%, nông dân: 7,0% .
• Đặc điểm vùng dân cư sinh sống ở bà mẹ tương 
đương nhau (nông thôn: 45,5%, thành thị: 54,5%)
• Tiền sử sản khoa hiện tại: có 1 con: 38,9% 
(77/198); 2 con: 53,5% (106/198);từ 3 con trở 
lên : 7,6% (15/198).
Conclusion: Interventions of Prevention of mother-to-child transmission reduce the considerable 
incidence of childhood transmission.
Keywords: antiretroviral, cesarean section, breastfeeding, prevention of mother-to-child transmission.
PHẠM VĂN CHUNG, PHẠM HUY HIỀN HÀO
40
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
• Tình trạng quản lý thai: có 78,8% được quản 
lý thai nghén tại Bệnh viện (156/198); không được 
quản lý: 21,2% (42/198).
• Thời điểm phát hiện HIV: trước có thai chiếm 
đa số (chiếm 73,5%); trong khi có thai là: 16,9%; 
và khi chuyển dạ: 9,6%.
• Xét nghiệm HBsAg của sản phụ dương tính 
chiếm: 10,1% (20/198).
• Tỷ lệ sử dụng thuốc PLTMC đạt tỷ lệ 100% 
(198/198). 
• Thời điểm sử dụng thuốc dự phòng LTMC: < 
12 tuần tuổi thai chiếm 63,6% (sử dụng phác đồ 
điều trị AIDS với 3 thuốc); > 12 tuần chiếm 25,8%; 
khi chuyển dạ: 10,6%
• Phương pháp đẻ: đẻ thường: 23,2%; mổ lấy 
thai chiếm đa số 76,3%; thủ thuật: chỉ chiếm 0,5%.
Tỷ lệ trẻ có cân nặng dưới 2500 gram là 8,1% 
(16/198).
Tỷ lệ cân nặng trẻ< 2500 gram ở những bà mẹ 
sử dụng ARV trước 12 tuần là 81,2% (13/16), ở bà 
mẹ sử dụng ARV sau 12 tuần là: 6,2% (1/16), khi 
chuyển dạ: 12,6% (2/16).
Sử dụng ARV cho trẻ ngay sau đẻ: Tất cả các 
trẻ ngay sau đẻ đều được sử dụng thuốc ARV, chiếm 
100%. Thuốc được sử dụng là siro Nevirapine (NVP), 
hoặc Zidovudine (AZT) tùy theo thời gian mẹ sử dụng 
thuốc ARV mà quyết định thời gian sử dụng cho trẻ.
Tình hình cho trẻ bú sữa mẹ: số trẻ không bú 
sữa mẹ chiếm 100% (173/173); tình trạng dinh 
dưỡng không xác định: 12,6% (25/198).
Tổng số đối tượng có 198 cặp mẹ con nhưng 
chúng tôi chỉ liên hệ được 173 bà mẹ, có 2 bà mẹ 
tử vong khi được hỏi về tình trạng sức khỏe, còn 22 
trường hợp không liên hệ được với mẹ.
PLTMC
Cân nặng trẻ
Tổng
≥ 2500gr < 2500gr
Trước 12 tuần 113 (62,1%) 13 (81,2%) 126 (63,6%)
Sau 12 tuần 50 (27,5%) 1 (6,2%) 51 (25,8%)
Chuyển dạ 19 (10,4%) 2 (12,6%) 21 (10,6%)
Tổng 182 (100%) 16 (100%) 198 (100%)
Bảng 1. Mối liên quan giữa thời điểm sử dụng thuốc ARV và cân nặng trẻ sơ sinh
Theo dõi ngoại trú Số lượng Tỷ lệ %
Có 169 85,4
Không 6 3,0
Không xác định 23 11,6
Tổng 198 100
Bảng 2. Theo dõi ngoại trú cho trẻ sau đẻ
Mẹ Số lượng Tỷ lệ %
Sống 173 87,4
Chết 2 1,0
Không liên lạc được 23 11,6
Tổng 198 100
Bảng 3. Tình trạng mẹ khi được liên lạc
Xét nghiệm HIV Số lượng Tỷ lệ %
Tỷ lệ xét nghiệm 171 98,3 (171/174)
Không xét nghiệm 3 1,7 (3/174)
Không xác định 24 12,1 
Tổng 198 100
Bảng 4. Tỷ lệ HIV (+) ở trẻ sau 18 tháng
Trong tổng số 173 trẻ liên lạc được, tỷ lệ trẻ 
được làm ít nhất 1 xét nghiệm (hoặc PCR hoặc xét 
nghiệm kháng thể) là 171 trẻ chiếm 98,3%. Ngoài 
ra có 3 trẻ không được làm xét nghiệm và có 24 trẻ 
không liên lạc được. 
Trong số 171 trẻ có xét nghiệm có 136 trẻ có 
kết quả PCR tại Bệnh viện Nhi Trung ương (có kết 
quả xét nghiệm lưu tại Bệnh viện) còn những trưởng 
hợp còn lại là trả lời qua điện thoại nên chưa đảm 
bảo độ tin cậy.
Trong số 136 trẻ có kết quả PCR thì có 2 trẻ cho 
kết quả HIV (+). Như vậy tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ 
sang con là 1,5%. 
4. Bàn luận
Tình trạng quản lý thai đối với thai phụ nhiễm 
HIV tại Bệnh viện Phụ sản TƯ khá tốt sau thời gian 
dài thực hiện chương trình PLTMC đạt 78,8%. Năm 
2005 tác giả Nguyễn Thu Trang cho thấy tỷ lệ này 
chỉ là 34,8% [2]. 
Thời điểm phát hiện HIV thì trước có thai là chủ 
yếu (73,5%) do hiệu quả của chương trình PLTMC 
ngày càng cao, có nhiều sản phụ nhiễm HIV dù đã 
biết mình nhiễm nhưng vẫn mong muốn nhu cầu 
lấy chồng và có con.
Theo Technau (2011) tỷ lệ này trước mang thai 
12%, có thai 53%, sau đẻ 35% [3]. Còn tác giả Vũ 
Thị Nhung (2008) nghiên cứu tại BV Hùng Vương 
cho thấy tỷ lệ tương ứng là 45,43% [4], Nguyễn 
Liên Phương (2008) tỷ lệ phát hiện khi chuyển dạ 
là 39% [5]. 
Điều trị dự phòng ARV đối với mẹ và con đạt 
100% là một nỗ lực cố gắng cao của Bệnh viện 
PSTW khi thực hiện chương trình PLTMC.
Về thời điểm sử dụng thuốc PLTMC: có 63,6% 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 38 - 42, 2017
41
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
thai phụ sử dụng thuốc ARV trước 12 tuần, 10,6% 
thai phụ chỉ được sử dụng thuốc ARV khi đã chuyển 
dạ hoặc khi nhập viện để ngừng thai nghén. 
Tỷ lệ sử dụng thuốc ARV theo tác giả Shan D 
(2014) là 63 - 99% [6], theo Vũ Thị Nhung (2008) 
là 91,5% [4]. Thời điểm bắt đầu dùng thuốc ARV 
theo Nguyễn Liên Phương (2008), theo Lương Tâm 
Phúc (2010) tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội giai 
đoạn 2006-2010 không có trường hợp sử dụng 
ARV trước 14 tuần [4],[5]. 
Nghiên cứu của Lussiana C., Clemente S. V, 
Ghelardi A. et al (2012), có 65,4% phụ nữ mang 
thai nhiễm HIV nhận được điều trị kháng virus 
trong thai kỳ [7]. Lý tưởng là điều trị lúc 20 tuần để 
đến khi 24 tuần nồng độ virus giảm, khi đó trẻ đẻ 
non có thể sống được. 
Tại các nước đang phát triển không có khả 
năng điều trị 2 hoặc 3 thuốc, thường dùng đợt điều 
trị ngắn bằng Nevirapine (NVP) cho cả mẹ lẫn 
con, sẽ giảm nguy cơ nhiễm trong thời kỳ chu sinh 
6%, nhưng trong trường hợp kháng thuốc thì tăng 
nguy cơ nhiễm cho mẹ con.
Điều trị kháng virus trong thời kỳ có thai: 
Efavirenz (EFV) hiện tại không chống chỉ định còn 
Nevirapine (NVP) không nên sử dụng khi nồng 
độ CD4 > 250/mm3, bởi vì thuốc có nguy cơ đặc 
biệt liên quan đến hội chứng Steven – Johnson và 
nhiễm độc gan nặng; thường phối hợp với thuốc 
chống nôn và chống ỉa chảy.
Theo một số nghiên cứu của các tác giả nước 
ngoài, nếu như phụ nữ mang thai nhiễm HIV được sử 
dụng thuốc ARV sớm và được chăm sóc và quản lý 
thai nghén tốt thì sẽ làm giảm tỷ lệ đẻ non cũng như 
tỷ lệ thai chậm phát triển trong tử cung. Hiện tại Việt 
Nam chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này.
Trọng lượng trẻ sinh ra cân nặng < 2500g 
chiếm 8,1%; ở nhóm mẹ được quản lý thai nghén 
trước 12 tuần: 10,3%, sau 12 tuần: 2,0%, khi 
chuyển dạ: 9,5% thấp hơn so với Park (2014) tỷ lệ 
này là 33,3% [8].
Tại thời điểm kết thúc thai nghén, tuổi thai ≥ 38 
tuần chiếm đa số với tỷ lệ 94,4%. Có 5,6% thai non 
tháng 28 – 37 tuần, không có tuổi thai < 28 tuần. 
Như vậy tỷ lệ thai phụ nhiễm HIV đẻ non tháng 
chỉ chiếm 5,6%, tương đối thấp so với kết quả tại 
nghiên cứu của Ngô Thị Thuyên là 15,1% [9]; của 
Nguyễn Liên Phương là 13,1% [5].
Theo các nghiên cứu trên thế giới việc điều trị 
kháng virus càng sớm càng tốt, nếu điều trị dự 
phòng thích hợp sẽ giảm tỷ lệ lây truyền mẹ con 
dưới 1%, nếu không điều trị nguy cơ lây truyền 15-
45%. Sự lây truyền có thể xảy ra trong khi có thai, 
chuyển dạ, đẻ, hoặc cho con bú. Với tỷ lệ 50% sự 
lây truyền được tin rằng xảy ra khi đẻ khi trẻ tiếp 
xúc với máu, dịch cơ quan sinh dục, ống đẻ nhiễm 
bệnh, 25% nhiễm trong tử cung khi mang thai và 
25% trong giai đoạn sau sinh nếu mẹ cho con bú. 
Nguy cơ lây truyền mẹ con liên quan trực tiếp tới 
nồng độ virus trong huyết tương người mẹ: nồng độ 
càng thấp nguy cơ càng giảm. Nếu không điều trị 
bà mẹ có nồng độ virus máu>100,000 copies/ml 
có nguy cơ lây truyền > 50%; nếu nồng độ máu mẹ 
<1000 copies/ml thìnguy cơ lây truyền< 1%. Vì lý 
do đó, điều trị thuốc kháng virus được khuyến cáo 
dùng trong suốt thai kỳ để làm giảm nồng độ virus 
càng thấp càngtốt; khi bắt đầu dùng không cần tính 
đến nồng độ CD4 và virus máu. Nếu nồng độ virus 
>1,000 copies và không điều trị kháng virus trước 
đẻ thì cần truyên zidovudine (AZT) khi đẻ.
Hiện nay phác đồ ARV phối hợp 3 thuốc điều 
trị kháng virus tích cực mức độ cao (Highly Active 
Antiretroviral Therapy -HAART) trong đóhai thuốc 
đầu thuộc nhóm NRTIs như zidovudine-lamivudine 
(ZDV/3TC), thuốc thứ ba protease inhibitor, 
integrase inhibitor, hoặcNRTIs.
Tỷ lệ viêm gan B trong nhóm sản phụ khá 
cao: 10,1% nên đối với những trường hợp này 
thì điều trị tenofovir với hoặc emtricitabine hoặc 
lamivudine [10].
Tỷ lệ mổ đẻ chiếm 76,3% cao hơn so với nghiên 
cứu của Nguyễn Liên Phương năm 2008 cũng tại 
BVPSTW tỷ lệ mổ lấy thai là 54,3% [5]. Nghiên 
cứu của Vũ Thị Nhung năm 2005 – 2008 tại bệnh 
viện Hùng Vương, tỷ lệ mổ lấy thai rất thấp chỉ là 
16,6% [4]. 
Nồng độ virus máu quyết định các thức đẻ an 
toàn cho mẹ và con. Hiện nay các khuyến cáo cập 
nhật trên thế giới cho rằng nên chỉ định mổ đẻ chủ 
động khi thai được 38 tuần trong các ngữ cảnh sau: 
+ Nồng độ virus máu (>1000 copies/mL) hoặc 
không biết nhiễm HIV trước khi đẻ
+ Mẹ không điều trị kháng virus trong khi có thai
+ Mẹ lo lắng vì nguy cơ phơi nhiễm của trẻ đối 
với máu và dịch nhiễm HIV khi đẻ.
PHẠM VĂN CHUNG, PHẠM HUY HIỀN HÀO
42
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Theo các nghiên cứu của Trường Đại học Johson 
Hopkin: ở nhóm bà mẹ được sử dụng ARV đầy đủ 
khi mang thai và sau đẻ không cho con bú, nếu mổ 
lấy thai tỷ lệ LTMC là 2%, đẻ đường âm đạo tỷ lệ 
LTMC là 7,3%. Vì vậy thai phụ sẽ được xét nghiệm 
nồng độ virus ở tuổi thai 34 – 36 tuần, nếu nồng 
độ > 1000 copy/ml, sẽ mổ chủ động ở 38 tuần 
[10]. Nếu trước khi mổ đẻ theo chương trình,bà mẹ 
có vỡ ối hoặc đã chuyển dạ thì mổ đẻ không còn 
ý nghĩa giảm nguy cơ lây truyền.Trong ngữ cảnh 
đó nếu không có yếu tố sản khoa phải mổ đẻ thì 
tiến hành cho đẻ đường âm đạo an toàn hơn cho 
mẹ và con. 
Trong nghiên cứu này: 100% trẻ sơ sinh được 
điều trị kháng vi rút và không bú mẹ.
Tỷ lệ trẻ nhiễm HIV giảm chỉ còn: 1,5%. Việc 
chẩn đoán có nhiễm HIV ở trẻ sơ sinh khó khăn, 
phải có thời gian chờ đợi vì tất cả các bà mẹ HIV (+) 
đều truyền kháng thể chống virus sang cho con qua 
rau thai và kháng thể này có thể tồn tại tới 18 tháng. 
Vì vậy, muốn chẩn đoán sớm phải dựa vào các 
xét nghiệm tìm kháng nguyên HIV ngay sau đẻ, lúc 
1 tháng, 3 tháng, 6 tháng sau đẻ.Nuôi cấy virus, 
PCR và tìm kháng nguyên P24 có thể xác định trẻ 
nhiễm HIV: ngay sau khi sinh: 50%, sau 1 tháng: 
75%, sau 6 tháng: 100%.
Hiện nay việc xét nghiệm trước 6 tuần tuổi tìm 
DNA và RNA của virus có thể phát hiện virus HIV 
ở trẻ sơ sinh [10].
Trong nghiên cứu này tỷ lệ lây nhiễm của trẻ chỉ 
là 1,5%, đánh giá sự thành công của việc áp dụng 
các can thiệp PLTMC trong nhiều năm qua tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương (so sánh với nghiên cứu 
của Ngô Thị Thuyên là 18% giai đoạn 2009-2005; 
Đỗ Quan Hà, P.T.Nga năm 2013 là 1,9%) [9],[11].
5. Kết luận
• Tỷ lệ quản lý thai nghén cao 78,8%
• Phát hiện HIV trước khi có thai là 73,2%, khi 
chuyển dạ là 9,6%
• Tỷ lệ điều trị kháng virus cho mẹ là 100%, tỷ 
lệ mẹ được điều trị ARV trước 12 tuần là 63,6%.
• Tỷ lệ điêu trị kháng virus cho con 100%, tỷ lệ 
con không bú mẹ 100%
• Tỷ lệ viêm gan B phối hợp 10,1%
• Xử trí sản khoa mổ lấy thai là chủ yếu (76,3%)
• Tỷ lệ sơ sinh cân nặng < 2500g: 8,1%
• Tỷ lệ trẻ nhiễm HIV là 1,5%
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Y tế. Báo cáo công tác phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu 
năm 2015 và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2015. 2015.
2. Nguyễn Thị Thu Trang.Một số đánh giá tình hình HIV/AIDS ở phụ nữ 
có thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2004 – 2005. Luận văn 
tốt nghiệp bác sỹ y khoa.
3. Technau K. G, Kalk E., Coovadia A. et al. Timing of maternal HIV 
testing and uptake of prevention of mother to child transmission 
interventions among women and their infected infants in Johannesburg, 
South Africa. 2014; 65(5), e170-e178.
4. Vũ Thị Nhung. Tình hình phụ nữ mang thai nhiễm HIV tại Bệnh viện 
Hùng Vương. Tạp chí y học thực hành số 382. 2010.
5. Nguyễn Liên Phương. Nhận xét về thái độ xử trí trong chuyển dạ 
của sản phụ có HIV/AIDS năm 2008 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương.Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp II. 2008.
6. Shan D., Sun J., Khoshnood K. et al. The impact of comprehensive 
prevention of mother to child HIV transmission in Dehong prefecture, 
Yunnan province, 2005-2010: a hard hit area by HIV in Southern China. 
Int J STD AIDS. 2014; 25(4), 253-260.
7. Lussiana C., Clemente S. V, Ghelardi A. et al. Effectiveness of a 
prevention of mother to child HIV transmission programme in an urban 
hospital in Angola. PLoS One. 2012; 7(4), 36381.
8. Park J. W, Yang T. W, Kim, Y. K et al. Ten years of experience in the 
prevention of mother to child human immunodeficiency virus transmission 
in a university teaching hospital. Korean J Pediatr. 2014; 57(3), 117-124.
9. Ngô Thị Thuyên.Đánh giá tình hình HIV/AIDS ở phụ nữ có thai 
tại BVPSTW 2000 – 2004. Luận văn thạc sỹ chuyên ngành sản phụ 
khoa. 2004.
10. Cartherine Eppes and Jean Anderson. HIV in pregnancy. The Johns 
Hopkins Manual of Gynecology and Obstetrics. 2011; Page 265 – 280.
11. Đỗ Quan Hà, Phan Thị Thu Nga, Dương Lan Dung. Bước đầu 
đánh giá hiệu quả phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại Bệnh viện 
Phụ Sản Trung ương từ tháng 10/2010 đến tháng 6/2011. Tạp chí Y 
học Việt Nam. 2013. Tập 411, tháng 10, Số 2/2013. trang 25-31.

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_san_phu_va_con_nhiem_hiv_tai_benh_vien_phu_s.pdf