Một số đặc điểm rối loạn nhiễm sắc thể ở phôi ngày năm thụ tinh trong ống nghiệm
Sàng lọc di truyền trước chuyển phôi (Preimplantation Genetics
Screening – PGS) là phương pháp sử dụng các kỹ thuật sàng lọc phân
tích bản chất di truyền bên trong của phôi để chọn được những phôi
bình thường về di truyền giúp tăng tỉ lệ chuyển phôi thành công trong
thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization - IVF).
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng bất thường NST của phôi ngày năm
bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS).
Phương pháp: Phân tích bộ NST của 50 mẫu tế bào được sinh thiết từ
các phôi hiến tặng ngày 5 bằng bộ Veriseq (Illumina) trên hệ thống giải
trình tự Miseq và phần mềm Multi Bluefuse 4.4.
Kết quả: Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ phôi có bộ NST bình thường
là 24%, tỷ lệ phôi có bộ NST bất thường là 76% trong đó 30% bất
thường số lượng NST và 24% số phôi có bất thường về cấu trúc, 22%
số phôi có cả 2 loại rối loạn cấu trúc và sô lượng NST.
Kết luận: Bất thường NST chiếm tỷ lệ cao ở phôi ngày 5. Vì vậy, sàng
lọc di truyền trước chuyển phôi nhằm tăng tỷ lệ thành công của thụ tinh
trong ống nghiệm là rất cần thiết.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Một số đặc điểm rối loạn nhiễm sắc thể ở phôi ngày năm thụ tinh trong ống nghiệm
NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN, HOÀNG VĂN LƯƠNG, NGUYỄN VIẾT TIẾN, ĐẶNG TIẾN TRƯỜNG, NGUYỄN DUY BẮC 138 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H V À H Ỗ T R Ợ S IN H S Ả N Nguyễn Thị Bích Vân(2), Hoàng Văn Lương(1), Nguyễn Viết Tiến(2), Đặng Tiến Trường(1), Nguyễn Duy Bắc(1) (1) Học viện Quân y, (2) Đại học Y Hà Nội MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN NHIỄM SẮC THỂ Ở PHÔI NGÀY NĂM THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Thị Bích Vân, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 02/04/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 02/04/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 27/04/2018 Từ khóa: Bất thường NST, NGS. Keywords: Chromosome abnormality, NGS. Tóm tắt Sàng lọc di truyền trước chuyển phôi (Preimplantation Genetics Screening – PGS) là phương pháp sử dụng các kỹ thuật sàng lọc phân tích bản chất di truyền bên trong của phôi để chọn được những phôi bình thường về di truyền giúp tăng tỉ lệ chuyển phôi thành công trong thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization - IVF). Mục tiêu: Đánh giá tình trạng bất thường NST của phôi ngày năm bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS). Phương pháp: Phân tích bộ NST của 50 mẫu tế bào được sinh thiết từ các phôi hiến tặng ngày 5 bằng bộ Veriseq (Illumina) trên hệ thống giải trình tự Miseq và phần mềm Multi Bluefuse 4.4. Kết quả: Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ phôi có bộ NST bình thường là 24%, tỷ lệ phôi có bộ NST bất thường là 76% trong đó 30% bất thường số lượng NST và 24% số phôi có bất thường về cấu trúc, 22% số phôi có cả 2 loại rối loạn cấu trúc và sô lượng NST. Kết luận: Bất thường NST chiếm tỷ lệ cao ở phôi ngày 5. Vì vậy, sàng lọc di truyền trước chuyển phôi nhằm tăng tỷ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm là rất cần thiết. Từ khóa: Bất thường NST, NGS. Abstract CHARACTERISTICS OF CHROMOSOME ABNORMALITIES OF DAY 5 EMBRYOS BY IVF Preimplantation Genetics Screening (PGS) is the method that uses screening techniques to analyze the genetics nature of embryos in order to select embryos of genetic normality so as to increase the successful ratio of the In Vitro Fertilization-IVF technique. Objectives: Evaluation of chromosome abnormalities of day 5 embryos using Next Generation Sequencing (NGS). Methods: Analysis of 50 samples of biopsies from donated embryo blastocysts of day 5 by using the Veriseq test kit (Illumina) on Miseq TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 138 - 141, 2018 139 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 sequencing system and Multi Bluefuse 4.4 software. Result: The results showed that the ratio of samples with normal chromosomes was 24% and 76% with abnormalities in which 30% with numeral abnormalities and 24% with structural abnormalities and 22% of the samples had both types of abnormalities. Conclusion: The ratio of chromosome abnormalities in day 5 embryos is high. Thus, preimplantation genetics screening (PGS) is essential for improving IVF success rate. Keyword: Chromosome abnormality, NGS. 1. Đặt vấn đề Sàng lọc di truyền trước chuyển phôi (Preimplantation Genetics Screening – PGS) là phương pháp sử dụng các kỹ thuật sàng lọc phân tích bản chất di truyền bên trong của phôi để chọn được những phôi bình thường về di truyền giúp tăng tỉ lệ chuyển phôi thành công trong thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization - IVF) [1, 2]. Tỷ lệ chuyển phôi thành công thấp chủ yếu do nguyên nhân bất thường nhiễm sắc thể (NST) [3]. Một số phương pháp sàng lọc phôi vẫn được xử dụng hiện nay như phương pháp đánh giá chất lượng phôi dựa trên tiêu chuẩn hình thái cho kết quả không tương xứng với tình trạng bất thường NST của phôi [4], phương pháp lai huỳnh quang tại chỗ (Fluorescence In Situ Hybridization – FISH) áp dụng trong sàng lọc di truyền trước chuyển phôi, chỉ có thể sàng lọc tối đa 14 cặp NST và cũng được đánh giá không có hiệu quả cải thiện tỉ lệ thành công của IVF. Nhiều thử nghiệm lâm sàng có đối chứng ngẫu nhiên khẳng định sàng lọc bằng kỹ thuật FISH không làm tăng tỷ lệ có thai, tỷ lệ sinh con sống. Nguyên nhân có thể do số lượng nhiễm sắc thể được sàng lọc ít và độ chính xác còn hạn chế [5]. Nhiều nghiên cứu cho thấy sàng lọc 23 cặp NST trước chuyển phôi giúp cải thiện tỷ lệ thành công của IVF. Có nhiều kỹ thuật được áp dụng cho sàng lọc 23 cặp NST trước chuyển phôi. Trong đó, lai so sánh bộ gen (Array Comparative Genomic Hybridization - aCGH) và giải trình tự thế hệ mới (Next Generation Sequencing - NGS) đang được áp dụng phổ biến. Tuy nhiên kỹ thuật NGS có ưu điểm như chính xác hơn aCGH, tối ưu hóa được chi phí [6], và có khả năng kết hợp PGS và chẩn đoán trước chuyển phôi. Chính vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kỹ thuật NGS để bước đầu đánh giá đặc điểm bất thường NST ở phôi ngày năm của các cặp vợ chồng thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu 50 tế bào phôi ngày năm được hiến tặng bởi các cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) Tiến hành khuếch đại toàn bộ hệ gen (Whole Genome Amplification – WGA) của 50 tế bào phôi này. Đây là các phôi của 18 cặp vợ chồng có người vợ tuổi từ 27 đến 49 tuổi, độ tuổi trung bình là 35,3. 2.2. Phương tiện nghiên cứu Hóa chất: VeriSeq DNA Library Preparation Kit PGS (Illumina), Miseq Reagent Kit Version 3 (Illumina), PicoPLEX WGA Kit (Rubicon), Qubit dsDNA HS Assay Kit (Thermo Fisher Scientific) và một số hóa chất khác. Thiết bị nghiên cứu: Hệ thống giải trình tự Miseq (Illumina), máy PCR ProFlex (Therm Fisher Scientific), Qubit 3.0 Fluorometer và một số thiết bị khác tại Phòng Phân tích ADN, Bộ môn Giải Phẫu, Học viện Quân y. NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN, HOÀNG VĂN LƯƠNG, NGUYỄN VIẾT TIẾN, ĐẶNG TIẾN TRƯỜNG, NGUYỄN DUY BẮC 140 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H V À H Ỗ T R Ợ S IN H S Ả N 2.3. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang. Các bước tiến hành - Bước 1: Sử dụng bộ kit VeriSeq DNA Library Preparation Kit PGS và Miseq Reagent Kit V.3 (Illumina) theo hướng dẫn của nhà sản xuất để thực hiện quy trình tạo thư viện và giải trình tự thế hệ mới - Bước 2: Tiến hành WGA các mẫu tế bào sinh Hình 1. Hình ảnh biểu đồ CNV (Copy Number Variation) của phôi số 19 6 Hình 1. Hình ảnh biểu đồ CNV (Copy Number Variation) của phôi số 19 Hình 2. Hình ảnh biểu đồ CNV của phôi số 50 không có rối loạn NST Hình 3. Hình ảnh biểu đồ CNV của phôi số 21 có một bất thường cấu trúc NST số 3 Hình 2. Hình ảnh biểu đồ CNV của phôi số 50 không có rối loạn NST ì . ì i i ti i ì . ì i i i l ì . ì i i t t t t Hình 3. Hình ả biểu đồ CNV của phôi số 21 có một bất thường cấu trúc NST số 3 6 ình 1. ình ảnh biểu đồ CNV (Copy Nu ber Variation) của phôi số 19 ình 2. ình ảnh biểu đồ CNV của phôi số 50 không có rối loạn NST ình 3. ình ảnh biểu đồ CNV của phôi số 21 có ột bất thường cấu trúc NST số 3 thiết từ phôi hiến tặng ngày 5 bằng PicoPLEX WGA Kit (Rubicon) và kiểm tra chất lượng bằng phương pháp định lượng Qubit. - Bước 3: Tạo thư viện và chuẩn hóa thư viện. - Bước 4: Tiến hành giải trình tự bằng hệ thống Miseq. - Bước 5: Phân tích dữ liệu bằng phần mềm Blue Fuse 4.4. 2.4. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh của Học viện Quân y phê duyệt. 3. Kết quả Trong số 50 tế bào phôi được phân tích thì chỉ có 12 phôi bình thường về số lượng và cấu trúc 23 cặp NST. Có 38 tế bào phôi có bất thường về số lượng, cấu trúc và cả về số lượng cũng như cấu trúc chiếm tỷ lệ 76%. Một số kết quả phân tích 23 cặp NST các phôi ngày 5 được minh họa dưới đây, trong đó rối loạn nhiều NST ở phôi số 19 (hình 1), 23 cặp NST bình thường (hình 2), bất thường cấu trúc ở nhiễm sắc thể số 3 của phôi số 21 (hình 3). Kết quả phân tích về đặc điểm rối loạn nhiễm sắc thể của các phôi được trình bày trong bảng 1. Kết quả trong bảng 1 cho thấy tỷ lệ phôi có bộ NST bình thường là 24%, 24% số phôi có bất thường về cấu trúc và 30% số phôi bất thường số lượng NST, trong đó có 22% số phôi có cả 2 loại rối loạn NST. 4. Bàn luận Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ rối loạn về NST rất cao ở các phôi ngày 5 (76%), trong đó tỉ lệ phôi bị rối loạn về số lượng và cấu trúc NST khá đồng đều (lần lượt là 30% và 24%), tỷ lệ phôi có 2 loại rối loạn là 24%. Trong đó, với các phôi bị rối loạn cấu trúc NST có xu hướng chỉ xảy ra rối loạn trên 1 cặp NST (9/12 phôi tương đương với 75% tổng số phôi bị rối loạn cấu trúc NST), còn các phôi bị rối loạn số lượng NST có xu hướng xảy ra rối loạn từ 2 NST trở lên (11/15 phôi tương đương với 73,3% tổng số phôi bị rối loạn số lượng NST). Trong báo cáo của Samer Alfarawati [4] và Carmen Rubio [7] tỉ lệ số phôi phát hiện có Thời điểm kết thúc thai kỳ Số lượng Tỉ lệ (%) Phôi bình thường 12 24 Phôi rối loạn số lượng NST 15 30 Bất thường 1 NST 4 Bất thường 2 NST 4 Bất thường trên 2 NST 7 Thể không nhiễm 1 Thể đơn nhiễm 11 Thể tam nhiễm trở lên 12 Phôi có rối loạn cấu trúc NST 12 24 Bất thường 1 NST 9 Bất thường 2 NST 2 Bất thường trên 2 NST 1 Mất đoạn 8 Thêm đoạn 6 Phôi có cả rối loạn cấu trúc và số lượng NST 11 22 Bất thường 1 NST 7 Bất thường 2 NST 2 Bất thường trên 2 NST 2 Bảng 1. Đặc điểm rối loạn NST ở phôi ngày 5 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 138 - 141, 2018 141 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 bất thường NST thấp hơn (lần lượt là 56,7% và 42,8%). Tuy nhiên, 2 báo cáo này sử dụng kỹ thuật FISH và aCGH để tiến hành PGS, 2 kỹ thuật này có độ chính xác kém hơn NGS [5, 6]. Mặt khác, nghiên cứu này của chúng tôi mới chỉ là bước đầu khảo sát và thực hiện trên một cỡ mẫu nhỏ (50 phôi) nên kết quả chưa có tính đại diện. Chúng tôi vẫn đang tiếp tục hoàn thiện quy trình và triển khai trong thời gian tới đây với cỡ mẫu lớn hơn và hy vọng sẽ có kết quả chính xác hơn nữa góp phần cho sự thành công trong công tác điều trị hiếm muộn 5. Kết luận Tỉ lệ bất thường NST ở các phôi ngày 5 trong thụ tinh trong ống nghiệm cao vì vậy, tiến hành sàng lọc các rối loạn NST trước chuyến phôi là rất cần thiết để giúp tăng tỷ lệ thành công của phương pháp điều trị hiếm muộn này. Tài liệu tham khảo 1. E. J Forman, et al. In vitro fertilization with single euploid blastocyst transfer: a randomized controlled trial. Fertility and sterility. 2013; 100(1): p. 100-107. e1. 2. J. A Grifo, et al. Single thawed euploid embryo transfer improves IVF pregnancy, miscarriage, and multiple gestation outcomes and has similar implantation rates as egg donation. Journal of assisted reproduction and genetics. 2013; 30(2): p. 259-264. 3. R.T. Scott, et al. Comprehensive chromosome screening is highly predictive of the reproductive potential of human embryos: a prospective, blinded, nonselection study. Fertility and sterility. 2012; 97(4):p.870-875. 4. S. Alfarawati, et al. The relationship between blastocyst morphology, chromosomal abnormality, and embryo gender. Fertility and sterility. 2011; 95(2): p. 520-524. 5. PR Brezinaand, WG Kearns. Preimplantation genetic screening in the age of 23-chromosome evaluation; why FISH is no longer an acceptable technology. J Fertiliz In Vitro. 2011; 1: p. e103. 6. C.D. Russo, et al. Comparative study of aCGH and Next Generation Sequencing (NGS) for chromosomal microdeletion and microduplication screening. Journal of prenatal medicine. 2014; 8(3-4): p. 57. 7. C. Rubio, et al. Impact of chromosomal abnormalities on preimplantation embryo development. Prenatal diagnosis. 2007; 27(8): p. 748-756.
File đính kèm:
mot_so_dac_diem_roi_loan_nhiem_sac_the_o_phoi_ngay_nam_thu_t.pdf

