Mối tương quan giữa nồng độ của các tác nhân oxy hóa trong dịch nang và chất lượng phôi

Đặt vấn đề: Các tác nhân oxy hóa (ROS) có một số vai trò trong quá

trình sinh sản của con người, đặc biệt trong vấn đề hiếm muộn. Hiện đang

có các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nồng độ ROS trong dịch nang

đến chất lượng phôi trong quá trình điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).

Mục tiêu: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để tìm hiểu mối tương quan

giữa ROS trong dịch nang và chất lượng phôi trong thụ tinh ống nghiệm.

Vật liệu và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu được tiến hành tại

IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 08/2014 đến tháng 01/2015. Dịch

nang từ buồng trứng trái và phải của mỗi bệnh nhân được thu nhận

trong quá trình chọc hút trứng. Nồng độ ROS của mỗi buồng trứng

được đo và ghi nhận bằng máy đo phát quang hóa học Glomax 20/20

(Promega, Mỹ) sử dụng đầu dò luminol 5mM. Chất lượng phôi ngày 3

được ghi nhận cho mỗi buồng trứng của từng bệnh nhân.

Kết quả:Tổng cộng 301 mẫu dịch nang từ 151 bệnh nhân được thu

nhận trong đó có 150 mẫu được thu từ buồng trứng trái và 151 mẫu

được thu từ buồng trứng phải. Tiến hành đo nồng độ ROS và ghi nhận

chất lượng phôi sau 3 ngày cho kết quả phân tích: hệ số tương quan

giữa tỉ lệ phôi loại 1 ngày 3 với nồng độ ROS dịch nang ở mỗi bên buồng

trứng phải và trái lần lượt là -0,159 (P=0,051) và -0,011 (P=0,89).

Kết luận: Không tìm thấy mối tương quan giữa nồng độ ROS trong

dịch nang và chất lượng phôi.

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Mối tương quan giữa nồng độ của các tác nhân oxy hóa trong dịch nang và chất lượng phôi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối tương quan giữa nồng độ của các tác nhân oxy hóa trong dịch nang và chất lượng phôi

Mối tương quan giữa nồng độ của các tác nhân oxy hóa trong dịch nang và chất lượng phôi
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 81 - 85, 2016
81
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Lưu Thị Minh Tâm(1), Lê Hoàng Anh(1), Phạm Dương Toàn(1), Huỳnh Gia Bảo(1), Đặng Quang Vinh(2) 
(1) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức, (2) Khoa Y - Đại học quốc gia Tp.HCM
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ CỦA CÁC TÁC NHÂN 
OXY HÓA TRONG DỊCH NANG VÀ CHẤT LƯỢNG PHÔI 
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Các tác nhân oxy hóa (ROS) có một số vai trò trong quá 
trình sinh sản của con người, đặc biệt trong vấn đề hiếm muộn. Hiện đang 
có các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nồng độ ROS trong dịch nang 
đến chất lượng phôi trong quá trình điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).
Mục tiêu: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để tìm hiểu mối tương quan 
giữa ROS trong dịch nang và chất lượng phôi trong thụ tinh ống nghiệm.
Vật liệu và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu được tiến hành tại 
IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 08/2014 đến tháng 01/2015. Dịch 
nang từ buồng trứng trái và phải của mỗi bệnh nhân được thu nhận 
trong quá trình chọc hút trứng. Nồng độ ROS của mỗi buồng trứng 
được đo và ghi nhận bằng máy đo phát quang hóa học Glomax 20/20 
(Promega, Mỹ) sử dụng đầu dò luminol 5mM. Chất lượng phôi ngày 3 
được ghi nhận cho mỗi buồng trứng của từng bệnh nhân.
Kết quả:Tổng cộng 301 mẫu dịch nang từ 151 bệnh nhân được thu 
nhận trong đó có 150 mẫu được thu từ buồng trứng trái và 151 mẫu 
được thu từ buồng trứng phải. Tiến hành đo nồng độ ROS và ghi nhận 
chất lượng phôi sau 3 ngày cho kết quả phân tích: hệ số tương quan 
giữa tỉ lệ phôi loại 1 ngày 3 với nồng độ ROS dịch nang ở mỗi bên buồng 
trứng phải và trái lần lượt là -0,159 (P=0,051) và -0,011 (P=0,89).
Kết luận: Không tìm thấy mối tương quan giữa nồng độ ROS trong 
dịch nang và chất lượng phôi.
Abstract 
THE CORRELATION BETWEEN THE REACTIVE 
OXYGEN SPECIES IN FOLLICULAR FLUID AND 
EMBRYO QUALITY 
Introduction: Reactive oxygen species (ROS) have roles in the 
pathophysiology of human reproduction, especially of infertility. There 
has been a concern on the impact of the reactive oxygen species (ROS) 
in follicular fluid on the quality of embryo of IVF treatment.
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lưu Thị Minh Tâm,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 05/04/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):25/04/2016
LƯU THỊ MINH TÂM, LÊ HOÀNG ANH, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, ĐẶNG QUANG VINH
82
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Objective: We conducted this study to explore the correlation between ROS in follicular fluid and 
embryo quality. 
Material & methods: A prospective study was conducted at IVFMD, My Duc hospital from August 
2014 to January 2015. ROS was measured by luminometer Glomax 20/20 (Promega, America) 
using luminol probe in follicular fluid from each ovary at oocyte pick-up. Quality of day 3 embryos 
were recorded for each patient’s ovary. Spearman’s correlation was used to explore the correlation 
between ROS in follicular fluid and embryo quality.
Results: A total of 301 follicular fluid samples from 151 patients were measured, in which 151 
samples obtained from right ovary, 150 samples obtained from left ovary. ROS was measured and day 
3 embryo quality was recorded for each patient’s ovary. The correlation between ROS in follicular fluid 
and embryo quality from left and right ovary were -0.011 (P=0.890) and -0.159 (P=0.051), respectively.
Conclusion: No correlation was found between ROS in follicular fluid and embryo quality.
1. Đặt vấn đề
Stress oxy hóa hay mất cân bằng oxy hóa 
(Oxydative Stress - OS) là hậu quả của sự mất 
cân bằng giữa sự hình thành các gốc oxy hóa tự 
do (Reactive Oxygen Species - ROS) và cơ chế 
kháng oxy hóa của cơ thể. Khi nồng độ các gốc 
tự do có oxy trong cơ thể tăng cao sẽ dẫn đến 
nhiều bệnh lý ở người như xơ vữa động mạch, 
ung thư, tiểu đường, tổn thương gan, thấp khớp, 
đục thủy tinh thể, rối loạn thần kinh trung ương, 
Parkinson, hiếm muộn, bệnh lý phụ khoa, bệnh 
lý trong thai kỳ[1].
Một số nghiên cứu phát hiện ở nhóm phụ nữ 
bị lạc nội mạc tử cung (LNMTC) thì sự phát triển 
của các tế bào LNMTC có thể gia tăng nếu nồng 
độ ROS tăng. Một giả thuyết cho rằng ROS tăng 
trong bệnh lý LNMTC có thể góp phần làm giảm 
chất lượng noãn và phôi đồng thời tạo một môi 
trường bất lợi cho tinh trùng. Điều này có thể 
là một phần nguyên nhân gây giảm khả năng 
sinh sản ở nhóm bệnh nhân này. Nhiều nghiên 
cứu khác cũng cho thấy hội chứng buồng trứng 
đa nang (PCOS) cũng liên quan đến sự mất cân 
bằng cân bằng giữa nồng độ các chất kháng 
oxy hóa và ROS. Ở phụ nữ lớn tuổi, số lượng 
nang noãn và chất lượng noãn giảm nhanh và 
ROS có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự 
lão hóa của buồng trứng [1].
Thụ tinh trong ống nghiệm là một kỹ thuật điều 
trị cho các cặp vợ chồng hiếm muộn được chấp 
nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Tuy nhiên, tỉ lệ 
thành công của kỹ thuật này trung bình chỉ đạt 
30-40% [2]. Một trong những nguyên nhân dẫn 
đến tỉ lệ thành công thấp là do tuổi của người phụ 
nữ tăng, giảm dự trữ buồng trứng, các bệnh lý như 
PCOS, LNMTC và do sự stress oxy hóa [3]. Mặc 
dù đã có một vài nghiên cứu đưa ra kết quả ảnh 
hưởng của ROS lên sinh lý sinh sản và quá trình 
điều trị hỗ trợ sinh sản nhưng những kết quả này 
vẫn còn đang tranh luận và ảnh hưởng của ROS 
đến kết quả một chu kỳ điều trị IVF vẫn chưa rõ 
ràng [4]. Một vài nghiên cứu hiện nay đang tập 
trung vào nồng độ ROS trong dịch môi trường bao 
quanh noãn ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng 
noãn và phôi [1].
Dịch nang là một vi môi trường đóng một 
vai trò quan trọng cho quá trình trưởng thành 
của noãn và sự phát triển của phôi [1][5][6]
[7]. Dịch nang còn là môi trường biến dưỡng 
chứa các hormone steroid, các yếu tố tăng 
trưởng, các cytokine, tế bào hạt và bạch cầu 
[8]. Ngoài ra, rất nhiều chất chống oxy hóa đã 
được tìm thấy trong dịch bao quanh noãn bao 
gồm vitamin E, carotene, ascorbate, cysteamine, 
taurine, hypotaurine, transferrin, thioredoxyn, 
và dithiothreitol, nhằm hỗ trợ cho sự tồn tại và 
trưởng thành của noãn. 
ROS có thể được tạo ra từ môi trường biến 
dưỡng xung quanh noãn do sự phosphoryl 
hóa oxy hóa, từ các enzyme NADPH oxydase 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 81 - 85, 2016
83
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
và xanthine oxidase [8]. Ngoài ra các steroid 
hormone, các yếu tố tăng trưởng, các cytokine 
tế bào hạt, và bạch cầu hiện diện trong vi môi 
trường này cũng làm tăng nồng độ ROS. Từ đó 
có thể suy đoán rằng vi môi trường trong nang 
noãn và các điều kiện trong đó có một vai trò 
quan trọng trong sự phát triển của tế bào noãn. 
Nồng độ ROS tăng liên quan đến chất lượng 
noãn kém, tỷ lệ thụ tinh thấp và phôi phát triển 
xấu [2][9]. Nồng độ ROS trong dịch nang noãn 
ở những phụ nữ đã từng điều trị IVF thành công 
cao hơn có ý nghĩa so với nồng độ ROS trong 
dịch nang noãn của những phụ nữ không điều 
trị IVF [2][10]. Điều này cho thấy khi sự mất cân 
bằng giữa các gốc oxy hóa và chất chống oxy 
hóa có thể dẫn đến sự xáo trộn trong khuynh 
hướng sinh sản tự nhiên của nữ giới. Khi nồng độ 
ROS trong dịch nang giảm và nồng độ các chất 
chống oxy hóa tăng lên sẽ làm tăng khả năng 
phát triển của phôi. Tuy nhiên, những kết quả 
trên vẫn còn nhiều bàn luận [7][11].
Tại Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu 
nào về nồng độ ROS trong dịch nang ảnh hưởng 
thế nào đến chất lượng phôi trong thụ tinh ống 
nghiệm. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên 
cứu này để tìm mối tương quan giữa nồng độ ROS 
trong dịch nang và chất lượng phôi nhằm cung cấp 
thêm các dự đoán cơ hội mang thai hoặc giải thích 
một số nguyên nhân cơ bản cho một số bệnh lý 
sinh sản ở nữ giới.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu. 
Nghiên cứu được thực hiện trên 151 chu kỳ xin-cho 
noãn. Bệnh nhân được chuyển phôi tươi hoặc trữ 
ngày 3 sau khi thực hiện kỹ thuật tiêm tinh trùng 
vào bào tương noãn (ICSI).
Thời gian tiến hành từ tháng 08/2014 đến 
tháng 01/2015 tại Đơn vị hỗ trợ sinh sản Mỹ Đức, 
bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức.
Tổng cộng 151 bệnh nhân cho noãn được 
KTBT, sử dụng phác đồ GnRH antagonist. Bệnh 
nhân được tiếp tục theo dõi bẳng siêu âm nang 
noãn để đánh giá và điều chỉnh liều. Sau đó bệnh 
nhân được kích thích trưởng thành noãn bằng liều 
GnRH agonist Dipherelline 0,2mg. Chọc hút noãn 
được tiến hành 36 giờ sau tiêm liều Dipherelline. 
Chúng tôi ghi nhận các đặc điểm của bệnh nhân: 
độ tuổi, chỉ số AMH, chỉ số BMI. Trong quá trình 
chọc hút noãn, dịch nang từ mỗi buồng trứng được 
thu nhận riêng biệt. Phương pháp ICSI được dùng 
để thụ tinh tinh trùng và noãn trưởng thành sau 
khi chọc hút khoảng 4 giờ. Sau 16-18 giờ kể từ 
khi ICSI, tiến hành kiểm tra thụ tinh. Việc đánh giá 
phôi ngày 3 được thực hiện tại thời điểm 66 giờ ± 
2 sau ICSI theo tiêu chuẩn của đồng thuận Alpha 
năm 2011 [12].
Sau quá trình chọc hút noãn, dịch nang thu 
nhận từ mỗi buồng trứng được ly tâm ở tốc độ 
500G/10phút và thu nhận dịch nổi. Nồng độ 
ROS trong dịch nang được đo bằng phương pháp 
phát quang hóa học (Chemiluminescence) sử dụng 
đầu dò luminol 5mM (5-amino-2,3-dihydro-1,4-
phthalazinedione). Tiến hành đo chứng dương và 
chứng âm một lần duy nhất (lặp lại 2 lần và lấy 
giá trị trung bình) trước khi tiến hành đo mẫu dịch 
nang. Các tube chứa mẫu được đặt vào trong máy 
đo phát quang hóa học (Luminometer) GlomaX 
20/20 (Promega, Mỹ).
Mẫu chứng âm: 10µl luminol 5mM trong 
400µl PBS 1X.
Mẫu chứng dương: 10µl luminol 5mM trong 
400µl PBS 1X và cho vào 50µl hydrogen peroxide 
(H2 O2).
Mẫu dịch nang: 10µl luminol 5mM trong 
400µl dịch nang.
Các mẫu dịch nang từ mỗi buồng trứng của 
từng bệnh nhân sẽ được tiến hành đo 2 lần và lấy 
giá trị trung bình. Giá trị ROS toàn phần (nội bào, 
ngoại bào và tất cả các gốc tự do) từ mỗi buồng 
trứng được tính bằng số photon trong từng phút 
(CPM) hoặc RLU/s [13].
Các yếu tố đánh giá kết quả: nồng độ ROS và 
tỉ lệ phôi tốt ngày 3.
Xử lý số liệu: sử dụng thống kê tương quan 
Pearson để tìm mối tương quan giữa nồng độ và tỉ 
lệ tạo phôi tốt ở từng buồng trứng.
3. Kết quả
Chúng tôi thu thập được tổng cộng 301 mẫu 
dịch nang từ 151 phụ nữ cho noãn trong đó có 150 
mẫu dịch nang từ buồng trứng trái và 151 mẫu 
dịch nang từ buồng trứng phải.
LƯU THỊ MINH TÂM, LÊ HOÀNG ANH, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HUỲNH GIA BẢO, ĐẶNG QUANG VINH
84
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Đặc điểm chung của đối tượng 
nghiên cứu
Tương quan giữa nồng độ ROS dịch 
nang và các thông số từ noãn và phôi
Nồng độ ROS đo được giữa hai buồng trứng 
không có sự khác biệt thống kê: buồng trứng 
trái 219,8±89,5 (RLU/s) và buồng trứng phải 
208,7±69,7 (RLU/s).
Tương quan giữa tỉ lệ phôi tốt và nồng 
độ ROS
Hệ số tương quan giữa tỉ lệ phôi loại 1 ngày 
3 với nồng độ ROS dịch nang ở mỗi bên buồng 
trứng phải và trái lần lượt là -0,159 (P=0,051) 
và -0,011 (P=0,89).
4. Bàn luận
ROS có một vai trò quan trọng trong chức 
năng sinh lý của hệ sinh sản nữ, trong hiếm 
muộn và cũng là một trong những yếu tố ảnh 
hưởng đến kết quả của quá trình điều trị thụ tinh 
Đặc điểm (N=151) Trung bình
Tuổi 27,4 ± 4,7
BMI 21,6 ± 3,6
AMH 7,2 ± 3,5
Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân
Buồng trứng trái (n=150) Buồng trứng phải (n=151) Giá trị P
Số lượng noãn chọc hút 9,5 ± 5,2 9,6 ± 4,6 P>0,05
Tỉ lệ noãn trưởng thành (%) 88,3 87,0 P>0,05
Tỉ lệ thụ tinh (%) 81,2 83,0 P>0,05
Tỉ lệ phân chia (%) 83,1 77,0 P>0,05
Phôi loại 1 ngày 3 (%) 44,0 47,2 P>0,05
Nồng độ ROS (RLU) 219,8±89,5 208,7±69,7 P>0,05
Bảng 2: Tương quan giữa nồng độ ROS và các thông số từ noãn và phôi
Biểu đồ 1: Tương quan giữa nồng độ ROS và tỉ lệ phôi tốt của buồng trứng trái và buồng trứng phải.
trong ống nghiệm [7][14]. Tuy nhiên, sự ảnh 
hưởng của nồng độ ROS trong dịch nang lên kết 
quả điều trị IVF vẫn còn đang được tranh luận.
Trong khi Das đã đưa ra mối tương quan 
giữa các nồng độ ROS và chất lượng phôi thì 
cả hai tác giả Oral và Jozwick đều không tìm 
thấy mối tương quan đáng kể giữa kết quả điều 
trị thụ tinh ống nghiệm và nồng độ ROS [2][15]
[16]. Tương tự như kết quả của chúng tôi, Jozwik 
cho thấy không có sự tương quan giữa nồng độ 
lipid hydroperoxide và kết cục điều trị IVF bao 
gồm tỷ lệ thụ tinh và tỉ lệ mang thai [16]. 
Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi ở 
nhóm đối tượng cho noãn là không tìm thấy 
mối tương quan giữa nồng độ ROS trong dịch 
nang và chất lượng phôi ngày 3: hệ số tương 
quan giữa tỉ lệ phôi loại 1 ngày 3 với nồng độ 
ROS dịch nang ở mỗi bên buồng trứng phải 
và trái lần lượt là -0,159 (P=0,051) và -0,011 
(P=0,89). Các chỉ số về tỉ lệ noãn trưởng thành, 
tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ phân chia và tỉ lệ tạo phôi 
tốt không có khác biệt giữa 2 buồng trứng. Tuy 
nhiên, chúng tôi nhận thấy ở buồng trứng phải 
có tỉ lệ tạo phôi tốt cao hơn và nồng độ ROS 
thấp hơn so với buồng trứng trái. Nghiên cứu 
của tác giả Fukuda cho thấy ở cả nhóm đối 
tượng phụ nữ có khả năng sinh sản bình thường 
và phụ nữ vô sinh thì tần suất rụng trứng cao 
hơn ở buồng trứng phải, cũng như kết quả điều 
trị IUI hay IVF đều cao hơn khi noãn đến từ 
buồng trứng phải so với noãn thu được từ buồng 
trứng trái [17].
5. Kết luận
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam 
đánh giá sự tương quan giữa nồng độ ROS 
trong dịch nang và tỷ lệ phôi tốt. Mặc dù không 
có sự tương quan giữa nồng độ ROS và tỷ lệ 
phôi tốt ở từng buồng trứng trong nghiên cứu 
của chúng tôi, nhưng kết quả cũng cho thấy ở 
buồng trứng phải có nồng độ ROS thấp hơn và 
tỷ lệ phôi tốt cao hơn so với buồng trứng trái. 
Nghiên cứu này mở ra hướng nghiên cứu tiếp 
theo với thiết kế chặt chẽ và cỡ mẫu lớn hơn để 
có thể kết luận rõ ràng mối tương quan giữa 
ROS và chất lượng phôi.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 81 - 85, 2016
85
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tài liệu tham khảo
[1] Agarwal A, Aponte-Mellado A, Premkumar BJ, Shaman A, Gupta S 
(2012) The effects of oxydative stress on female reproduction: a review. 
Reproductive Biology and Endocrinology, 10:49.
[2] Das S, Chattopadhyay R, Ghosh S, Ghosh S, Goswami SK, 
Chakravarty BN et al (2006) Reactive oxygen species level in follicular 
fluid–embryo quality marker in IVF? Human Reproduction 21:2403–2407
[3] Moolenaar, L.M., Mohiuddin, S., Munro Davie, M., Merrilees, M.A., 
Broekmans, F.J., Mol, B.W., Johnson, N.P., 2013 High live birth rate in the 
subsequent IVF cycle after first-cycle poor response among women with 
mean age 35 and normal FSH. Reproductive Biomed Online 27, 362–366.
[4] Fujimoto, V.Y., Bloom, M.S., Huddleston, H.G., Shelley, W.B., Ocque, 
A.J., Browne, R.W., 2011 Correlations of follicular fluid oxidative stress 
biomarkers and enzyme activities with embryo morphology parameters 
during in vitro fertilization. Fertility and Sterility 96, 1357–1367
[5] Ho HN, Wu MY, Chen SU, Chao KH, Chen CD, Yang YS (1997) Total 
antioxidant status and nitric oxide do not increase in peritoneal fluids from 
women with endometriosis. Human Reproduction 12(12):2810–2815
[6] Yang HW, Hwang KJ, Kwon HC, Kim HS, Choi KW, Oh KS (1998) 
Detection of reactive oxygen species (ROS) and apoptosis in human 
fragmented embryos. Human Reproduction 13(4):998–1002
[7] Oyawoye O, Abdel Gadir A, Garner A, Constantinovici N, Perrett 
C, Hardiman P (2003) Antioxidants and reactive oxygen species in 
follicular fluid of women undergoing IVF: relationship to outcome. Human 
Reproduction 18(11):2270–2274
[8] Pasqualotto EB, Agarwal A, Sharma RK, Izzo VM, Pinotti JA, Joshi NJ 
et al (2004) Effect of oxidative stress in follicular fluid on the outcome of 
assisted reproductive procedures. Fertility and Sterility 81:973–976
[9] Revelli A, Delle Piane L, Casano S, Molinari E, Massobrio M, Rinaudo 
P (2009) Follicular fluid content and oocyte quality: from single biochemical 
markers to metabolomics. Reproductive Biology and Endocrinology 7:40
[10] Jana SK, K NB, Chattopadhyay R, Chakravarty B, Chaudhury K 
(2010) Upper control limit of reactive oxygen species in follicular fluid 
beyond which viable embryo formation is not favorable. Reproductive 
Toxicology 29:447–51
[11] Appasamy M, Jauniaux E, Serhal P, Al-Qahtani A, Grome NP, 
Muttukrishna S (2008) Evaluation of the relationship between follicular 
fluid oxidative stress, ovarian hormones, and response to gonadotropin 
stimulation. Fertility and Sterility 89:912–921
[12] Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special 
Interest Group of Embryology (2011) The Istanbul consensus workshop 
on embryo assessment: proceedings of an expert meeting. Human 
Reproduction 26(6):1270-1283
[13] Agarwal A, Allamaneni SS, Said TM (2004) Chemiluminescence 
technique for measuring reactive oxygen species. Reproductive Biomed 
Online 9(4):466–468
[14] Agarwal A, Gupta S, Sharma R (2005) Oxidative stress and its 
implications in female infertility—a clinician’s perspective. Reproductive 
Biomed Online 11(5):641–650
[15] Oral O, Kutlu T, Aksoy E, et al The effects of oxidative stress on 
outcomes of assisted reproductive techniques. Journal of Assisted 
Reproduction Genetics 2006; 23:81–5
[16] Jozwik M, Wolczynski S, Jozwik M, Szamatowicz M Oxidative stress 
markers in preovulatory follicular fluid in humans. Molecular Human 
Reproduction 1999; 5:409–13
[17] Misao Fukuda, Kiyomi Fukuda, Claus Yding Andersen, Anne Grete 
Byskov Right-sided ovulation favours pregnancy more than left-sided 
ovulation. Human Reproduction 2000; 15 (9):1921-1926

File đính kèm:

  • pdfmoi_tuong_quan_giua_nong_do_cua_cac_tac_nhan_oxy_hoa_trong_d.pdf