Mối tương quan giữa kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn và sự phân mảnh DNA tinh trùng được đo bằng phương pháp khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất tinh trùng (SCSA)

Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA tinh

trùng (DFI) được đo bằng phương pháp khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất

tinh trùng (SCSA) và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu

Bệnh nhân: 65 bệnh nhân điều trị ICSI

Kết quả chính thu nhận: DFI và kết quả ICSI

Kết quả: Chỉ số DFI tương quan nghịch với tỷ lệ thụ tinh sau ICI có ý

nghĩa thống kê (r = -0,28; p = 0,02). Tỷ lệ thụ tinh ở nhóm bệnh nhân có

chỉ số DFI > 15% thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân

có DFI ≤ 15% (91% so với 84%; p = 0,03). Không tìm thấy sự tương quan

có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số DFI và chất lượng phôi. Tỷ số nguy cơ

(ORs) được ước tính cho kết quả thai sinh hóa không có ý nghĩa thống kê

ở 2 nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI > 15%. Kết quả tương tự cũng được

tìm thấy khi ước tính ORs cho kết quả thai lâm sàng sau 8 tuần.

Kết luận: Kết quả DFI – SCSA có sự tương quan nghịch với tỷ lệ thụ

tinh sau ICSI.

pdf 5 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Mối tương quan giữa kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn và sự phân mảnh DNA tinh trùng được đo bằng phương pháp khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất tinh trùng (SCSA)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối tương quan giữa kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn và sự phân mảnh DNA tinh trùng được đo bằng phương pháp khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất tinh trùng (SCSA)

Mối tương quan giữa kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn và sự phân mảnh DNA tinh trùng được đo bằng phương pháp khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất tinh trùng (SCSA)
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN MINH TÀI LỘC, MÃ PHẠM QUẾ MAI, NGUYỄN ẤN BÌNH, NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ, PHAN THỊ KIM ANH, 
DƯƠNG NGUYỄN DUY TUYỀN, NGUYỄN THỊ QUỲNH TIÊN, HỒ MẠNH TƯỜNG
70
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
Nguyễn Minh Tài Lộc(1), Mã Phạm Quế Mai(1), Nguyễn Ấn Bình(2), Nguyễn Trương Thái Hà(1), Phan Thị Kim Anh(3), Dương Nguyễn Duy Tuyền(3), Nguyễn Thị Quỳnh Tiên(3), Hồ Mạnh Tường(1)
(1) Trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh sản – CGRH, (2) Đại học Quốc gia TP.HCM, (3) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA KẾT QUẢ
TIÊM TINH TRÙNG VÀO BÀO TƯƠNG NOÃN
VÀ SỰ PHÂN MẢNH DNA TINH TRÙNG
ĐƯỢC ĐO BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
CẤU TRÚC NHIỄM SẮC CHẤT TINH TRÙNG (SCSA)
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Minh Tài Lộc, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/10/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
23/10/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Từ khóa: Khảo sát cấu trúc 
nhiễm sắc chất tinh trùng, vô 
sinh nam, phân mảnh DNA 
tinh trùng, ICSI, sự thụ tinh, sự 
mang thai.
Keywords: Sperm chromatin 
structure assay, infertile men, 
sperm DNA fragmentation, 
ICSI, fertilization, pregnancy.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA tinh 
trùng (DFI) được đo bằng phương pháp khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất 
tinh trùng (SCSA) và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu
Bệnh nhân: 65 bệnh nhân điều trị ICSI
Kết quả chính thu nhận: DFI và kết quả ICSI
Kết quả: Chỉ số DFI tương quan nghịch với tỷ lệ thụ tinh sau ICI có ý 
nghĩa thống kê (r = -0,28; p = 0,02). Tỷ lệ thụ tinh ở nhóm bệnh nhân có 
chỉ số DFI > 15% thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân 
có DFI ≤ 15% (91% so với 84%; p = 0,03). Không tìm thấy sự tương quan 
có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số DFI và chất lượng phôi. Tỷ số nguy cơ 
(ORs) được ước tính cho kết quả thai sinh hóa không có ý nghĩa thống kê 
ở 2 nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI > 15%. Kết quả tương tự cũng được 
tìm thấy khi ước tính ORs cho kết quả thai lâm sàng sau 8 tuần.
Kết luận: Kết quả DFI – SCSA có sự tương quan nghịch với tỷ lệ thụ 
tinh sau ICSI.
Từ khóa: Khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất tinh trùng, vô sinh nam, 
phân mảnh DNA tinh trùng, ICSI, sự thụ tinh, sự mang thai.
Abstract 
RELATIONSHIP BETWEEN THE OUTCOMES OF 
INTRACYTOPLASMIC SPERM INJECTION AND SPERM 
DNA FRAGMENTATION AS MEASURED BY THE SPERM 
CHROMATIN STRUCTURE ASSAY (SCSA) 
Objective(s): To determine the relationship between sperm chromatin 
structure assay (SCSA) parameters (DNA fragmentation index – DFI) 
and intracytoplasmic sperm injection (ICSI) outcomes
Patient(s) and method
Design: Prospective cohort study
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 70 - 74, 2017
71
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
1. Đặt vấn đề 
Sự toàn vẹn DNA tinh trùng là yếu tố then chốt 
trong sự truyền đạt thông tin di truyền từ người cha. 
Các trường hợp dị tật của tinh trùng tồn tại trong 
30% – 50% các trường hợp vô sinh ở nam giới [1]. 
Các bất thường của tinh trùng bao gồm mật độ 
thấp của tinh trùng, tinh trùng di động kém, hình 
dạng tinh trùng bất thường sẽ ảnh hưởng lên quá 
trình có thai tự nhiên. Sự ra đời của kỹ thuật tiêm 
tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) đã giúp cho 
những bệnh nhân nam gặp các bất thường nêu 
trên được điều trị một cách hiệu quả [2]. Tuy nhiên, 
các tổn thương liên quan tới DNA tinh trùng (được 
tính bằng chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng – DFI) 
có thể là nguyên nhân dẫn tới thất bại trong các 
chu kỳ điều trị ICSI. Vấn đề này vẫn là mối quan 
tâm của các nhà khoa học và lâm sàng học, nhắm 
tới việc nâng cao hiệu quả điều trị vô sinh nguyên 
nhân do nam giới.
Hiện nay, phương pháp khảo sát cấu trúc 
nhiễm sắc chất tinh trùng (SCSA) là một công cụ 
hiệu quả trong việc đánh giá sự phân mảnh DNA 
tinh trùng. SCSA cho phép đánh giá trên 5000 tế 
bào tinh trùng/mẫu tinh dịch với thời gian ngắn so 
với phương pháp truyền thống (SCD hay COMET) 
sử dụng kính hiển vi chỉ đếm 200 – 400 tinh trùng/
mẫu tinh dịch và yêu cầu kinh nghiệm của kỹ thuật 
viên. Với nhiều ưu điểm như mang tính thống kê 
cao, độ bao quát chất lượng mẫu lớn, độ nhạy và 
độ đặc hiệu cao nên SCSA được xem là một phương 
pháp tiềm năng cho việc đánh giá tổn thương DNA 
tinh trùng nhằm giúp bác sĩ đưa ra phương pháp 
điều trị hiệu quả nhất cho bệnh nhân.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu 
cho thấy nguy cơ thất bại thụ tinh xảy ra cao hơn 
ở những người đàn ông mang bất thường DNA tinh 
trùng [3], và những bất thường DNA tinh trùng liên 
quan mật thiết tới vô sinh ở nam giới [4]. Cơ hội 
mang thai khi một cặp vợ chồng tiến hành bơm tinh 
trùng vào buồng tử cung (IUI) giảm đáng kể khi chỉ 
số DFI của người chồng càng gần 30% và gần như 
bằng không khi chỉ số DFI vượt quá 30% [5]. Xa hơn 
nữa, cần đánh giá ảnh hưởng của sự phân DNA tinh 
trùng lên kết quả của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 
khác như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) hay ICSI.
Tuy đã có nhiều bằng chứng cho thấy ảnh hưởng 
của sự phân mảnh DNA tinh trùng lên tỷ lệ thụ tinh, 
chất lượng phôi, tỷ lệ mang thai và tỷ lệ trẻ sinh sống 
[6, 7]. Tuy nhiên, các nghiên cứu này tập trung chủ 
yếu ở các nước châu Âu, Hoa Kỳ và Trung Quốc 
mà chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại Việt 
Nam. Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi 
là xác định sự tương quan giữa chỉ số phân mảnh 
DNA tinh trùng (được đo bằng phương pháp SCSA) 
và kết quả sau ICSI bao gồm tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ phôi 
tốt, kết quả thai sinh hóa và kết quả thai lâm sàng.
2. Đồi tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu với kết 
quả sau ICSI bao gồm tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ phôi tốt, 
Patient(s): Sixty-five couples undergoing ICSI
Main outcome measure(s): DFI and ICSI outcomes
Result(s): A significant negative association between DFI and ICSI fertilization rates were found (r 
= -0.28; p = 0.02). Patients with DFI > 15% had lower ICSI fertilization rates than patients with DFI ≤ 
15% (91% and 84%; p = 0.03). No significant association was found between DFI and good quality 
embryo. Odd ratios (ORs) for chemical pregnancy calculated were not significant in 2 groups with 
DFI > 15%. The such results were seen when calculated ORs for pregnancy (> 8 weeks).
Conclusion(s): SCSA parameters had a significant negative association with ICSI fertilization rates. 
Keywords: Sperm chromatin structure assay, infertile men, sperm DNA fragmentation, ICSI, 
fertilization, pregnancy.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN MINH TÀI LỘC, MÃ PHẠM QUẾ MAI, NGUYỄN ẤN BÌNH, NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ, PHAN THỊ KIM ANH, 
DƯƠNG NGUYỄN DUY TUYỀN, NGUYỄN THỊ QUỲNH TIÊN, HỒ MẠNH TƯỜNG
72
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
kết quả thai sinh hóa và kết quả thai lâm sàng liên 
quan tới chỉ số DFI khác nhau của bệnh nhân.
Thu nhận mẫu tinh dịch từ bệnh nhân
Nghiên cứu này thu nhận 65 mẫu tinh dịch từ 
các cặp vợ chồng điều trị vô sinh bằng phương 
pháp ICSI tại bệnh viện đa khoa Mỹ Đức từ tháng 
04/2015 tới tháng 06/2016. 
Tiêu chuẩn nhận và loại mẫu
Mẫu tinh dịch sau khi được thu nhận bằng phương 
pháp thủ dâm sẽ được đánh giá mật độ, độ di động 
và hình dạng tinh trùng theo chuẩn WHO (2010), dữ 
liệu được mô tả ở bảng 1. Mẫu tinh dịch tiếp đó được 
chia ra, một phần cho việc lọc rửa và tiến hành ICSI, 
phần còn lại sẽ được vận chuyển về trung tâm Nghiên 
cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh sản (CGRH) để tiến 
hành đánh giá chỉ số DFI bằng phương pháp SCSA.
Quy trình SCSA
Quy trình SCSA được tiến hành như mô tả của 
Evenson (2000) [8], và có một số thay đổi nhằm 
tối ưu hóa quy trình tại Việt Nam. Mẫu tinh dịch 
sau khi được pha loãng sẽ được xử lý với dung dịch 
HCl loãng (0,08N) trong 30 giây với mục đích biến 
tính DNA tinh trùng. Sau đó, các tế bào tinh trùng 
trong mẫu sẽ được nhuộm với thuốc nhuộm DNA 
huỳnh quang acridine orange (AO) trong 30 giây. 
Sau khi 20,000 tinh trùng/mẫu chạy qua máy đếm 
dòng chảy tế bào FCM BD Accuri C6 (BD, Hoa Kỳ), 
DNA còn nguyên vẹn sẽ cho tín hiệu màu xanh lá 
cây trong khi các DNA bị tổn thương sẽ cho tín hiệu 
màu đỏ. Chỉ số DFI được tính bằng phần mềm BD 
Accuri C6 (ver 1.0, 264.21) với độ chính xác tại 
phòng thí nghiệm của chúng tôi > 95% (CV < 5%).
Quy trình ICSI
Quá trình ICSI được tiến hành 40 – 42 giờ sau khi 
tiêm hCG theo đúng quy trình thường quy tại bệnh 
viện Mỹ Đức. Kết quả thụ tinh được đánh giá sau 17 ± 
1 giờ sau ICSI dựa vào sự xuất hiện của 2 tiền nhân.
Tiêu chuẩn nhận mẫu Tiêu chuẩn loại mẫu
Bệnh nhân nam trong cặp vợ chồng đang 
điều trị vô sinh bằng phương pháp ICSI có 
tuổi từ 20 đến 40 tuổi
Không bị triệu chứng vô tinh (azoospermia), 
ít tinh (cryptospermia), các trường hợp thu 
nhận tinh trùng từ các phương pháp PESA, 
TESA, TESE
Không đang trong quá trình điều trị bệnh 
hiểm nghèo
Không mắc các bệnh lây truyền qua đường 
tình dục
Chu kỳ điều trị ≥ 2
Tuổi vợ ≥ 38 tuổi
Số nang noãn có kích thước 14 mm trước 
ngày chọc hút < 8 nang
Số trứng ICSI < 5 trứng
Vợ có bất thường tử cung (Lạc nội mạc tử 
cung, u xơ tử cung dưới niêm, dị dạng tử 
cung)
Niêm mạc tử cung < 7 mm
Chỉ định IVM, IUI
Trữ phôi toàn bộ
Tiến hành đánh giá chất lượng phôi vào 66 ± 1 
giờ sau ICSI trước khi phôi được chuyển vào tử cung 
của người mẹ. Việc đánh giá chất lượng phôi dựa 
vào đồng thuận alpha (2011) [9]. Vào ngày thứ 12 
sau thời điểm ICSI, tiến hành xác định kết quả thai 
sinh hóa dựa vào nồng độ βhCG (βhCG ≥ 5mIU/mL) 
và đánh giá thai lâm sàng vào tuần thứ 8 sau ICSI.
Phân tích số liệu
Dữ liệu thu được sẽ được phân tích bằng phần 
mềm R (ver 3.2.4). Chỉ số DFI thu được từ 65 bệnh 
nhân sẽ được chia ra làm 3 nhóm (DFI ≤ 15%, 15% 
 30%) và được đánh giá mức độ 
tương quan với tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ phôi tốt. Để đánh 
giá ảnh hưởng của sự phân mảnh DNA tinh trùng lên 
kết quả thai, nhóm DFI ≤ 15% (nhóm có chất lượng 
DNA tinh trùng tốt) được sử dụng làm nhóm tham 
khảo, 2 nhóm còn lại được tính tỷ số nguy cơ (ORs) 
cho kết quả thai sinh hóa và kết quả thai lâm sàng.
3. Kết quả
Tỷ lệ thụ tinh
Tỷ lệ thụ tinh là tỷ lệ giữa số noãn thụ tinh trong 
tổng số noãn tiến hành ICSI, tỷ lệ thụ tinh trung 
bình từ 65 cặp vợ chồng là 87,35% ± 12,78%. 
Trong 3 nhóm bệnh nhân, sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê được tìm thấy ở nhóm bệnh nhân có chỉ 
số DFI ≤ 15% và 2 nhóm còn lại (91% so với 84%; 
p = 0,03), kết quả thể hiện ở biểu đồ 1. Khi tiến 
hành đánh giá mức độ tương quan giữa chỉ số DFI 
và tỷ lệ thụ tinh, chúng tôi nhận thấy sự tương quan 
nghịch có ý nghĩa thống kê (r = -0,28; p = 0,02) 
nghĩa là chỉ số DFI càng cao thì tỷ lệ thụ tinh có xu 
hướng giảm, kết quả được thể hiện ở biểu đồ 2.
Tỷ lệ phôi tốt
Tỷ lệ phôi tốt là tỷ lệ phôi loại I và phôi loại II 
(theo đồng thuận alpha, 2011) trên tổng số phôi thu 
nhận được. Tỷ lệ phôi tốt trung bình thu nhận được 
là 68,07% ± 31,7% và không có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê về tỷ lệ phôi tốt được ghi nhận giữa 
3 nhóm bệnh nhân. Khi tiến hành đánh giá mức độ 
tương quan giữa chỉ số DFI và tỷ lệ phôi tốt, chúng tôi 
cũng không ghi nhận được sự tương quan có ý nghĩa 
thống kê (p = 0,3), kết quả được thể hiện ở biểu đồ 3.
Tỷ lệ thai sinh hóa và thai lâm sàng
Bảng 2 thể hiện tỷ số nguy cơ ORs cho tỷ lệ 
thai sinh hóa và tỷ lệ thai lâm sàng ở 2 nhóm bệnh 
nhân có chỉ số DFI > 15% (nhóm DFI ≤ 15% được 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 70 - 74, 2017
73
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
sử dụng làm nhóm tham khảo – ref). Tuy nhiên, 
chúng tôi vẫn không tìm thấy sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê giữa các nhóm bệnh nhân có chỉ số 
DFI khác nhau (p > 0,05). 
4. Bàn luận
Nghiên cứu của chúng tôi đã tìm thấy sự tương 
quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số DFI và 
tỷ lệ thụ tinh của các cặp vợ chồng điều trị ICSI. Điều 
này có nghĩa, khi bệnh nhân có chỉ số DFI càng cao 
thì tỷ lệ thụ tinh càng giảm. Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi phù hợp với một số nghiên cứu khác về sự 
tương quan nghịch giữa chỉ số DFI và tỷ lệ thụ tinh 
sau ICSI [10 – 13]. Chúng tôi không tìm ra được sự 
tương quan có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số DFI và tỷ 
lệ phôi tốt, kết quả này tuy trái ngược với các nghiên 
cứu vừa nêu nhưng kết quả này lại tương tự với các 
nghiên cứu của các tác giả khác [1, 5, 14].
Một nghiên cứu phân tích tổng hợp (meta – 
analysis) được thực hiện bởi Collins (2008) cho thấy 
có mối tương quan nghịch giữa chỉ số DFI và tỷ lệ có 
thai ở các chu kỳ điều trị IVF/ICSI [15]. Tuy nhiên, 
nhiều tác giả cho rằng tầm vóc nghiên cứu này chưa 
đủ mạnh để cung cấp các chỉ định lâm sàng đối với 
các bệnh nhân điều trị IVF/ICSI [16]. Kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi đưa ra tỷ số OR không có ý nghĩa 
thống kê cho khả năng có thai. Tuy nhiên, có thể 
nhận thấy khi chỉ số DFI trên 15% thì khả năng mang 
thai sinh hóa của bệnh nhân giảm 3,0% – 4,0%.
Dữ liệu nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự suy 
giảm tỷ lệ thụ tinh sau ICSI khi chỉ số DFI tăng. Vì vậy, 
chúng tôi cho rằng ảnh hưởng của sự phân mảnh 
Đặc điểm Trung bình ± độ lệch chuẩn Giới hạn
Tuổi chồng 33,2 ± 3,5 27 – 40
Tuổi vợ 31,2 ± 3,1 23 – 38 
Mật độ (x106 tinh trùng/mL) 33,1 ± 23,2 1 – 112
Độ di động (%) 28,1 ± 13,0 5 – 60
Biểu đồ dạng tinh trùng (%) 1,2 ± 0,6 0 – 4
Bảng 1: Dữ liệu của bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu
Nhóm DFI 
(%) Số lượng
Thai sinh hóa Thai lâm sàng
OR (95% CI) P - value OR (95% CI) P - value
0 – 15 25 Ref - Ref -
15 – 30 29 0,96 (0,80 – 1,14) 0,62 1,05 (0,88 – 1,25) 0,62
> 30 11 0,97 (0,87 – 1,27) 0,59 1,20 (0,94 – 1,53) 0,14
Chú thích: Nhóm bệnh nhân DFI ≤ 15% được dùng làm nhóm chứng (ref). Không có sự 
tương quan có ý nghĩa thống kê ở các nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI khác nhau (p > 0,05).
Bảng 2: Tỷ số nguy cơ cho thai sinh hóa và thai lâm sàng sau khi chuyển phôi của các cặp 
vợ chồng ở các nhóm có chỉ số DFI khác nhau
Biểu đồ 1: Tỷ lệ thụ tinh ở các nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI khác nhau
Chú thích: Nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI ≤ 15% có tỷ lệ thụ tinh cao hơn 2 nhóm bệnh 
nhân có chỉ số DFI > 15% có ý nghĩa thống kê (p = 0,03)
Biểu đồ 2: Sự tương quan giữa chỉ số DFI và tỳ lệ thụ tinh sau ICSI
Chú thích: Mối tương nghịch giữa chỉ số DFI và tỷ lệ thụ tinh (hệ số tương quan r = -0,28 và 
p = 0,02). Phương trình hồi quy y = -0,38x + 95.
Biểu đồ 3: Sự tương quan giữa chỉ số DFI và tỷ lệ phôi tốt sau ICSI
Chú thích: Không tìm ra sự tương quan giữa chỉ số DFI và tỷ lệ phôi tốt sai ICSI (p = 0,3 > 0,05).
DNA tinh trùng sẽ tồn tại ở giai đoạn sớm trong quá 
trình thụ tinh, khi quá trình này phụ thuộc chủ yếu vào 
chất lượng của hai giao tử. Chính vì điều này, các 
bệnh nhân có mức độ phân mảnh DNA tinh trùng 
cao khó có thể thụ tinh và mang thai tự nhiên.
Sau khi thụ tinh, hợp tử sẽ được nuôi cấy và phát 
triển thành phôi trước khi được chuyển vào tử cung 
người mẹ. Trong giai đoạn này, quá trình phát triển 
của hợp tử còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
NGUYỄN MINH TÀI LỘC, MÃ PHẠM QUẾ MAI, NGUYỄN ẤN BÌNH, NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ, PHAN THỊ KIM ANH, 
DƯƠNG NGUYỄN DUY TUYỀN, NGUYỄN THỊ QUỲNH TIÊN, HỒ MẠNH TƯỜNG
74
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
lượng phòng nuôi cấy, chất lượng môi trường nuôi 
cấy, chất lượng của noãn nên chúng tôi cho rằng 
cỡ mẫu chưa đủ độ lớn để đánh giá ảnh hưởng của 
sự phân mảnh DNA tinh trùng lên chất lượng phôi.
Sau khi được chuyển vào tử cung người mẹ, 
phôi sẽ làm tổ và phát triển thành thai (thai sinh 
hóa ở tuần thứ 2 và thai lâm sàng ở tuần thứ 8 
sau ICSI). Trong giai đoạn này, tuổi của người mẹ, 
số phôi chuyển là các yếu tố ảnh hưởng tới khả 
năng thành công của một chu kỳ ICSI [17]. Trên 
cơ sở đó, chúng tôi so sánh tỷ lệ những trường hợp 
phát triển từ giai đoạn thai sinh hóa tới giai đoạn 
thai lâm sàng ở những phụ nữ trẻ (tuổi ≤ 30) và ở 
những phụ nữ lớn tuổi hơn (tuổi > 30). Kết quả cho 
thấy nhóm phụ nữ trẻ, tỷ lệ này cao hơn có ý nghĩa 
thống kê so với nhóm phụ nữ trên 30 tuổi (100% 
và 68%; p < 0,05). Như vậy, bên cạnh chỉ số DFI 
thì tuổi của người vợ cũng đóng vai trò quan trọng 
trong sự phát triển của thai.
Bên cạnh các kết quả sau ICSI, chúng tôi tiến 
hành phân tích mối liên hệ giữa chỉ số DFI và 
các chỉ số tinh dịch đồ như mật độ tinh trùng, độ 
di động và hình dạng của tinh trùng. Tuy nhiên, 
không có chỉ số tinh dịch đồ nào tương quan có ý 
nghĩa thống kê với chỉ số DFI (p > 0,05). Vì vậy, 
các chỉ số tinh dịch đồ không thể phản ánh được 
chất lượng DNA tinh trùng và cần các phương 
pháp chẩn đoán tổn thương DNA tinh trùng nhằm 
tìm ra phương pháp điều trị hợp lý cho bệnh nhân.
Vì SCSA là một khảo nghiệm không xâm lấn 
với độ nhạy và độ đặc hiệu cao nên SCSA là một 
công cụ hữu dụng nhằm đánh giá chỉ số DFI cho 
nam giới [8]. Từ kết quả DFI – SCSA, bác sĩ có thể 
chọn được phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh 
nhân, đồng thời, khuyến khích bệnh nhân cải thiện 
chất lượng sống để có thể cải thiện chỉ số phân 
mảnh DNA tinh trùng.
5. Kết luận
Có sự tương quan nghịch giữa chỉ số DFI và tỷ lệ 
thụ tinh ở các bệnh nhân điều trị ICSI. Dựa vào kết 
quả này, có thể đưa xét nghiệm phân mảnh DNA 
tinh trùng ứng dụng trên lâm sàng để góp phần 
tiên lượng kết quả điều trị.
Tài liệu tham khảo
1. Larson-Cook KL, Brannian JD, Hansen KA, Kasperson KM, Evenson 
DP. Relationship between the outcomes of assisted reproductive 
techniques and sperm DNA fragmentation as measured by the sperm 
chromatin structure assay. Fer & Ster. 2003 Oct; 80(4):895-902
2. Nagy ZP, Liu J, Joris H, et al. The result of intracytoplasmic sperm 
injection is not related to any three basic sperm parameters. Hum Reprod. 
1995; 10:1123-9
3. Sakkas D, Urmer F, Bianchi PG, et al. Sperm chromatin abnormalities 
can influence decondensation after intracytoplasmic sperm injection. Hum 
Reprod. 1996; 11:837-43
4. Giwercman A, Linsteddt L, Larsson M, Bungum M, Spano M & 
Rylander L. Sperm chromatin structure assay as an independent predictor 
of fertility in vivo: a case – control study. Int J Androl. 2010; 33:221-227
5. Bungum M, Humaidan P, Axmon A, Spano M, Bungum L, Giwercman 
A. Sperm DNA Integrity assessment in prediction of assisted reproduction 
technology outcome. Hum Reprod. 2007; 22:174-179
6. Zhang Z, Zhu L, Jiang H, Chen H, Chen Y & Dai Y. Sperm DNA 
fragmentation index and pregnancy outcome after IVF or ICSI: a meta-
analysis. J Assist Reprod Genet. 2015; 32:17-26
7. Niu ZH, Shi HJ, Zhang HQ, Zhang AJ, Sun YJ & Feng Y. Sperm 
chromatin structure assay results after swim-up are related only to embryo 
quality but not to fertilization and pregnancy rates following IVF. Asian J 
Androl. 2011, 13:862-866
8. Evenson DP & Jost L. Sperm chromatin structure assay is useful for 
fertility assessment. Method in Cell Science. 2000; 22(2-3):169-189
9. Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special 
Interest Group of Embryology. The Istanbul consensus workshop on 
embryo assessment: preceedings of an expert meeting. Hum Reprod. 
2011; 26(6):1270 – 1283
10. Virro MR, Larson-Cook KL & Evenson DP. Sperm chromatin 
strucrure assay (SCSA) parameters are related to fertilizatiom, blastocyst 
development, and ongoing pregnancy in in vitro fertilization and 
intracytoplasmic sperm injection cycles. Fer & Ster. 2004; 81:1289-1295
11. Check JH, Graziano V, Cohen R, Krotec J & Check ML. Effect of 
an abnormal sperm chromatin structure assay (SCSA) on pregnancy 
outcome following (IVF) with ICSI in previous IVF faliures. Arch Androl. 
2005; 51:121-124
12. Zini A, Meriano J, Kder K, Jarvi K, Laskin CA & Cadesky K. Potential 
adverse effect of sperm DNA damage on embryo quality after ICSI. Hum 
Reprod. 2005; 20:3476-3480
13. Jiang HH, HeXJ, Song B & Cao YX. Sperm chromatin integrity test 
for predicting the outcomes of IVF and ICSI. Zhonghua Nan Ke Xue. 2011; 
17:1083-1086
14. Dar S, Grover SA, Moskovstev SI, Swanson S, Baratz A & Librach 
CL. In vitro fertilization – Intracytoplasmic sperm injection outcome in 
patients with a markedly high DNA fragmentation index (> 50%). Fer & 
Ster. 2013; 100:75-80
15. Collins JA, Barnhart KT & Schlegel PN. Do sperm DNA integrity tests 
predict pregnancy with in vitro fertilization?. Fer & Ster. 2008; 89:823-831
16. Oleszczuk K, Giwercman A & Bungum M. Sperm chromatin structure 
assay in prediction of in vitro fertilization outcome. Andrology. 2016; 4:290-296
17. Hồ Mạnh Tường, Vương Thị Ngọc Lan, Phạm Việt Thanh, Nguyễn 
Thị Ngọc Phượng. Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn: Các yếu tố liên 
quan đến tỷ lệ thành công. Y Học TpHCM. 2002; 6:361-364

File đính kèm:

  • pdfmoi_tuong_quan_giua_ket_qua_tiem_tinh_trung_vao_bao_tuong_no.pdf