Mối tương quan giữa đa hình gen thụ thể FSH và đáp ứng kích thích buồng trứng cận tối ưu trên nhóm phụ nữ thực hiện IVF tại Việt Nam

Sự kích thích buồng trứng có kiểm soát (Controlled Ovarian

Stimulation – COS) cho từng cá thể ngày càng chứng minh hiệu quả,

giúp cho người nữ hiếm muộn có nhiều cơ hội thành công với những

rủi ro tối thiểu sau khi điều trị IVF. Tuy nhiên, trong khi nhóm đáp ứng

kích thích buồng trứng kém đã được xác định (1), thì cho đến nay vẫn

chưa có một nghiên cứu mang tính hệ thống nào được thực hiện để xác

định ngưỡng phát hiện cho một người có đáp ứng bình thường. Do đó,

những bệnh nhân không đáp ứng kém mà cũng không đáp ứng quá cao

thì được xem là đáp ứng bình thường, và thường có khoảng từ 4 đến 15

noãn. Tuy nhiên, nhóm bệnh nhân này không đại diện cho một quần thể

đồng nhất, bởi có sự khác biệt đáng kể đối với khả năng mang thai và

trẻ sinh sống; đồng thời, các nghiên cứu chỉ ra rằng số lượng noãn tối

ưu để tối đa hóa tỷ lệ có thai là từ 10 đến 15 noãn (2). Vì vậy, một tỷ lệ

đáng kể những bệnh nhân nữ hiện đang được xếp vào nhóm “đáp ứng

bình thường” (normoresponders) nhưng có số lượng noãn không nằm

trong giới hạn tối ưu từ 10-15 noãn, thì được xếp loại là nhóm đáp ứng

cận tối ưu (suboptimal responders)

pdf 5 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Mối tương quan giữa đa hình gen thụ thể FSH và đáp ứng kích thích buồng trứng cận tối ưu trên nhóm phụ nữ thực hiện IVF tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối tương quan giữa đa hình gen thụ thể FSH và đáp ứng kích thích buồng trứng cận tối ưu trên nhóm phụ nữ thực hiện IVF tại Việt Nam

Mối tương quan giữa đa hình gen thụ thể FSH và đáp ứng kích thích buồng trứng cận tối ưu trên nhóm phụ nữ thực hiện IVF tại Việt Nam
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
75
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 75 - 79, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
Mã Phạm Quế Mai(1), Lê Long Hồ(2), Phạm Thiếu Quân(1), Hồ Mạnh Tường(1,2), Vương Thị Ngọc Lan(1,2,3) 
(1) Trung tâm nghiên cứu HOPE, Bệnh viện Mỹ Đức, (2) Bệnh viện Mỹ Đức, (3) Đại học Y Dược TP.HCM
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐA HÌNH GEN
THỤ THỂ FSH VÀ ĐÁP ỨNG KÍCH THÍCH
BUỒNG TRỨNG CẬN TỐI ƯU TRÊN NHÓM PHỤ NỮ
THỰC HIỆN IVF TẠI VIỆT NAM 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Mã Phạm Quế Mai,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/07/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 01/09/2019
1. Đặt vấn đề
Sự kích thích buồng trứng có kiểm soát (Controlled Ovarian 
Stimulation – COS) cho từng cá thể ngày càng chứng minh hiệu quả, 
giúp cho người nữ hiếm muộn có nhiều cơ hội thành công với những 
rủi ro tối thiểu sau khi điều trị IVF. Tuy nhiên, trong khi nhóm đáp ứng 
kích thích buồng trứng kém đã được xác định (1), thì cho đến nay vẫn 
chưa có một nghiên cứu mang tính hệ thống nào được thực hiện để xác 
định ngưỡng phát hiện cho một người có đáp ứng bình thường. Do đó, 
những bệnh nhân không đáp ứng kém mà cũng không đáp ứng quá cao 
thì được xem là đáp ứng bình thường, và thường có khoảng từ 4 đến 15 
noãn. Tuy nhiên, nhóm bệnh nhân này không đại diện cho một quần thể 
đồng nhất, bởi có sự khác biệt đáng kể đối với khả năng mang thai và 
trẻ sinh sống; đồng thời, các nghiên cứu chỉ ra rằng số lượng noãn tối 
ưu để tối đa hóa tỷ lệ có thai là từ 10 đến 15 noãn (2). Vì vậy, một tỷ lệ 
đáng kể những bệnh nhân nữ hiện đang được xếp vào nhóm “đáp ứng 
bình thường” (normoresponders) nhưng có số lượng noãn không nằm 
trong giới hạn tối ưu từ 10-15 noãn, thì được xếp loại là nhóm đáp ứng 
cận tối ưu (suboptimal responders) (3).
Nhóm đáp ứng cận tối ưu với lượng noãn thu nhận từ 4-9 noãn chiếm 
tỷ lệ 40% các trường hợp vô sinh nữ và được xem là nhóm đối tượng cần 
quan tâm, bởi nhận biết được nhóm bệnh nhân này và kết hợp tối ưu 
trong chỉ định điều trị kích thích buồng trứng cho những chu kỳ kế tiếp có 
thể làm tăng đáng kể tỷ lệ sinh sống tích lũy của họ(4). Trong nỗ lực nhận 
biết nhóm bệnh nhân này, nguyên nhân dẫn đến việc đáp ứng cận tối ưu 
do các biến đổi về mặt di truyền được quan tâm, có thể giải thích cho sự 
nhạy cảm với việc kích thích buồng trứng và sự đáp ứng cận tối ưu trong 
quần thể này. Một số nghiên cứu đã chứng minh vài vị trí đặc biệt của 
các đa hình đơn nucleotide (single nucleotide polymorphisms – SNPs) trên 
gen mã hóa thụ thể hormone kích thích nang noãn (FSHR) hoặc gen mã 
hóa tiểu đơn vị β của hormone LH có liên quan đến sự thay đổi của việc 
MÃ PHẠM QUẾ MAI, LÊ LONG HỒ, PHẠM THIẾU QUÂN, HỒ MẠNH TƯỜNG, VƯƠNG THỊ NGỌC LAN
76
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
đáp ứng kích thích buồng trứng (5). Vì vậy, người 
nữ thuộc nhóm đáp ứng cận tối ưu có thể mang 
một trong những đa hình nucleotide nêu trên và 
cần liều gonadotropin cao hơn hoặc kích thích 
kéo dài, khác với dự đoán đáp ứng kích thích của 
họ dựa vào những dấu hiệu dự trữ buồng trứng.
Có hàng trăm biến thể (variants) hoặc vị trí 
đa hình đơn nucleotide phổ biến trên gen mã 
hóa FSHR đã được xác định. Trong đó, amino 
acid biến đổi nằm trên exon 10 tại vị trí 680 
từ Asparagine thành Serine (p.Asn680Ser) cho 
thấy có thể có liên quan đến sự suy giảm chức 
năng buồng trứng và ảnh hưởng đến hiệu quả 
của việc kích thích buồng trứng có kiểm soát đối 
với người nữ có chức năng buồng trứng bình 
thường (6). Hầu hết các nghiên cứu về vai trò 
của tính đa hình di truyền FSHR cho thấy trường 
hợp đồng hợp tử của biến thể Serine tại cùng 
vị trí 680 ở những bệnh nhân nữ có nồng độ 
FSH ban đầu cao hơn (7). Tuy nhiên, kết quả 
từ những nghiên cứu có sự mâu thuẫn, và sự 
phân tích tổng hợp các nghiên cứu trước đây thất 
bại trong việc khẳng định mối liên quan giữa 
tính đa hình Ans680Ser của gen FSHR với kết 
quả điều trị trong trường hợp quá kích buồng 
trứng có kiểm soát, nguyên nhân có thể là do 
cỡ mẫu không đủ lớn và quần thể dị hợp tử khá 
cao trong các nghiên cứu này (8). Thêm vào đó, 
từ việc nhìn nhận nhóm đáp ứng buồng trứng 
cận tối ưu có thể liên quan đến một sự biến đổi 
di truyền, chúng ta có thể có cái nhìn khác về 
các xét nghiệm dự đoán khả năng dự trữ buồng 
trứng, các xét nghiệm này chỉ có thể dự đoán 
khả năng dự trữ buồng trứng mà không đánh giá 
được sự nhạy của buổng trứng khi đáp ứng với 
kích thích (9). 
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá 
mối tương quan giữa tính đa hình gen FSHR và 
sự đáp ứng kích thích buồng trứng cận tối ưu trên 
nhóm phụ nữ thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm 
(In vitro fertilization - IVF). Thông qua một phương 
pháp nghiên cứu đáng tin cậy bởi việc sử dụng 
cùng một phác đồ kích thích buồng trứng cho 
cùng nhóm đối tượng được dự đoán là có đáp 
ứng bình thường, nghiên cứu hướng đến việc có 
thể xác định tần suất kiểu gen mã hóa FSHR trên 
quần thể bệnh nhân nữ hiếm muộn tại Việt Nam.
2. Đồi tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu 
Đây là một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu được 
thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng 07/2018. 
Tư vấn bệnh và thu nhận mẫu máu tại IVFMD, Đơn 
vị Hỗ trợ sinh sản, bệnh viện Mỹ Đức, Hồ Chí Minh. 
Mẫu máu sau thu nhận được phân tích di truyền tại 
Trung tâm nghiên cứu HOPE, bệnh viện Mỹ Đức.
Đối tượng nghiên cứu
Tổng cộng có 200 bệnh nhân ký đồng thuận 
tham gia vào nghiên cứu. Bệnh nhân nữ điều trị 
hiếm muộn tại bệnh viện Mỹ Đức tuổi từ 18-36, 
có chỉ số BMI khoảng 18-25kg/m2, thực hiện chu 
kỳ kích thích buồng trứng lần đầu cho IVF/ICSI và 
được chỉ định điều trị kich thich buồng trứng với liều 
150 IU rFSH kết hợp phác đồ GnRH antagonist. Và 
các chỉ số dự trữ buồng trứng nằm trong ngưỡng 
bình thường (1,1 ng/ml≤ AMH ≤4ng/ml và 9≤ 
AFC ≤20). Bệnh nhân có một trong các tiêu chí sau 
như hội chứng PCOS theo tiêu chuẩn Rotterdarm, 
có chỉ định IVM hoặc bất thường nội tiết sẽ bị loại 
khỏi nghiên cứu.
Phác đồ kích thích buồng trứng
Vào ngày thứ 2 hoặc thứ 3 của chu kỳ kinh 
nguyệt, tất cả bệnh nhân đều nhận liều tiêm recFSH 
150IU/ ngày trong suốt phác đồ. Từ ngày thứ 5 
của phác đồ, liều tiêm GnRH antagonist 0.25mg/
ngày bắt đầu. Ngay khi có ít nhất 3 nang noãn đạt 
≥17 mm, liều tiêm hCG 5000IU được sử dụng cho 
đạt trưởng thành noãn. 
Phân tích đa hình gen 
Sau tiêm hCG 36 giờ, vào ngày chọc hút, mỗi 
bệnh nhân sẽ được thu 1,5ml máu tĩnh mạch vào 
ống chứa chất chống đông EDTA cho phân tích tính 
đa hình gen FSHR. 
Sau đó DNA bộ gen được tách chiết bởi 
DNeasy blood and tissue extraction kit (Qiagen). 
Kiểu gen của gen mã hóa FSHR được phân tích 
bằng kỹ thuật qPCR và bộ mẫu dò thương mại 
TaqMan Genotyping assays (Life Technologies) 
cho vị trí đa hình đơn gen p.Asn680Ser (rs6166, 
C_2676874_10). 
Phân tích số liệu
Để phân loại nhóm đối tượng bệnh nhân trong 
nghiên cứu và lựa chọn kết quả để phân tích, phân 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
77
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 75 - 79, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
tích thống kê sẽ dựa trên phân loại nhóm đối tượng 
đáp ứng kích thích buồng trứng, phản ánh bởi số 
lượng noãn chọc hút được. Các biến liên tục sẽ 
được mô tả như trung bình, độ lệch chuẩn, trung 
vị, phương sai. Sử dụng so sánh Kruskal-Wallis cho 
các biến liên tục phụ thuộc vào sự phân phối chuẩn 
của kết quả, và kiểm định chi bình phương sẽ dùng 
phân tích các nhóm biến.
3. Kết quả
Dữ liệu của bệnh nhân được thu nhận vào 
nghiên cứu
Trong nghiên cứu, từ tháng 12/2016 đến tháng 
07/2018, tổng cộng có 200 bệnh nhân nữ điều 
trị thụ tinh trong ống nghiệm được tư vấn và đồng 
ý ký vào bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu. 
Đặc điểm nền bệnh nhân ghi nhận tất cả các tiêu 
chuẩn đều thỏa với tiêu chuẩn nhận và loại của 
nghiên cứu đề ra. Trong đó, tuổi trung bình của 
bệnh nhân khoảng 29,9 ± 3,6 tuổi với chỉ số BMI 
trung bình 20,4 ± 2,0 kg/m¬2. Các chỉ số dự trữ 
của nhóm bệnh nhân này đều nằm trong ngưỡng 
bình thường như AMH 4,2 ± 2,1 ng/ml và AFC là 
19,3 ± 20,1. Số noãn chọc hút được trung bình 
là 13,7 ± 6,2 noãn. Dựa trên số noãn chọc hút 
được, trong tổng 200 bệnh nhân này được phân 
loại thành 4 nhóm bệnh nhân theo khả năng đáp 
ứng kích thích buồng trứng, trong đó nhóm đáp 
ứng cận tối ưu (4-9 noãn) có 44 bệnh nhân (chiếm 
22%) (Bảng 1).
Tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 
trong nhóm bệnh nhân thực hiện IVF tại Việt Nam 
Tại vị trí SNP rs6166, sự thay đổi trình tự amino 
axit từ Asparagine (Asn) thành Serine (Ser) tại vị trí 
680 làm thay đổi cấu trúc FSHR trên màng tế bào, 
ảnh hưởng đến sự tương tác với FSH và các con 
đường truyền tín hiệu sử dụng FSH cho việc phát 
triển nang noãn. Trong nhóm 200 bệnh nhân tham 
gia nghiên cứu, kết quả ghi nhận được tần suất 
xuất hiện kiểu gen FSHR tại vị trí p.Asn680Ser gồm 
45,5% đồng hợ tử Asn/Asn, 45,0% dị hợp tử Asn/
Ser và 9,5% đồng hợp tử Ser/Ser (Biểu đồ 1). Đây 
là nghiên cứu đầu tiên thực hiện đánh giá tần suất 
kiểu gen FSHR tại Việt Nam.
Khi tiến hành phân tích đặc điểm nền của 3 
nhóm kiểu gen FSHR tại vị trí rs6166, kết quả cho 
Đặc điểm (n= 200) Trung bình ± độ lệch chuẩn
Tuổi bệnh nhân (năm) 29,9 ± 3,6
BMI (kg/m2) 20,4 ± 2,0
AMH (ng/ml) 4,2 ± 2,1
AFC 19,3 ± 20,1
Thời gian kích thích (ngày) 8,9 ± 1,3
Tổng liều FSH sử dụng (IU) 1449,8 ± 433,6
Số noãn thu được khi chọc hút (noãn) 13,7 ± 6,2
Tổng bệnh nhân thuộc từng nhóm đáp ứng 
nhóm đáp ứng cận tối ưu (người-%)
 Nhóm đáp ứng kém (0-3 noãn)
 Nhóm đáp ứng cận tối ưu (4-9 noãn)
 Nhóm đáp ứng bình thường (10-15 noãn)
 Nhóm đáp ứng cao (trên 15 noãn)
6 (3%)
44 (22%)
85 (42,5%)
65 (32,5%)
Bảng 1: Dữ liệu của bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu
Đặc điểm (n= 200) Asn/Asn(n=91)
Asn/Ser
(n=90)
Ser/Ser
(n=19) P-value
Tuổi bệnh nhân (năm) 29,9 ± 3,7 29,9 ± 3,6 29,6 ± 3,2 0,93
BMI (kg/m2) 20,4 ± 2,0 20,3 ± 1,9 21,4 ± 2,8 0,42
AMH (ng/ml) 4,2 ± 1,9 4,3 ± 2,3 3,5 ± 1,8 0,29
AFC 20,2 ± 20,5 19,1 ± 21,5 15,4 ± 4,3 0,66
Thời gian kích thích 
(ngày) 8,7 ± 1,2 9,0 ± 1,3 9,0 ± 1,6 0,34
Tổng liều FSH sử dụng 
(IU) 1402,8 ± 384,3 1483,3 ± 458,9 1515,8 ± 526,5 0,36
Số noãn thu được khi 
chọc hút (noãn) 14,3 ± 6,6 13,1 ± 5,9 13,2 ± 5,7 0,38
Bảng 2: So sánh đặc điểm nền của của bệnh nhân trong nghiên cứu giữa các kiểu gen FSHR 
tại vị trí SNP rs6166
Biểu đồ 1: Tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 trong nhóm bệnh nhân thực hiện IVF tại 
Việt Nam
Chú thích:Tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 gồm đồng hợp tử Asn/Asn(45,5%), dị hợp tử 
Asn/Ser (45,0%) và đồng hợp tử Ser/Ser (9,5%)
Biểu đồ 1: Tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 trong nhóm bệnh nhân thực hiện 
IVF tại Việt Nam 
Chú thích:Tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 gồm đồng hợp tử Asn/Asn(45,5%), dị 
hợp tử Asn/Ser (45,0%) và đồng hợp tử Ser/Ser (9,5%) 
Biểu đồ 2: Sự tương quan giữa đa hình gen FSHR tại vị trí SNPs rs6166 và sự đáp ứng kích 
thích buồng trứng 
 Chú thích: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm kiểu gen FSHR tại vị trí SNP 
rs6166 trong nhóm đáp ứng cận tối ưu (4-9 noãn). 
91 (45,.5%)
90 (45,0%)
19 (9,5%)
Asn/Asn
Asn/Ser
Ser/Ser
Biểu đồ 2: Sự tương quan giữa đa hình gen FSHR tại vị trí SNPs rs6166 và sự đáp ứng kích thích 
buồng trứng 
Chú thích: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 trong 
nhóm đáp ứng cận tối ưu (4-9 noãn).
Biểu đồ 1: Tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 trong nhóm bệnh nhân thực hiện 
IVF tại Việt Nam 
Chú thích:Tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 gồm đồng hợp tử Asn/Asn(45,5%), dị 
hợp tử Asn/Ser (45,0%) và đồng hợp tử Ser/Ser (9,5%) 
Biểu đồ 2: Sự tương quan giữa đa hình gen FSHR tại vị trí SNPs rs6166 và sự đáp ứng kích 
thích buồng trứng 
 Chú thích: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm kiểu gen FSHR tại vị trí SNP 
rs6166 trong nhóm đáp ứng cận tối ưu (4-9 noãn). 
91 (45,.5%)
90 (45,0%)
19 (9,5%)
Asn/Asn
Asn/Ser
Ser/Ser
MÃ PHẠM QUẾ MAI, LÊ LONG HỒ, PHẠM THIẾU QUÂN, HỒ MẠNH TƯỜNG, VƯƠNG THỊ NGỌC LAN
78
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
giữa 3 nhóm kiểu gen Asn/Asn, Asn/Ser và Ser/
Ser trong 200 bệnh nhân (Bảng 2).
Sự tương quan giữa đa hình gen FSHR tại vị trí 
SNPs rs6166 và sự đáp ứng kích thích buồng trứng
Nhóm đáp ứng cận tối (4-9 noãn chọc hút) ưu 
ghi nhận có 44 bệnh nhân (22%). Kết quả phân 
tích tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí p.Asn680Ser 
gồm 34,1% đồng hợp tử Asn/Asn, 61,4% dị hợp 
tử Asn/Ser và 4,5% đồng hợp tử Ser/Ser. Tỷ lệ dị 
hợp tử Asn/Ser cho thấy có sự xuất hiện cao hơn 
với hai kiểu gen còn lại ở nhóm đáp ứng cận tối 
ưu. Sự khác biệt này ghi nhận có ý nghĩa thống 
kê; trong đó, khi phân tích so sánh cho từng cặp 
kiểu gen đều thấy có sự khác biệt có ý nghĩa 
(Biểu đồ 2).
Kết quả không ghi nhận sự khác biệt về kiểu 
gen FHSR vị trí SNP rs6166 cho nhóm đáp ứng 
kém (0-3 noãn) bởi số bệnh nhân nhóm này trong 
nghiên cứu quá ít, chỉ có 6 bệnh nhân. Ở hai 
nhóm đáp ứng bình thường và đáp ứng cao, nhóm 
bệnh nhân có kiểu gen đồng hợp tử Asn/Asn có 
xu hướng cao hơn ở hai nhóm kiểu gen còn lại, 
lần lượt là 58,4% Asn/Asn ở nhóm đáp ứng bình 
thường (10-15 noãn) và 46,2% Asn/Asn ở nhóm 
đáp ứng cao (> 15 noãn) (Biểu đồ 2).
4. Thảo luận
Trong kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, kích 
thích buồng trứng luôn là bước quan trọng trong 
phác đồ điều trị hiếm muộn. Việc kích thích buồng 
trứng liên quan đến sử dụng gonadotropin như 
FSH nhằm kích thích sự phát triển các nang noãn 
nhờ vào sự tương tác giữa FSH và FSHR. Một vài 
Biểu đồ 3: Tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 giữa các quần thể người trong dự án 1000 
Genomes Project phase3 (Accession: PRJEB6930 trên NCBI) 
Chú thích: Sự khác biệt về tần suất các kiểu gen tại vị trí rs6166 giữa các nhóm chủng tộc khác nhau.
Biểu đồ 3: Tần suất kiểu gen FSHR tại vị trí SNP rs6166 giữa các quần thể người trong dự 
án 1000 Genomes Project phase3 (Accession: PRJEB6930 trên NCBI) 
Chú thích: Sự khác biệt về tần suất các kiểu gen tại vị trí rs6166 giữa các nhóm chủng tộc khác 
nhau. 
35.2% 30.4%
46.0% 45.5%
48.3%
49.5%
43.7% 45.0%
16.6% 20.2%
10.4% 9.5%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Dân số toàn cầu 
(n= 5008)
Châu Âu 
(n=1006)
Đông Nam Á 
(n= 1008)
Việt Nam 
(n= 200)
T
ần
 su
ất
 k
iể
u 
ge
n 
(%
)
Ser/Ser
Asn/Ser
Asn/Asn
nghiên cứu trước đó cho thấy tính đa hình gen 
mã hóa FSHR có ảnh hưởng đến đáp ứng kích 
thích buồng trứng của từng cá thể. Từ việc có thể 
xác định kiểu gen FSHR nào ảnh hưởng đến tỷ lệ 
đáp ứng buồng trứng sẽ giúp cho chiến lược sử 
dụng thuốc kích thích đúng liều cho từng cá thể, 
giúp cải thiện chất lượng điều trị (10).
FSHR thuộc nhóm thụ thể cặp protein G, nằm 
trên màng tế bào granulosa trong nang noãn, 
tương tác gắn với FSH. Trên cơ sở dữ liệu của dự 
án HapMap Database (
nih.gov) gần đây cho thấy có khoảng 900 SNPs 
đã được phát hiện trên gen FSHR. Tuy nhiên, hầu 
hết các nghiên cứu trước đây tập trung vào 4 
vị trí SNPs gồm 2 SNPs rs6166 (p.Asn680Ser), 
rs6165 (p.Ala307Thr) nằm trên exon 10 của 
gen FSHR và 2 SNPs khác là rs1394205 (c.-
29G>A), rs10385683 (c/-211G>T) nằm trên 
vùng promoter của gen FSHR. Trong đó, vị trí 
rs6166 cho thấy có thể là một biomarker dự đoán 
khả năng đáp ứng kích thích buồng trứng; đồng 
thời, các vị trí SNPs này có khả năng tác động 
kết hợp với nhau (11). Sau khi phân tích meta-
analysis gần đây trên 16 nghiên cứu cohort cho 
4287 bệnh nhân, nhóm tác giả đánh giá vị trí 
SNPs rs6166 (p.Asn680Ser) có thể là một chỉ thị 
di truyền tiềm năng cho việc dự đoán khả năng 
đáp ứng kích thích buồng trứng cho nhóm bệnh 
nhân Châu Á (12).
Trong một nghiên cứu meta-analysis vào năm 
2014 của Pabalan và cộng sự, kết quả cho thấy 
các nghiên cứu trước đó đều chỉ ra kiểu gen đồng 
hợp tử Ser có liên quan đến đáp ứng kích thích 
buồng trứng kém (8). Tuy nhiên, dữ liệu nghiên 
cứu mối liên quan giữa tính đa hình gen FSHR 
với nhóm đáp ứng cận tối ưu vẫn còn hạn chế. 
Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi có thể 
xem là kết quả đầu tiên nhằm đánh giá tần suất 
kiểu gen FSHR tại vị trí rs6166 trên người Việt 
Nam, cũng như đánh giá ảnh hưởng của tính đa 
hình gen FSHR trên nhóm đối tượng thực hiện IVF 
có đáp ứng buồng trứng cận tối ưu. Điều này có 
thể là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm 
phát hiện các biến thể di truyền là các biomarker 
tiềm năng liên quan đến các bệnh lý hoặc nguyên 
nhân ảnh hưởng đến kết cục điều trị trong lĩnh vực 
hỗ trợ sinh sản.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
79
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 75 - 79, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
Kết quả tần suất kiểu gen FSHR vị trí rs6166 
trong 200 bệnh nhân tham gia nghiên cứu cũng 
cho thấy sự tương đồng với kết quả trong dự 
án 1000 Genomes Project phase3 (Accession: 
PRJEB6930 trên NCBI). Trong dự án này, cho thấy 
có sự khác biệt về tần suất các kiểu gen tại vị trí 
rs6166 giữa các nhóm chủng tộc khác nhau. Điều 
thú vị là tỷ lệ đồng hợp tử Ser ở quần thể người 
Đông Nam Á thấp hơn so với quần thể người Châu 
Âu (10,4% so với 20,2%). Bên cạnh đó, kiểu gen 
đồng hợp tử Ser chiếm tỷ lệ thấp nhất trong quần 
thể người Việt Nam (4,5%) và ở người Đông Nam 
Á (10,4%). Điều này cho thấy tần suất kiểu gen vị 
trí rs6166 ở người Việt Nam cũng khá tương đồng 
với nhóm quần thể người Đông Nam Á (Biểu đồ 3).
5. Kết luận
Tần suất tính đa hình gen thị thể của vị trí rs6166 
(p.Asn680Ser) trong nhóm bệnh nhân làm IVF của 
nghiên cứu này gồm 45% đồng hợp tử Asn (wild-
type), 45,4% dị hợp tử Asn/Ser và 9,5% đồng hợp 
tử Ser. Bên cạnh đó, bệnh nhân có kiểu gen dị hợp 
tử Asn/Ser có tỷ lệ cao nhất trong nhóm đáp ứng 
buồng trứng cận tối ưu, theo sau là đồng hợp Asn/
Asn và Ser/Ser. 
Tài liệu tham khảo
1. Ferraretti A, La Marca A, Fauser B, Tarlatzis B, Nargund G, Gianaroli 
L, et al. ESHRE consensus on the definition of ‘poor response'to 
ovarian stimulation for in vitro fertilization: the Bologna criteria. Human 
reproduction. 2011;26(7):1616-24.
2. Sunkara SK, Rittenberg V, Raine-Fenning N, Bhattacharya S, 
Zamora J, Coomarasamy A. Association between the number of eggs 
and live birth in IVF treatment: an analysis of 400 135 treatment cycles. 
Human reproduction. 2011;26(7):1768-74.
3. Polyzos N, Sunkara S. Sub-optimal responders following controlled ovarian 
stimulation: an overlooked group? Human Reproduction. 2015;30(9):2005-8.
4. Drakopoulos P, Blockeel C, Stoop D, Camus M, de Vos M, Tournaye 
H, et al. Conventional ovarian stimulation and single embryo transfer 
for IVF/ICSI. How many oocytes do we need to maximize cumulative 
live birth rates after utilization of all fresh and frozen embryos? Human 
reproduction. 2016;31(2):370-6.
5. Alviggi C, Pettersson K, Longobardi S, Andersen CY, Conforti A, De 
Rosa P, et al. A common polymorphic allele of the LH beta-subunit gene 
is associated with higher exogenous FSH consumption during controlled 
ovarian stimulation for assisted reproductive technology. Reproductive 
Biology and Endocrinology. 2013;11(1):51.
6. Simoni M, Tempfer C, Destenaves B, Fauser B. Functional genetic 
polymorphisms and female reproductive disorders: Part I: Polycystic 
ovary syndrome and ovarian response. Human reproduction update. 
2008;14(5):459-84.
7. Yao Y, Ma C-h, Tang H-l, Hu Y-f. Influence of follicle-stimulating 
hormone receptor (FSHR) Ser680Asn polymorphism on ovarian function 
and in-vitro fertilization outcome: a meta-analysis. Molecular genetics 
and metabolism. 2011;103(4):388-93.
8. Pabalan N, Trevisan CM, Peluso C, Jarjanazi H, Christofolini 
DM, Barbosa CP, et al. Evaluating influence of the genotypes in the 
follicle-stimulating hormone receptor (FSHR) Ser680Asn (rs6166) 
polymorphism on poor and hyper-responders to ovarian stimulation: a 
meta-analysis. Journal of ovarian research. 2014;7(1):285.
9. Mohiyiddeen L, Newman WG, McBurney H, Mulugeta B, Roberts SA, 
Nardo LG. Follicle-stimulating hormone receptor gene polymorphisms 
are not associated with ovarian reserve markers. Fertility and sterility. 
2012;97(3):677-81.
10. Wunsch A, Sonntag B, Simoni M, editors. Polymorphism of the 
FSH receptor and ovarian response to FSH. Annales d'endocrinologie; 
2007: Elsevier.
11. Simoni M, Casarini L. Mechanisms in endocrinology: genetics 
of FSH action: a 2014-and-beyond view. European journal of 
endocrinology. 2014;170(3):R91-R107.
12. Tang H, Yan Y, Wang T, Zhang T, Shi W, Fan R, et al. Effect 
of follicle-stimulating hormone receptor Asn680Ser polymorphism on 
the outcomes of controlled ovarian hyperstimulation: an updated meta-
analysis of 16 cohort studies. Journal of assisted reproduction and 
genetics. 2015;32(12):1801-10.

File đính kèm:

  • pdfmoi_tuong_quan_giua_da_hinh_gen_thu_the_fsh_va_dap_ung_kich.pdf