Mối tương quan giữa các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở người Việt Nam bình thường
Đặt vấn đề: Gãy xương gót khá phổ biến, chiếm 2% tất cả các trường hợp gãy xương và 60% các trường
hợp chấn thương vùng cổ chân. Trong đó gãy di lệch mặt khớp sên sau chiếm 75%. Để hỗ trợ chẩn đoán, điều trị,
tiên lượng kết quả, các góc xương gót trên phim X-quang đại diện cho diện khớp sên sau đã được mô tả trong y
văn. Có sự khác nhau về giá trị bình thường của các góc xương gót giữa các dân tộc do đó mỗi quốc gia cần có
những chỉ số riêng của mình. Đồng thời cần xác định mối tương quan giữa các góc để có nhiều phương án lựa
chọn hơn cho các bác sĩ lâm sàng khi điều trị.
Bạn đang xem tài liệu "Mối tương quan giữa các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở người Việt Nam bình thường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối tương quan giữa các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở người Việt Nam bình thường
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 114 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC GÓC XƯƠNG GÓT ĐẠI DIỆN CHO DIỆN KHỚP SÊN SAU Ở NGƯỜI VIỆT NAM BÌNH THƯỜNG Phạm Đình Dũng1, Hoàng Đức Thái1 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Gãy xương gót khá phổ biến, chiếm 2% tất cả các trường hợp gãy xương và 60% các trường hợp chấn thương vùng cổ chân. Trong đó gãy di lệch mặt khớp sên sau chiếm 75%. Để hỗ trợ chẩn đoán, điều trị, tiên lượng kết quả, các góc xương gót trên phim X-quang đại diện cho diện khớp sên sau đã được mô tả trong y văn. Có sự khác nhau về giá trị bình thường của các góc xương gót giữa các dân tộc do đó mỗi quốc gia cần có những chỉ số riêng của mình. Đồng thời cần xác định mối tương quan giữa các góc để có nhiều phương án lựa chọn hơn cho các bác sĩ lâm sàng khi điều trị. Mục tiêu: Xác định số đo các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở người Việt Nam bình thường và khảo sát sự tương quan của chúng với nhau. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Chúng tôi tiến hành chụp 128 phim X-quang xương gót nghiêng của người tình nguyện tham gia nghiên cứu tại khoa Chẩn đoán hình ảnh của bệnh viện Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó tiến hành đo các chỉ số góc: Bohler, Gissane, góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau bằng phần mềm efilm 3.1. Đồng thời khảo sát sự tương quan giữa chúng với tuổi, chiều cao, giới tính, vị trí hai chân và giữa các góc xương gót với nhau. Kết quả: Số đo góc Bohler trung bình là: 33,80±4,20, phạm vi từ 260-430. Số đo góc Gissane trung bình là:116,60±5,30, phạm vi từ 1010-1280. Số đo góc lún xương gót trung bình là:32,90±3,30, phạm vi từ 250-430. Số đo góc nghiêng diện khớp sên sau trung bình là:62,70±5,70, phạm vi từ 470-780. Không có sự khác biệt giữa hai giới, hai bên phải trái, hai nhóm tuổi. Không có mối tương quan với chiều cao và tuổi. Có mối tương quan thuận giữa các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau. Kết luận: Số đo các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở mỗi dân tộc đều có sự khác nhau. Đồng thời tồn tại mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa các góc này, do đó các bác sĩ lâm sàng sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn trong quá trình chẩn đoán và điều trị. Từ khóa: xương gót, góc Bohler, góc Gissane, góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau ABSTRACT THE RELATIONSHIP BETWEEN THE CALCANEAL ANGLES REPRESENTATIVES FOR THE POSTERIOR FACET IN NORMAL VIETNAMESE PEOPLE Pham Dinh Dung, Hoang Duc Thai * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 114 - 121 Background: Calcaneal fractures are quite common, accounting for 2% of all fractures and 60% of all ankle injuries. In which, posterior facet fractures of the calcaneus accounts for 75%. To support diagnosis, treatment, and prognosis results, the calcaneal angles on X-ray film representing the posterior facet have been described in the literature. There are differences in the normal values of the calcaneal angles between ethnic groups so each country needs its own indicators. At the same time, it is necessary to determine the correlation between the angles to have more options for clinicians to treat. Objective: Determine the measurements of the calcaneal angles representing the posterior facet in normal 1Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: BS. Phạm Đình Dũng ĐT: 0385693738 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 115 Vietnamese people and examine their correlation with each other. Methods: Cross-sectional study. We conducted 128 X-rays of the lateral calcaneus of the volunteers participating in the research at the Department of Diagnostic Imaging of the Hospital of Traumatic and Orthopedic in Ho Chi Minh city. Then, measuring angles: Bohler, Gissane, calcaneal compression angle, facet inclination angle by efilm 3.1 software. At the same time, investigating the correlation between them with age, height, sex, position of the legs and between the calcaneal angles. Results: The mean of Bohler angle is 33.80 ± 4.20, range from 260 to 430. The mean of Gissane angle is 116.60 ± 5.30, range from 1010 to 1280. The mean of the calcaneal compression angle is 32.90 ± 3.30, range from 250 to 430. The mean of the facet inclination angle is 62.70 ± 5.70, range from 470 to 780. There is no difference between the sexes, left and right, two age groups. There was no correlation with height and age. There is a positive correlation between the calcaneal angles representing the posterior facet. Conclusions: The measurements of the calcaneal angles representing the posterior facet in each ethnic group are different. At the same time, there is a statistically significant correlation between these angles, so clinicians will have more choices during diagnosis and treatment. Keywords: calcaneus, Bohler angle, Gissane angle, calcaneal compression angle, facet inclination angle ĐẶT VẤN ĐỀ Gãy xương gót khá phổ biến, chiếm 2% tất cả các trường hợp gãy xương và 60% các trường hợp chấn thương vùng cổ chân(1). Trong đó gãy di lệch mặt khớp chiếm từ 60% đến 75%(2). Số đo các góc xương gót trên phim X - quang đã được mô tả nhiều trong y văn và các bài báo về sự tăng trưởng cũng như sự khác nhau giữa các chủng tộc liên quan đến việc chẩn đoán và điều trị. Hiện nay dù đã có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại nhưng X - quang quy ước vẫn còn được dùng nhiều nhất và là chỉ định đầu tiên cũng như thường quy trong các trường hợp nghi ngờ gãy xương gót hay có các biến dạng của vùng cổ - bàn chân. Trong đó sự bất thường của các góc xương gót là chỉ số được sử dụng nhiều nhất trên lâm sàng. Để giúp chẩn đoán gãy xương gót, xác định mức độ di lệch, đặt mục tiêu để nắn chỉnh, phẫu thuật và tiên lượng kết quả, các góc xương gót thường được sử dụng như: góc Bohler, góc Gissane, góc nghiêng xương gót, góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau. Khi gãy xương gót, số đo góc Bohler và góc Gissane thường giảm dưới giá trị bình thường(3), giá trị này có độ đặc hiệu lên đến 99% để chẩn đoán(4), số đo góc Bohler dưới 150 thường có chỉ định phẫu thuật nắn chỉnh(5). Việc đánh giá sai về giới hạn các góc này thường dẫn đến việc chẩn đoán và điều trị gãy xương gót bị thiếu sót hoặc quá mức(6). Có sự khác biệt về số đo các góc xương gót giữa các chủng tộc. Do đó mỗi chủng tộc nên có những chỉ số riêng của mình, đồng thời cần xác định được mối tương quan về số đo các góc với tuổi, giới tính và vị trí hai bên cơ thể. Vì vậy, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu giá trị bình thường của các góc này trên những chủng tộc khác nhau. Kết quả đều có sự khác nhau giữa các nghiên cứu. Chính tác giả Bohler đã đưa ra giá trị “góc củ” bình thường từ 300 - 350, còn trong một số nghiên cứu khác, giá trị góc Bohler có phạm vi thay đổi khác nhau, ví dụ như của người Ấn Độ là 180 - 430, người Ai Cập là 220 - 400, người Croatia là 210 - 460(6,7,8) Giá trị góc Gissane cũng khác nhau ở các nghiên cứu, của người Ai Cập là 1080 - 1380, người Thổ Nhĩ Kỳ là 1000 - 1330(8,9)... Một vài tác giả còn khảo sát sự khác nhau của các góc xương gót giữa hai giới tính, giữa các nhóm tuổi, giữa hai chân cũng như sự tương quan của các góc xương gót với tuổi và chiều cao cơ thể(10,11). Hiện tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu khảo sát số đo bình thường của các góc xương gót trên phim X - quang nghiêng. Xuất phát từ các vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 116 này nhằm đưa ra cơ sở cho các bác sĩ lâm sàng trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu 128 phim X-quang xương gót nghiêng bình thường của người tình nguyện tuổi từ 20-60 đến chụp tại khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh (12/2019-06/2020). Tiêu chuẩn chọn mẫu Người Việt Nam tham gia chụp X - quang xương gót tại bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi: từ 20 - 60. Tiêu chuẩn loại trừ Về mặt hình thái: những người phát triển không bình thường có dị dạng, dị tật bẩm sinh (gù vẹo, hội chứng Down), có chấn thương hoặc biến dạng ở vùng cổ, bàn chân ở hai chân. Về bệnh tật: đối tượng được chụp mắc những chứng bệnh cấp tính cần điều trị hoặc làm trở ngại cho việc lấy số liệu (vết thương chảy máu) hoặc những bệnh mãn tính làm giảm sút thể chất (lao cột sống, viêm xương, ung thư). Các phim X - quang chụp xương gót không đúng tư thế. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Phương pháp thực hiện Các góc xương gót (góc Bohler, góc Gissane, góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau) được đo bằng phần mềm efilm 3.1. Góc Bohler được tạo bởi giao điểm của hai đường thẳng với đường thẳng thứ nhất đi qua điểm cao nhất của mỏm trước xương gót và điểm cao nhất của diện khớp sau xương gót, đường thẳng thứ thứ hai đi qua điểm cao nhất của củ gót và điểm cao nhất của diện khớp sau xương gót. Góc Gissane được tạo bởi giao điểm của hai đường thẳng tiếp tuyến với hệ thống bè xương dày của diện khớp sên trước và diện khớp sên sau. Góc lún xương gót được tạo bởi giao điểm của đường thẳng đi qua điểm thấp nhất củ gót và điểm thấp nhất mỏm trước xương gót, đường thẳng thứ hai đi qua điểm cao nhất của mỏm trước xương gót và điểm cao nhất của diện khớp sau xương gót. Góc nghiêng diện khớp sên sau là góc được tạo bởi giao điểm của hai đường thẳng, đường thẳng thứ nhất đi qua điểm cao nhất của diện khớp sau xương gót và điểm cao nhất củ gót, đường thẳng thứ hai tiếp tuyến với diện khớp sên sau xương gót. Hình 1: Đo các góc xương gót trên phim X-quang nghiêng bằng phần mềm efilm 3.1 Phân tích số liệu Kết quả được mã hoá, phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 14.0. Sử dụng phép kiểm T-student để khảo sát sự khác biệt về mặt thống kê của các chỉ số đo. Kết quả được trình bày nghiên cứu bằng Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 117 Word 2016 dưới dạng bảng, biểu đồ và hình. KẾT QUẢ Từ tháng 12/2019 đến tháng 6/2020, chúng tôi đã thực hiện tiến hành nghiên cứu trên 128 phim X-quang xương gót nghiêng tại khoa Chẩn đoán hình ảnh – bệnh viện Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh. Đặc điểm mẫu nghiên cứu 0 5 1 0 1 5 2 0 2 5 3 0 3 5 4 0 T ầ n s u ấ t (% ) 20 25 30 35 40 45 50 55 60 Tuổi (năm) Hình 2: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu Độ tuổi trung bình của toàn mẫu là 40,8 (tuổi). Giới hạn trên và dưới của tuổi được chọn theo phương pháp chọn mẫu đã được quy ước từ ban đầu. 1 4 0 1 5 0 1 6 0 1 7 0 1 8 0 C h iề u c a o ( cm ) Hình 3: Chiều cao trung bình của mẫu nghiên cứu Chiều cao trung bình của người tham gia nghiên cứu trong toàn mẫu là 161,5 cm. Các chỉ số góc xương gót Sự biến thiên của góc Bohler từ 29,60 đến 38,00; góc Gissane từ 108,30 đến 119,00; góc lún xương gót từ 29,60 đến 36,20; góc nghiêng diện khớp sên sau từ 56,90 đến 68,40 (Bảng 1). Bảng 1: Số đo các góc xương gót của người Việt Nam Các góc xương gót Số đo góc (độ) TB ĐLC Min Max Góc Bohler 33,8 4,2 26 43 Góc Gissane 113,6 5,3 101 128 Góc lún xương gót 32,9 3,3 25 43 Góc nghiêng diện khớp sên sau 62,7 5,7 37 76 Bảng 2: So sánh số đo các góc xương gót theo giới tính Các góc xương gót Nam (n = 64) Nữ (n = 64) Giá trị p TB ĐLC (Min – Max) (độ) TB ĐLC (Min – Max) (độ) Góc Bohler 34,2 4,0 (26 - 42) 33,4 4,3 (26 - 43) 0,32 Góc Gissane 113,5 6,1 (101 - 128) 113,7 4,5 (103 - 125) 0,82 Góc lún xương gót 33,1 3,1 (26 - 39) 32,7 3,5 (25 - 43) 0,45 Góc nghiêng diện khớp sên sau 62,9 6,1 (47 - 78) 62,5 5,4 (51 - 74) 0,71 Cả 4 góc xương gót đều có sự biến thiên giá trị trung bình ở nữ lớn hơn nam. Và tất cả số đo đều không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới tính (p >0,05) (Bảng 2). Bảng 3: So sánh số đo các góc xương gót theo vị trí phải trái Các góc xương gót Bên phải (n=64) Bên trái (n=64) Giá trị p TB ĐLC (Min - Max) (độ) TB ĐLC (Min - Max) (độ) Góc Bohler 33,6 3,9 (26 - 42) 34,1 4,4 (26 - 43) 0,51 Góc Gissane 112,7 4,5 (103 - 125) 114,5 5,9 (101 - 128) 0,06 Góc lún xương gót 33,1 3,5 (25 - 43) 32,6 3,1 (26 - 39) 0,39 Góc nghiêng diện khớp sên sau 62,0 5,5 (51 - 73) 63,4 5,9 (47 - 78) 0,17 Góc Bohler, góc Gissane, góc nghiêng diện khớp sên sau có sự biến thiên giá trị trung bình ở bên trái lớn hơn bên phải, còn góc lún xương gót thì ngược lại Khi khảo sát sự khác biệt về giá trị số đo các góc xương gót giữa hai bên thì tất cả các góc đều không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai chân (p >0,05) (Bảng 3). Sự biến thiên giá trị trung bình của góc Bohler ở nhóm tuổi 20-40 lớn hơn nhóm 41 - 60. Còn góc lún xương gót và góc nghiêng diện Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 118 khớp sên sau thì ngược lại. Chỉ có góc Gissane có sự biến thiên số đo góc giữa hai nhóm tuổi như nhau. Tất cả các góc đều không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm tuổi (p >0,05) (Bảng 4). Bảng 4: So sánh số đo các góc xương gót theo nhóm tuổi Các góc xương gót Nhóm tuổi 20 - 40 (n=64) Nhóm tuổi 41 - 60 (n=64) Giá trị p TB ĐLC (Min - Max) (độ) TB ĐLC (Min - Max) (độ) Góc Bohler 33,5 4,3 (26 - 43) 34,1 4,0 (26 - 42) 0,36 Góc Gissane 112,9 5,3 (101 - 128) 114,4 5,3 (102 - 125) 0,10 Góc lún xương gót 32,7 3,2 (26 - 43) 33,1 3,4 (25 - 39) 0,56 Góc nghiêng diện khớp sên sau 62,9 6,1 (47 - 78) 62,5 5,4 (51 - 74) 0,67 Bảng 5: Mối tương quan giữa các góc xương gót với tuổi Góc (Y) Chỉ số (X) p r Biểu thức hồi qui Góc Bohler Tuổi 0,78 0,02 Không tương quan Góc Gissane Tuổi 0,10 0,15 Không tương quan Góc lún xương gót Tuổi 0,95 0,01 Không tương quan Góc nghiêng diện khớp sên sau Tuổi 0,53 - 0,06 Không tương quan Không có mối tương quan tuyến tính giữa góc Bohler, góc Gissane, góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau với tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi (p >0,05) (Bảng 5). Bảng 6: Mối tương quan giữa các góc xương gót với chiều cao Góc (Y) Chỉ số (X) p r Biểu thức hồi qui Góc Bohler Chiều cao 0,78 0,02 Không tương quan Góc Gissane Chiều cao 0,10 0,15 Không tương quan Góc lún xương gót Chiều cao 0,95 0,01 Không tương quan Góc nghiêng diện khớp sên sau Chiều cao 0,53 - 0,06 Không tương quan Không có mối tương quan tuyến tính giữa góc Bohler, góc Gissane, góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau với chiều cao trong nghiên cứu của chúng tôi (p >0,05) (Bảng 6). Có mối tương quan thuận mạnh có ý nghĩa thống kê (r >05 và p <0,05) giữa góc Bohler và góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau (Bảng 7). Bảng 7: Mối tương quan giữa các góc xương gót với nhau Các góc xương gót Giá trị p - Hệ số tương quan r Góc Bohler Góc Gissane Góc lún xương gót Góc Gissane 0,00 0,28 Góc lún xương gót 0,00 0,53 0,55 0,05 Góc nghiêng diện khớp sên sau 0,00 0,65 0,02 -0,20 0,00 0,33 BÀN LUẬN Trong tất cả các chỉ số góc xương gót được khảo sát, thì có lẽ góc Bohler được biết đến nhiều nhất và được sử dụng nhiều nhất trên lâm sàng. Số đo góc Bohler sẽ giảm xuống dưới mức bình thường, thậm chí bằng 0 hoặc âm khi có gãy xương gót, đặc biệt khi gãy xương gót phạm khớp(12). Một trong những mục tiêu khi phẫu thuật hoặc điều trị bảo tồn gãy xương gót là phục hồi số đo góc Bohler về mức bình thường của nó(2,13). Chúng tôi nhận thấy hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có số đo góc Bohler bình thường khác với người Việt Nam và mức khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Vì vậy việc nghiên cứu và đưa ra trị số bình thường của góc Bohler ở mỗi quốc gia là điều cần làm. Bảng 8: So sánh số đo góc Bohler trong nghiên cứu của chúng tôi so với một số nghiên cứu khác Tác giả Năm Chủng tộc Trung bình Giá trị p Sengodan VC 2012 Ấn Độ 30,62 0 0,00 Shoukry FA 2012 Ai Cập 30,14 0 0,00 Willmott H 2012 Anh 36,48 0 0,00 Rokaya P 2016 Nepal 31,3 0 0,00 Katchy A 2018 Nigeria 32,58 0 0,04 Zhi-jian Ma 2019 Trung Quốc 31,6 0 0,00 Chúng tôi 2020 Việt Nam 33,8 0 Phổ biến thứ hai sau góc Bohler, góc Gissane là một chỉ số thường được dùng trên lâm sàng để đánh giá các trường hợp gãy xương gót phạm khớp hoặc khi có nghi ngờ gãy xương. Số đo góc Gissane tăng trên giá trị bình thường gợi ý có gãy xương gót phạm khớp với lún diện khớp Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 119 sên sau(12). Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá trị trung bình của góc Gissane có sự khác biệt so với số đo góc Gissane trong nghiên cứu của tác giả Segodan VC (2012) cũng như trong nghiên cứu của tác giả Shoukry FA (2012), cụ thể số đo góc trung bình của góc Gissane đo được ở người Việt Nam nhỏ hơn ở người Ấn Độ và người Ai Cập(7,8). Và sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Bảng 9: So sánh số đo góc Gissane trong nghiên cứu của chúng tôi so với một số nghiên cứu khác Tác giả Năm Chủng tộc Trung bình Giá trị p Sengodan VC 2012 Ấn Độ 126,79 0 0,00 Shoukry FA 2012 Ai Cập 122,92 0 0,00 Chúng tôi 2020 Việt Nam 113,6 0 Góc Gissane ít được dùng hơn góc Bohler trên lâm sàng, mặc dù phản ánh được sự sụp diện khớp sau khi gãy xương gót có phạm khớp, tuy nhiên các mốc để đo thường khó xác định hơn so với góc Bohler, nên có lẽ đây là lí do nó ít được dùng trên lâm sàng hơn so với góc Bohler. Mặc dù có sự liên quan của góc Gissane với diện khớp dưới sên khi gãy xương gót nhưng không có nghiên cứu nào được tìm thấy chứng minh có mối tương quan giữa góc Gissane và kết quả chức năng lâu dài sau khi điều trị(14). Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá trị bình thường của góc lún xương gót nằm trong phạm vi từ 250 đến 430 với giá trị trung bình là 32,90. Góc lún xương gót sẽ thay đổi giá trị khi có gãy xương gót, cụ thể số đo góc sẽ giảm xuống khi có gãy xương gót phạm khớp. Nghiên cứu của tác giả Shoukry FA (2013) số đo góc lún xương gót trung bình mà tác giả đo được trên người Ai Cập là 30,670 với phạm vi từ 240 đến 360. Trong một số y văn trước đây mà tác giả tham khảo thì góc này dao động từ 180 đến 420 với giá trị trung bình là 360. Các kết quả này đều có sự khác biệt khi so sánh với số đo góc lún xương gót ở người Việt Nam, đây chính là sự khác biệt về số đo góc giữa các dân tộc khác nhau trên thế giới. Ngoài vai trò như là một phương pháp thay thế cho góc Bohler để đáng giá gãy xương gót phạm khớp, đặc biệt là khi gãy xương gót có lún và xoay mỏm trên của củ gót thì góc lún xương gót còn đại diện cho chiều cao xương gót và do đó khi gãy nát hoặc gãy xương gót nhiều mảnh thì số đo góc sẽ giảm xuống dưới mức bình thường(8). Số đo góc nghiêng diện khớp sên sau trong nghiên cứu của chúng tôi là từ 470 đến 780, với giá trị trung bình là 62,70. Tương tự như góc Bohler, góc nghiêng diện khớp sên sau được dùng để đánh giá tình trạng gãy xương gót có kèm lún diện khớp sên sau. So với giá trị góc nghiêng diện khớp sên sau trong nghiên cứu của tác giả Sarrafian SK (1993), ông đã đã đưa ra giới hạn số đo góc nghiêng diện khớp sên sau là 550 đến 750 với giá trị trung bình là 650, thì kết quả số đo góc trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi có giá trị nhỏ hơn nhưng phạm vi rộng hơn(15). Sau đó vào năm 2007, trong một nghiên cứu của tác giả Schepers T cũng đã đưa ra kết luận rằng số đo góc nghiêng diện khớp sên sau trung bình ở xương gót bình thường là 660 và ở bên chân có gãy xương gót là 540(16). Đồng thời nghiên cứu của chúng tôi cũng kết luận rằng, không có sự khác biệt về số đo các góc xương gót giữa hai chân (p >0,05). Điều này cũng tương đồng với các nghiên cứu trước đây(17,18,19). Vì vậy số đo các góc xương gót bình thường ở chân đối diện hoàn toàn có thể được dùng như một tiêu chuẩn để nắn chỉnh xương gót bị gãy ở chân bệnh để đạt được các mốc giải phẫu bình thường(10,20). Vấn đề được đặt ra là trong trường hợp gãy xương gót cả hai bên thì giá trị các góc xương gót để làm mục tiêu để nắn chỉnh là bao nhiêu. Trong nghiên cứu của tác giả Khoshhal KI (2004)(10) và cả trong nghiên cứu của chúng tôi đều cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về giá trị các góc xương gót ở các nhóm tuổi (p >0,05). Vì vậy sử dụng thông tin về số đo góc xương gót trên phim X-quang đã được chụp trước đó của bệnh nhân để làm tiêu chuẩn cho phẫu thuật cũng là một phương án nên được xem xét để chọn lựa. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 120 Ngoài ra có thể sử dụng số đo các góc xương gót trong giới hạn bình thường làm mục tiêu để nắn chỉnh hoặc phẫu thuật. Bởi vì số đo các góc đều có sự khác nhau giữa các chủng tộc cho nên mỗi quốc gia cần có giá trị riêng của mình. Một số tác giả sử dụng giới hạn bình thường dưới còn một số tác giả khác lại sử dụng giá trị trung bình của chúng để làm mục tiêu phẫu thuật cũng như điều trị bảo tồn và tiên lượng kết quả phục hồi sau điều trị(18). Trong nghiên cứu của chúng tôi, sư khác biệt về số đo các góc xương gót giữa hai giới tính là không có ý nghĩa thống kê (p >0,05), ngay cả khi so sánh số đo góc giữa hai giới tính theo nhóm tuổi cũng không có sự khác biệt, điều này cũng tương đồng với các nghiên cứu trước đây. Trong nghiên cứu của tác giá Alabi A (2020) ông đã nghiên cứu sử dụng giá trị góc Bohler để phân biệt giới tính nam và nữ nhưng kết quả không có sự khác biệt về số đo góc này giữa hai giới nên không thể dùng góc Bohler để phân biệt giới tính (p >0,05)(21). Việc nắn chỉnh góc Bohler không đủ hoặc quá mức, thường dẫn tới kết quả phục hồi mặt khớp kém, dẫn đến đau mạn tính hoặc thoái hóa khớp dưới sên(3). Bên cạnh đó, giá trị góc Bohler còn được dùng để tiên lượng, theo dõi kết quả điều trị sau phẫu thuật, đồng thời cũng là một biến số được dùng để đánh giá kết quả chức năng sau phẫu thuật gãy xương gót(14). Theo kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi, tồn tại mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa các góc xương gót, đặc biệt giữa góc Bohler và góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau (r >0,5 và p <0,05). Điều này giúp cho các bác sĩ lâm sàng có được nhiều sự lựa chọn các chỉ số góc hơn trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. KẾT LUẬN Số đo các góc xương gót trên phim X – quang: Góc Boher: 33,80 (phạm vi: 260 - 430). Góc Gissane: 113,60 (phạm vi: 1010 - 1280). Góc lún xương gót: 32,90 (phạm vi: 250 - 430). Góc nghiêng diện khớp sên sau: 62,70 (phạm vi: 470 - 780). Mối tương quan giữa các góc xương gót với tuổi, chiều cao cơ thể và giữa các góc xương gót với nhau. Sự khác nhau của các góc xương gót giữa các nhóm tuổi, vị trí phải trái, giới tính. Tất cả các góc xương gót đều không có mối tương quan với tuổi và chiều cao cơ thể. Các góc biểu diễn sự bình thường của diện khớp sên sau: Góc Bohler, góc Gissane, góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau đều có mối tương quan thuận với nhau. Không có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê của các số đo góc xương gót giữa các nhóm tuổi, vị trí phải trái, giới tính. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ramachandran RSS (2015). Assessment of Bohler’s and Gissane’s angles of the calcaneum in a group of South Indian population — a radiological study. Int J Curr Res Rev, 7(15):17– 20. 2. Clare MP, Sanders RW (2015). Calcaneus Fractures. In: Court- Brown Charles M, Rockwood And Green’s Fractures In Adults. 8 ed. pp. 2639 -2685. Wolters Kluwer. 3. Davis D, Seaman TJ, Newton EJ (2020). Calcaneus Fractures. URL: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK430861/. 4. Kwon JY, Zurakowski D, Ellington JK (2015). Influence of contralateral radiographs on accuracy of anatomic reduction in surgically treated calcaneus fractures. Foot Ankle Int, 36(1):75-82. 5. Gonzalez TA, Ehrlichman LK, Macaulay AA, Gitajn IL, et al (2016). Determining Measurement Error for Bohler's Angle and the Effect of X-Ray Obliquity on Accuracy. Foot Ankle Spec, 9(5):409-416. 6. Simunovic M, Nizic D, Pervan M, Rados M, et al (2019). The physiological range of the Bohler's angle in the adult Croatian population. Foot Ankle Surg, 25(2):174-179. 7. Sengodan VC, Amruth KH, Karthikeyan (2012). Bohler's and Gissane Angles in the Indian Population. Journal of Clinical Imaging Science, doi: 10.4103/2156-7514.104310. 8. Shoukry FA, Aref YK, Sabry AAE (2012). Evaluation of the normal calcaneal angles in Egyptian population. Alexandria Journal of Medicine, 48(2):91-97. 9. Seyahi A, Uludag S, Koyuncu LO, Atalar AC, et al (2009). The calcaneal angles in the Turkish population. Acta Orthop Traumatol Turc, 43(5):406-411. 10. Khoshhal KI, Ibrahim AF, Al-Nakshabandi NA, Zamzam MM, et al (2004). Bohler's and Gissane's angles of the calcaneus in the Saudi population. Saudi Med J, 25(12):1967-1970. 11. Willmott H, Stanton J, Southgate C (2012). Bohler's angle - What is normal in the uninjured British population? Foot Ankle Surg, 18(3):187-189. 12. White EA, Skalski MR, Matcuk GRJr, Heckmann N, et al (2019). Intra-articular tongue-type fractures of the calcaneus: anatomy, injury patterns, and an approach to management. Emerg Radiol, 26(1):67-74. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 121 13. Jennings MM, Schuberth JM (2013). Calcaneal Fractures. In: Southerland Job T, Comprehensive Textbook of Foot and Ankle Surgery. 4 ed. pp.1685–1706. Wolters Kluwer, Philadelphia, PA.. 14. Persson J, Peters S, Haddadin S, O'Loughlin PF, et al (2015). The prognostic value of radiologic parameters for long-term outcome assessment after an isolated unilateral calcaneus fracture. Technol Health Care, 23(3):285-298. 15. Sarrafian SK (1993). Biomechanics of the subtalar joint complex. Clin Orthop Relat Res, 290:17-26. 16. Schepers T, Ginai AZ, Mulder PG, Patka P (2007). Radiographic evaluation of calcaneal fractures: to measure or not to measure. Skeletal Radiol, 36(9):847-852. 17. Göksal N, Yilmaz H (2018). The Böhler's Angle in the Iron Age Skeletons. Current Debates on Social Sciences, 1:602-606. 18. Rokaya P, Pokharel R, Lamichhane A (2016). Radiographic evaluation of Calcaneal angles in patients presenting to tertiary care center of Nepal. Journal of the Institute of Medicine, 38:33-36. 19. Zivanovic-Macuzic I, Vulovic M, Vojinovic R, Jovanovic M, et al (2016). The Böhler’s angle in population of central Serbia - a radiological study. Vojnosanitetski Pregled, 75:209-209. 20. Igbigbi PS, Msamati BC (2002). The calcaneal angle in indigenous Malawian subjects. Foot, 12(1):27-31. 21. Alabi A, Mohammed B, Lewu S, Neku R, et al (2020). Radiological assessment of the calcaneal angles of Kwara populace: A retrospective study. IJHAS, 9(1):29-33. Ngày nhận bài báo: 01/12/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 Ngày bài báo được đăng: 01/03/2021
File đính kèm:
moi_tuong_quan_giua_cac_goc_xuong_got_dai_dien_cho_dien_khop.pdf

