Mối tương quan giữa các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở người Việt Nam bình thường

Đặt vấn đề: Gãy xương gót khá phổ biến, chiếm 2% tất cả các trường hợp gãy xương và 60% các trường

hợp chấn thương vùng cổ chân. Trong đó gãy di lệch mặt khớp sên sau chiếm 75%. Để hỗ trợ chẩn đoán, điều trị,

tiên lượng kết quả, các góc xương gót trên phim X-quang đại diện cho diện khớp sên sau đã được mô tả trong y

văn. Có sự khác nhau về giá trị bình thường của các góc xương gót giữa các dân tộc do đó mỗi quốc gia cần có

những chỉ số riêng của mình. Đồng thời cần xác định mối tương quan giữa các góc để có nhiều phương án lựa

chọn hơn cho các bác sĩ lâm sàng khi điều trị.

pdf 8 trang phuongnguyen 520
Bạn đang xem tài liệu "Mối tương quan giữa các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở người Việt Nam bình thường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối tương quan giữa các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở người Việt Nam bình thường

Mối tương quan giữa các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở người Việt Nam bình thường
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 114 
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC GÓC XƯƠNG GÓT 
ĐẠI DIỆN CHO DIỆN KHỚP SÊN SAU Ở NGƯỜI VIỆT NAM BÌNH THƯỜNG 
Phạm Đình Dũng1, Hoàng Đức Thái1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Gãy xương gót khá phổ biến, chiếm 2% tất cả các trường hợp gãy xương và 60% các trường 
hợp chấn thương vùng cổ chân. Trong đó gãy di lệch mặt khớp sên sau chiếm 75%. Để hỗ trợ chẩn đoán, điều trị, 
tiên lượng kết quả, các góc xương gót trên phim X-quang đại diện cho diện khớp sên sau đã được mô tả trong y 
văn. Có sự khác nhau về giá trị bình thường của các góc xương gót giữa các dân tộc do đó mỗi quốc gia cần có 
những chỉ số riêng của mình. Đồng thời cần xác định mối tương quan giữa các góc để có nhiều phương án lựa 
chọn hơn cho các bác sĩ lâm sàng khi điều trị. 
Mục tiêu: Xác định số đo các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở người Việt Nam bình thường 
và khảo sát sự tương quan của chúng với nhau. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Chúng tôi tiến hành chụp 128 phim X-quang 
xương gót nghiêng của người tình nguyện tham gia nghiên cứu tại khoa Chẩn đoán hình ảnh của bệnh viện 
Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó tiến hành đo các chỉ số góc: Bohler, Gissane, góc lún 
xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau bằng phần mềm efilm 3.1. Đồng thời khảo sát sự tương quan giữa 
chúng với tuổi, chiều cao, giới tính, vị trí hai chân và giữa các góc xương gót với nhau. 
Kết quả: Số đo góc Bohler trung bình là: 33,80±4,20, phạm vi từ 260-430. Số đo góc Gissane trung bình 
là:116,60±5,30, phạm vi từ 1010-1280. Số đo góc lún xương gót trung bình là:32,90±3,30, phạm vi từ 250-430. Số đo 
góc nghiêng diện khớp sên sau trung bình là:62,70±5,70, phạm vi từ 470-780. Không có sự khác biệt giữa hai giới, 
hai bên phải trái, hai nhóm tuổi. Không có mối tương quan với chiều cao và tuổi. Có mối tương quan thuận giữa 
các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau. 
Kết luận: Số đo các góc xương gót đại diện cho diện khớp sên sau ở mỗi dân tộc đều có sự khác nhau. Đồng 
thời tồn tại mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa các góc này, do đó các bác sĩ lâm sàng sẽ có nhiều sự lựa 
chọn hơn trong quá trình chẩn đoán và điều trị. 
Từ khóa: xương gót, góc Bohler, góc Gissane, góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau 
ABSTRACT 
THE RELATIONSHIP BETWEEN THE CALCANEAL ANGLES REPRESENTATIVES 
FOR THE POSTERIOR FACET IN NORMAL VIETNAMESE PEOPLE 
Pham Dinh Dung, Hoang Duc Thai 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 114 - 121 
Background: Calcaneal fractures are quite common, accounting for 2% of all fractures and 60% of all ankle 
injuries. In which, posterior facet fractures of the calcaneus accounts for 75%. To support diagnosis, treatment, 
and prognosis results, the calcaneal angles on X-ray film representing the posterior facet have been described in 
the literature. There are differences in the normal values of the calcaneal angles between ethnic groups so each 
country needs its own indicators. At the same time, it is necessary to determine the correlation between the angles 
to have more options for clinicians to treat. 
Objective: Determine the measurements of the calcaneal angles representing the posterior facet in normal 
1Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Phạm Đình Dũng ĐT: 0385693738 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 115 
Vietnamese people and examine their correlation with each other. 
Methods: Cross-sectional study. We conducted 128 X-rays of the lateral calcaneus of the volunteers 
participating in the research at the Department of Diagnostic Imaging of the Hospital of Traumatic and 
Orthopedic in Ho Chi Minh city. Then, measuring angles: Bohler, Gissane, calcaneal compression angle, facet 
inclination angle by efilm 3.1 software. At the same time, investigating the correlation between them with age, 
height, sex, position of the legs and between the calcaneal angles. 
Results: The mean of Bohler angle is 33.80 ± 4.20, range from 260 to 430. The mean of Gissane angle is 116.60 
± 5.30, range from 1010 to 1280. The mean of the calcaneal compression angle is 32.90 ± 3.30, range from 250 to 430. 
The mean of the facet inclination angle is 62.70 ± 5.70, range from 470 to 780. There is no difference between the 
sexes, left and right, two age groups. There was no correlation with height and age. There is a positive correlation 
between the calcaneal angles representing the posterior facet. 
Conclusions: The measurements of the calcaneal angles representing the posterior facet in each ethnic group 
are different. At the same time, there is a statistically significant correlation between these angles, so clinicians 
will have more choices during diagnosis and treatment. 
Keywords: calcaneus, Bohler angle, Gissane angle, calcaneal compression angle, facet inclination angle 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Gãy xương gót khá phổ biến, chiếm 2% tất cả 
các trường hợp gãy xương và 60% các trường 
hợp chấn thương vùng cổ chân(1). Trong đó gãy 
di lệch mặt khớp chiếm từ 60% đến 75%(2). Số đo 
các góc xương gót trên phim X - quang đã được 
mô tả nhiều trong y văn và các bài báo về sự 
tăng trưởng cũng như sự khác nhau giữa các 
chủng tộc liên quan đến việc chẩn đoán và điều 
trị. Hiện nay dù đã có nhiều phương tiện chẩn 
đoán hình ảnh hiện đại nhưng X - quang quy 
ước vẫn còn được dùng nhiều nhất và là chỉ 
định đầu tiên cũng như thường quy trong các 
trường hợp nghi ngờ gãy xương gót hay có các 
biến dạng của vùng cổ - bàn chân. Trong đó sự 
bất thường của các góc xương gót là chỉ số được 
sử dụng nhiều nhất trên lâm sàng. 
Để giúp chẩn đoán gãy xương gót, xác định 
mức độ di lệch, đặt mục tiêu để nắn chỉnh, phẫu 
thuật và tiên lượng kết quả, các góc xương gót 
thường được sử dụng như: góc Bohler, góc 
Gissane, góc nghiêng xương gót, góc lún xương 
gót, góc nghiêng diện khớp sên sau. Khi gãy 
xương gót, số đo góc Bohler và góc Gissane 
thường giảm dưới giá trị bình thường(3), giá trị 
này có độ đặc hiệu lên đến 99% để chẩn đoán(4), 
số đo góc Bohler dưới 150 thường có chỉ định 
phẫu thuật nắn chỉnh(5). Việc đánh giá sai về giới 
hạn các góc này thường dẫn đến việc chẩn đoán 
và điều trị gãy xương gót bị thiếu sót hoặc quá 
mức(6). 
Có sự khác biệt về số đo các góc xương gót 
giữa các chủng tộc. Do đó mỗi chủng tộc nên có 
những chỉ số riêng của mình, đồng thời cần xác 
định được mối tương quan về số đo các góc với 
tuổi, giới tính và vị trí hai bên cơ thể. Vì vậy, trên 
thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu giá trị 
bình thường của các góc này trên những chủng 
tộc khác nhau. Kết quả đều có sự khác nhau giữa 
các nghiên cứu. Chính tác giả Bohler đã đưa ra 
giá trị “góc củ” bình thường từ 300 - 350, còn 
trong một số nghiên cứu khác, giá trị góc Bohler 
có phạm vi thay đổi khác nhau, ví dụ như của 
người Ấn Độ là 180 - 430, người Ai Cập là 220 - 
400, người Croatia là 210 - 460(6,7,8) Giá trị góc 
Gissane cũng khác nhau ở các nghiên cứu, của 
người Ai Cập là 1080 - 1380, người Thổ Nhĩ Kỳ là 
1000 - 1330(8,9)... Một vài tác giả còn khảo sát sự 
khác nhau của các góc xương gót giữa hai giới 
tính, giữa các nhóm tuổi, giữa hai chân cũng như 
sự tương quan của các góc xương gót với tuổi và 
chiều cao cơ thể(10,11). 
Hiện tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu 
khảo sát số đo bình thường của các góc xương 
gót trên phim X - quang nghiêng. Xuất phát từ 
các vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 116 
này nhằm đưa ra cơ sở cho các bác sĩ lâm sàng 
trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
128 phim X-quang xương gót nghiêng bình 
thường của người tình nguyện tuổi từ 20-60 đến 
chụp tại khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh 
viện Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí 
Minh (12/2019-06/2020). 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Người Việt Nam tham gia chụp X - quang 
xương gót tại bệnh viện Chấn thương chỉnh hình 
Thành phố Hồ Chí Minh. 
Tuổi: từ 20 - 60. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Về mặt hình thái: những người phát triển 
không bình thường có dị dạng, dị tật bẩm sinh 
(gù vẹo, hội chứng Down), có chấn thương 
hoặc biến dạng ở vùng cổ, bàn chân ở hai chân. 
Về bệnh tật: đối tượng được chụp mắc 
những chứng bệnh cấp tính cần điều trị hoặc 
làm trở ngại cho việc lấy số liệu (vết thương chảy 
máu) hoặc những bệnh mãn tính làm giảm sút 
thể chất (lao cột sống, viêm xương, ung thư). 
Các phim X - quang chụp xương gót không 
đúng tư thế. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Phương pháp thực hiện 
Các góc xương gót (góc Bohler, góc Gissane, 
góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên 
sau) được đo bằng phần mềm efilm 3.1. Góc 
Bohler được tạo bởi giao điểm của hai đường 
thẳng với đường thẳng thứ nhất đi qua điểm cao 
nhất của mỏm trước xương gót và điểm cao nhất 
của diện khớp sau xương gót, đường thẳng thứ 
thứ hai đi qua điểm cao nhất của củ gót và điểm 
cao nhất của diện khớp sau xương gót. Góc 
Gissane được tạo bởi giao điểm của hai đường 
thẳng tiếp tuyến với hệ thống bè xương dày của 
diện khớp sên trước và diện khớp sên sau. Góc 
lún xương gót được tạo bởi giao điểm của 
đường thẳng đi qua điểm thấp nhất củ gót và 
điểm thấp nhất mỏm trước xương gót, đường 
thẳng thứ hai đi qua điểm cao nhất của mỏm 
trước xương gót và điểm cao nhất của diện khớp 
sau xương gót. Góc nghiêng diện khớp sên sau 
là góc được tạo bởi giao điểm của hai đường 
thẳng, đường thẳng thứ nhất đi qua điểm cao 
nhất của diện khớp sau xương gót và điểm cao 
nhất củ gót, đường thẳng thứ hai tiếp tuyến với 
diện khớp sên sau xương gót. 
Hình 1: Đo các góc xương gót trên phim X-quang nghiêng bằng phần mềm efilm 3.1 
Phân tích số liệu 
Kết quả được mã hoá, phân tích số liệu bằng 
phần mềm Stata 14.0. 
Sử dụng phép kiểm T-student để khảo sát sự 
khác biệt về mặt thống kê của các chỉ số đo. 
Kết quả được trình bày nghiên cứu bằng 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 117 
Word 2016 dưới dạng bảng, biểu đồ và hình. 
KẾT QUẢ 
Từ tháng 12/2019 đến tháng 6/2020, chúng 
tôi đã thực hiện tiến hành nghiên cứu trên 128 
phim X-quang xương gót nghiêng tại khoa Chẩn 
đoán hình ảnh – bệnh viện Chấn thương chỉnh 
hình thành phố Hồ Chí Minh. 
Đặc điểm mẫu nghiên cứu 
0
5
1
0
1
5
2
0
2
5
3
0
3
5
4
0
T
ầ
n
 s
u
ấ
t 
(%
)
20 25 30 35 40 45 50 55 60
Tuổi (năm) 
Hình 2: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu 
Độ tuổi trung bình của toàn mẫu là 40,8 
(tuổi). Giới hạn trên và dưới của tuổi được chọn 
theo phương pháp chọn mẫu đã được quy ước 
từ ban đầu. 
1
4
0
1
5
0
1
6
0
1
7
0
1
8
0
C
h
iề
u
 c
a
o
 (
cm
)
Hình 3: Chiều cao trung bình của mẫu nghiên cứu 
Chiều cao trung bình của người tham gia 
nghiên cứu trong toàn mẫu là 161,5 cm. 
Các chỉ số góc xương gót 
Sự biến thiên của góc Bohler từ 29,60 đến 
38,00; góc Gissane từ 108,30 đến 119,00; góc lún 
xương gót từ 29,60 đến 36,20; góc nghiêng diện 
khớp sên sau từ 56,90 đến 68,40 (Bảng 1). 
Bảng 1: Số đo các góc xương gót của người Việt Nam 
Các góc xương gót 
Số đo góc (độ) 
TB ĐLC Min Max 
Góc Bohler 33,8 4,2 26 43 
Góc Gissane 113,6 5,3 101 128 
Góc lún xương gót 32,9 3,3 25 43 
Góc nghiêng diện khớp sên sau 62,7 5,7 37 76 
Bảng 2: So sánh số đo các góc xương gót theo giới tính 
Các góc xương 
gót 
Nam (n = 64) Nữ (n = 64) 
Giá trị 
p TB ĐLC (Min 
– Max) (độ) 
TB ĐLC (Min 
– Max) (độ) 
Góc Bohler 
34,2 4,0 
(26 - 42) 
33,4 4,3 
(26 - 43) 
0,32 
Góc Gissane 
113,5 6,1 
(101 - 128) 
113,7 4,5 
(103 - 125) 
0,82 
Góc lún xương gót 33,1 3,1 
(26 - 39) 
32,7 3,5 
(25 - 43) 
0,45 
Góc nghiêng diện 
khớp sên sau 
62,9 6,1 
(47 - 78) 
62,5 5,4 
(51 - 74) 
0,71 
Cả 4 góc xương gót đều có sự biến thiên giá 
trị trung bình ở nữ lớn hơn nam. Và tất cả số đo 
đều không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
giữa hai giới tính (p >0,05) (Bảng 2). 
Bảng 3: So sánh số đo các góc xương gót theo vị trí 
phải trái 
Các góc 
xương gót 
Bên phải (n=64) Bên trái (n=64) 
Giá trị 
p TB ĐLC (Min - 
Max) (độ) 
TB ĐLC (Min - 
Max) (độ) 
Góc Bohler 
33,6 3,9 
(26 - 42) 
34,1 4,4 
(26 - 43) 
0,51 
Góc Gissane 
112,7 4,5 
(103 - 125) 
114,5 5,9 
(101 - 128) 
0,06 
Góc lún xương 
gót 
33,1 3,5 
(25 - 43) 
32,6 3,1 
(26 - 39) 
0,39 
Góc nghiêng 
diện khớp sên 
sau 
62,0 5,5 
(51 - 73) 
63,4 5,9 
(47 - 78) 
0,17 
Góc Bohler, góc Gissane, góc nghiêng diện 
khớp sên sau có sự biến thiên giá trị trung bình ở 
bên trái lớn hơn bên phải, còn góc lún xương gót 
thì ngược lại Khi khảo sát sự khác biệt về giá trị 
số đo các góc xương gót giữa hai bên thì tất cả 
các góc đều không có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê giữa hai chân (p >0,05) (Bảng 3). 
Sự biến thiên giá trị trung bình của góc 
Bohler ở nhóm tuổi 20-40 lớn hơn nhóm 41 - 60. 
Còn góc lún xương gót và góc nghiêng diện 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 118 
khớp sên sau thì ngược lại. Chỉ có góc Gissane có 
sự biến thiên số đo góc giữa hai nhóm tuổi như 
nhau. Tất cả các góc đều không có sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm tuổi (p >0,05) 
(Bảng 4). 
Bảng 4: So sánh số đo các góc xương gót theo nhóm tuổi 
Các góc xương 
gót 
Nhóm tuổi 
20 - 40 (n=64) 
Nhóm tuổi 
41 - 60 (n=64) Giá trị 
p TB ĐLC (Min - 
Max) (độ) 
TB ĐLC (Min - 
Max) (độ) 
Góc Bohler 
33,5 4,3 
(26 - 43) 
34,1 4,0 
(26 - 42) 
0,36 
Góc Gissane 
112,9 5,3 
(101 - 128) 
114,4 5,3 
(102 - 125) 
0,10 
Góc lún xương 
gót 
32,7 3,2 
(26 - 43) 
33,1 3,4 
(25 - 39) 
0,56 
Góc nghiêng diện 
khớp sên sau 
62,9 6,1 
(47 - 78) 
62,5 5,4 
(51 - 74) 
0,67 
Bảng 5: Mối tương quan giữa các góc xương gót với tuổi 
Góc (Y) 
Chỉ số 
(X) 
p r 
Biểu thức hồi 
qui 
Góc Bohler 
Tuổi 0,78 0,02 Không tương 
quan 
Góc Gissane 
Tuổi 0,10 0,15 Không tương 
quan 
Góc lún xương gót 
Tuổi 0,95 0,01 Không tương 
quan 
Góc nghiêng diện 
khớp sên sau 
Tuổi 0,53 - 0,06 Không tương 
quan 
Không có mối tương quan tuyến tính giữa 
góc Bohler, góc Gissane, góc lún xương gót, góc 
nghiêng diện khớp sên sau với tuổi trong nghiên 
cứu của chúng tôi (p >0,05) (Bảng 5). 
Bảng 6: Mối tương quan giữa các góc xương gót với 
chiều cao 
Góc (Y) Chỉ số (X) p r 
Biểu thức hồi 
qui 
Góc Bohler 
Chiều cao 0,78 0,02 Không tương 
quan 
Góc Gissane 
Chiều cao 0,10 0,15 Không tương 
quan 
Góc lún xương 
gót 
Chiều cao 0,95 0,01 Không tương 
quan 
Góc nghiêng diện 
khớp sên sau 
Chiều cao 0,53 - 0,06 Không tương 
quan 
Không có mối tương quan tuyến tính giữa 
góc Bohler, góc Gissane, góc lún xương gót, góc 
nghiêng diện khớp sên sau với chiều cao trong 
nghiên cứu của chúng tôi (p >0,05) (Bảng 6). 
Có mối tương quan thuận mạnh có ý nghĩa 
thống kê (r >05 và p <0,05) giữa góc Bohler và 
góc lún xương gót, góc nghiêng diện khớp sên 
sau (Bảng 7). 
Bảng 7: Mối tương quan giữa các góc xương gót với nhau 
Các góc xương 
gót 
Giá trị p - Hệ số tương quan r 
Góc Bohler Góc Gissane 
Góc lún 
xương gót 
Góc Gissane 
0,00 
0,28 
Góc lún xương 
gót 
0,00 
0,53 
0,55 
0,05 
Góc nghiêng diện 
khớp sên sau 
0,00 
0,65 
0,02 
-0,20 
0,00 
0,33 
BÀN LUẬN 
Trong tất cả các chỉ số góc xương gót được 
khảo sát, thì có lẽ góc Bohler được biết đến nhiều 
nhất và được sử dụng nhiều nhất trên lâm sàng. 
Số đo góc Bohler sẽ giảm xuống dưới mức bình 
thường, thậm chí bằng 0 hoặc âm khi có gãy 
xương gót, đặc biệt khi gãy xương gót phạm 
khớp(12). Một trong những mục tiêu khi phẫu 
thuật hoặc điều trị bảo tồn gãy xương gót là 
phục hồi số đo góc Bohler về mức bình thường 
của nó(2,13). Chúng tôi nhận thấy hầu hết các quốc 
gia trên thế giới đều có số đo góc Bohler bình 
thường khác với người Việt Nam và mức khác 
biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Vì 
vậy việc nghiên cứu và đưa ra trị số bình thường 
của góc Bohler ở mỗi quốc gia là điều cần làm. 
Bảng 8: So sánh số đo góc Bohler trong nghiên cứu 
của chúng tôi so với một số nghiên cứu khác 
Tác giả Năm 
Chủng 
tộc 
Trung 
bình 
Giá trị p 
Sengodan VC 2012 Ấn Độ 30,62
0
 0,00 
Shoukry FA 2012 Ai Cập 30,14
0
 0,00 
Willmott H 2012 Anh 36,48
0
 0,00 
Rokaya P 2016 Nepal 31,3
0
 0,00 
Katchy A 2018 Nigeria 32,58
0
 0,04 
Zhi-jian Ma 2019 Trung Quốc 31,6
0
 0,00 
Chúng tôi 2020 Việt Nam 33,8
0
Phổ biến thứ hai sau góc Bohler, góc Gissane 
là một chỉ số thường được dùng trên lâm sàng 
để đánh giá các trường hợp gãy xương gót phạm 
khớp hoặc khi có nghi ngờ gãy xương. Số đo góc 
Gissane tăng trên giá trị bình thường gợi ý có 
gãy xương gót phạm khớp với lún diện khớp 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 119 
sên sau(12). Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá 
trị trung bình của góc Gissane có sự khác biệt so 
với số đo góc Gissane trong nghiên cứu của tác 
giả Segodan VC (2012) cũng như trong nghiên 
cứu của tác giả Shoukry FA (2012), cụ thể số đo 
góc trung bình của góc Gissane đo được ở người 
Việt Nam nhỏ hơn ở người Ấn Độ và người Ai 
Cập(7,8). Và sự khác biệt này đều có ý nghĩa 
thống kê với p <0,05. 
Bảng 9: So sánh số đo góc Gissane trong nghiên cứu 
của chúng tôi so với một số nghiên cứu khác 
Tác giả Năm Chủng tộc Trung bình Giá trị p 
Sengodan VC 2012 Ấn Độ 126,79
0
 0,00 
Shoukry FA 2012 Ai Cập 122,92
0
 0,00 
Chúng tôi 2020 Việt Nam 113,6
0
Góc Gissane ít được dùng hơn góc Bohler 
trên lâm sàng, mặc dù phản ánh được sự sụp 
diện khớp sau khi gãy xương gót có phạm khớp, 
tuy nhiên các mốc để đo thường khó xác định 
hơn so với góc Bohler, nên có lẽ đây là lí do nó ít 
được dùng trên lâm sàng hơn so với góc Bohler. 
Mặc dù có sự liên quan của góc Gissane với diện 
khớp dưới sên khi gãy xương gót nhưng không 
có nghiên cứu nào được tìm thấy chứng minh có 
mối tương quan giữa góc Gissane và kết quả 
chức năng lâu dài sau khi điều trị(14). 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá trị 
bình thường của góc lún xương gót nằm trong 
phạm vi từ 250 đến 430 với giá trị trung bình là 
32,90. Góc lún xương gót sẽ thay đổi giá trị khi 
có gãy xương gót, cụ thể số đo góc sẽ giảm 
xuống khi có gãy xương gót phạm khớp. 
Nghiên cứu của tác giả Shoukry FA (2013) số 
đo góc lún xương gót trung bình mà tác giả đo 
được trên người Ai Cập là 30,670 với phạm vi 
từ 240 đến 360. Trong một số y văn trước đây 
mà tác giả tham khảo thì góc này dao động từ 
180 đến 420 với giá trị trung bình là 360. Các kết 
quả này đều có sự khác biệt khi so sánh với số 
đo góc lún xương gót ở người Việt Nam, đây 
chính là sự khác biệt về số đo góc giữa các dân 
tộc khác nhau trên thế giới. Ngoài vai trò như 
là một phương pháp thay thế cho góc Bohler 
để đáng giá gãy xương gót phạm khớp, đặc 
biệt là khi gãy xương gót có lún và xoay mỏm 
trên của củ gót thì góc lún xương gót còn đại 
diện cho chiều cao xương gót và do đó khi gãy 
nát hoặc gãy xương gót nhiều mảnh thì số đo 
góc sẽ giảm xuống dưới mức bình thường(8). 
Số đo góc nghiêng diện khớp sên sau trong 
nghiên cứu của chúng tôi là từ 470 đến 780, với 
giá trị trung bình là 62,70. Tương tự như góc 
Bohler, góc nghiêng diện khớp sên sau được 
dùng để đánh giá tình trạng gãy xương gót có 
kèm lún diện khớp sên sau. So với giá trị góc 
nghiêng diện khớp sên sau trong nghiên cứu của 
tác giả Sarrafian SK (1993), ông đã đã đưa ra giới 
hạn số đo góc nghiêng diện khớp sên sau là 550 
đến 750 với giá trị trung bình là 650, thì kết quả số 
đo góc trung bình trong nghiên cứu của chúng 
tôi có giá trị nhỏ hơn nhưng phạm vi rộng 
hơn(15). Sau đó vào năm 2007, trong một nghiên 
cứu của tác giả Schepers T cũng đã đưa ra kết 
luận rằng số đo góc nghiêng diện khớp sên sau 
trung bình ở xương gót bình thường là 660 và ở 
bên chân có gãy xương gót là 540(16). 
Đồng thời nghiên cứu của chúng tôi cũng kết 
luận rằng, không có sự khác biệt về số đo các góc 
xương gót giữa hai chân (p >0,05). Điều này 
cũng tương đồng với các nghiên cứu trước 
đây(17,18,19). Vì vậy số đo các góc xương gót bình 
thường ở chân đối diện hoàn toàn có thể được 
dùng như một tiêu chuẩn để nắn chỉnh xương 
gót bị gãy ở chân bệnh để đạt được các mốc giải 
phẫu bình thường(10,20). 
Vấn đề được đặt ra là trong trường hợp 
gãy xương gót cả hai bên thì giá trị các góc 
xương gót để làm mục tiêu để nắn chỉnh là bao 
nhiêu. Trong nghiên cứu của tác giả Khoshhal 
KI (2004)(10) và cả trong nghiên cứu của chúng 
tôi đều cho thấy không có sự khác biệt có ý 
nghĩa về giá trị các góc xương gót ở các nhóm 
tuổi (p >0,05). Vì vậy sử dụng thông tin về số 
đo góc xương gót trên phim X-quang đã được 
chụp trước đó của bệnh nhân để làm tiêu 
chuẩn cho phẫu thuật cũng là một phương án 
nên được xem xét để chọn lựa. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 120 
Ngoài ra có thể sử dụng số đo các góc xương 
gót trong giới hạn bình thường làm mục tiêu để 
nắn chỉnh hoặc phẫu thuật. Bởi vì số đo các góc 
đều có sự khác nhau giữa các chủng tộc cho nên 
mỗi quốc gia cần có giá trị riêng của mình. Một 
số tác giả sử dụng giới hạn bình thường dưới 
còn một số tác giả khác lại sử dụng giá trị trung 
bình của chúng để làm mục tiêu phẫu thuật 
cũng như điều trị bảo tồn và tiên lượng kết quả 
phục hồi sau điều trị(18). 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sư khác biệt 
về số đo các góc xương gót giữa hai giới tính là 
không có ý nghĩa thống kê (p >0,05), ngay cả khi 
so sánh số đo góc giữa hai giới tính theo nhóm 
tuổi cũng không có sự khác biệt, điều này cũng 
tương đồng với các nghiên cứu trước đây. Trong 
nghiên cứu của tác giá Alabi A (2020) ông đã 
nghiên cứu sử dụng giá trị góc Bohler để phân 
biệt giới tính nam và nữ nhưng kết quả không có 
sự khác biệt về số đo góc này giữa hai giới nên 
không thể dùng góc Bohler để phân biệt giới 
tính (p >0,05)(21). 
Việc nắn chỉnh góc Bohler không đủ hoặc 
quá mức, thường dẫn tới kết quả phục hồi mặt 
khớp kém, dẫn đến đau mạn tính hoặc thoái hóa 
khớp dưới sên(3). Bên cạnh đó, giá trị góc Bohler 
còn được dùng để tiên lượng, theo dõi kết quả 
điều trị sau phẫu thuật, đồng thời cũng là một 
biến số được dùng để đánh giá kết quả chức 
năng sau phẫu thuật gãy xương gót(14). 
Theo kết quả trong nghiên cứu của chúng 
tôi, tồn tại mối tương quan có ý nghĩa thống kê 
giữa các góc xương gót, đặc biệt giữa góc 
Bohler và góc lún xương gót, góc nghiêng diện 
khớp sên sau (r >0,5 và p <0,05). Điều này giúp 
cho các bác sĩ lâm sàng có được nhiều sự lựa 
chọn các chỉ số góc hơn trong việc chẩn đoán 
và điều trị bệnh. 
KẾT LUẬN 
Số đo các góc xương gót trên phim X – quang: 
Góc Boher: 33,80 (phạm vi: 260 - 430). 
Góc Gissane: 113,60 (phạm vi: 1010 - 1280). 
Góc lún xương gót: 32,90 (phạm vi: 250 - 430). 
Góc nghiêng diện khớp sên sau: 62,70 (phạm 
vi: 470 - 780). 
Mối tương quan giữa các góc xương gót với 
tuổi, chiều cao cơ thể và giữa các góc xương gót 
với nhau. Sự khác nhau của các góc xương gót 
giữa các nhóm tuổi, vị trí phải trái, giới tính. 
Tất cả các góc xương gót đều không có mối 
tương quan với tuổi và chiều cao cơ thể. 
Các góc biểu diễn sự bình thường của diện 
khớp sên sau: Góc Bohler, góc Gissane, góc lún 
xương gót, góc nghiêng diện khớp sên sau đều 
có mối tương quan thuận với nhau. 
Không có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê 
của các số đo góc xương gót giữa các nhóm tuổi, 
vị trí phải trái, giới tính. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Ramachandran RSS (2015). Assessment of Bohler’s and 
Gissane’s angles of the calcaneum in a group of South Indian 
population — a radiological study. Int J Curr Res Rev, 7(15):17–
20. 
2. Clare MP, Sanders RW (2015). Calcaneus Fractures. In: Court-
Brown Charles M, Rockwood And Green’s Fractures In Adults. 
8 ed. pp. 2639 -2685. Wolters Kluwer. 
3. Davis D, Seaman TJ, Newton EJ (2020). Calcaneus Fractures. 
URL: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK430861/. 
4. Kwon JY, Zurakowski D, Ellington JK (2015). Influence of 
contralateral radiographs on accuracy of anatomic reduction in 
surgically treated calcaneus fractures. Foot Ankle Int, 36(1):75-82. 
5. Gonzalez TA, Ehrlichman LK, Macaulay AA, Gitajn IL, et al 
(2016). Determining Measurement Error for Bohler's Angle and 
the Effect of X-Ray Obliquity on Accuracy. Foot Ankle Spec, 
9(5):409-416. 
6. Simunovic M, Nizic D, Pervan M, Rados M, et al (2019). The 
physiological range of the Bohler's angle in the adult Croatian 
population. Foot Ankle Surg, 25(2):174-179. 
7. Sengodan VC, Amruth KH, Karthikeyan (2012). Bohler's and 
Gissane Angles in the Indian Population. Journal of Clinical 
Imaging Science, doi: 10.4103/2156-7514.104310. 
8. Shoukry FA, Aref YK, Sabry AAE (2012). Evaluation of the 
normal calcaneal angles in Egyptian population. Alexandria 
Journal of Medicine, 48(2):91-97. 
9. Seyahi A, Uludag S, Koyuncu LO, Atalar AC, et al (2009). The 
calcaneal angles in the Turkish population. Acta Orthop 
Traumatol Turc, 43(5):406-411. 
10. Khoshhal KI, Ibrahim AF, Al-Nakshabandi NA, Zamzam MM, 
et al (2004). Bohler's and Gissane's angles of the calcaneus in the 
Saudi population. Saudi Med J, 25(12):1967-1970. 
11. Willmott H, Stanton J, Southgate C (2012). Bohler's angle - What 
is normal in the uninjured British population? Foot Ankle Surg, 
18(3):187-189. 
12. White EA, Skalski MR, Matcuk GRJr, Heckmann N, et al (2019). 
Intra-articular tongue-type fractures of the calcaneus: anatomy, 
injury patterns, and an approach to management. Emerg Radiol, 
26(1):67-74. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 121 
13. Jennings MM, Schuberth JM (2013). Calcaneal Fractures. In: 
Southerland Job T, Comprehensive Textbook of Foot and Ankle 
Surgery. 4 ed. pp.1685–1706. Wolters Kluwer, Philadelphia, PA.. 
14. Persson J, Peters S, Haddadin S, O'Loughlin PF, et al (2015). The 
prognostic value of radiologic parameters for long-term 
outcome assessment after an isolated unilateral calcaneus 
fracture. Technol Health Care, 23(3):285-298. 
15. Sarrafian SK (1993). Biomechanics of the subtalar joint complex. 
Clin Orthop Relat Res, 290:17-26. 
16. Schepers T, Ginai AZ, Mulder PG, Patka P (2007). Radiographic 
evaluation of calcaneal fractures: to measure or not to measure. 
Skeletal Radiol, 36(9):847-852. 
17. Göksal N, Yilmaz H (2018). The Böhler's Angle in the Iron Age 
Skeletons. Current Debates on Social Sciences, 1:602-606. 
18. Rokaya P, Pokharel R, Lamichhane A (2016). Radiographic 
evaluation of Calcaneal angles in patients presenting to tertiary 
care center of Nepal. Journal of the Institute of Medicine, 38:33-36. 
19. Zivanovic-Macuzic I, Vulovic M, Vojinovic R, Jovanovic M, et al 
(2016). The Böhler’s angle in population of central Serbia - a 
radiological study. Vojnosanitetski Pregled, 75:209-209. 
20. Igbigbi PS, Msamati BC (2002). The calcaneal angle in 
indigenous Malawian subjects. Foot, 12(1):27-31. 
21. Alabi A, Mohammed B, Lewu S, Neku R, et al (2020). 
Radiological assessment of the calcaneal angles of Kwara 
populace: A retrospective study. IJHAS, 9(1):29-33. 
Ngày nhận bài báo: 01/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 01/03/2021

File đính kèm:

  • pdfmoi_tuong_quan_giua_cac_goc_xuong_got_dai_dien_cho_dien_khop.pdf