Mối tương quan của chỉ số phân mảnh dna tinh trùng và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn

Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA tinh

trùng (DNA Fragment Index - DFI) được đo bằng phương pháp khảo

sát độ phân tán nhiễm sắc chất (Sperm Chormatin Dispersion - SCD)

và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (Intracytoplasmic Sperm

Injection – ICSI).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đoàn hệ tiến

cứu, thực hiện trên 160 bệnh nhân điều trị ICSI tại Đơn vị Hỗ trợ sinh

sản IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 06/2016 đến tháng 05/2017.

Kết quả: Không có mối tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA và

kết quả ICSI, bao gồm: tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi ngày 3 và tỷ lệ phôi

hữu dụng (P > 0,05). Kết quả: thai lâm sàng ở ba nhóm DFI (<>

15-30%, > 30%) không có khác biệt, bao gồm: tỷ lệ thai beta-hCG > 25

mIU/mL (tương ứng là 49%, 57% và 60%), tỷ lệ thai lâm sàng (tương

ứng là 33%, 47% và 20%) và tỷ lệ sẩy thai (tương ứng là 6,5%, 13,3%

và 0%) (P > 0,05).

Kết luận: Tỷ lệ phân mảnh DNA tinh trùng không ảnh hưởng đến kết

quả điều trị của ICSI

pdf 6 trang phuongnguyen 240
Bạn đang xem tài liệu "Mối tương quan của chỉ số phân mảnh dna tinh trùng và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối tương quan của chỉ số phân mảnh dna tinh trùng và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn

Mối tương quan của chỉ số phân mảnh dna tinh trùng và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn
NGUYỄN THỊ QUỲNH TIÊN, MÃ PHẠM QUẾ MAI, DƯƠNG NGUYỄN DUY TUYỀN, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ
62
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
Nguyễn Thị Quỳnh Tiên(1), Mã Phạm Quế Mai(2), Dương Nguyễn Duy Tuyền(1), Nguyễn Minh Tài Lộc(2), Nguyễn Trương Thái Hà(2) 
(1) Bệnh viện Mỹ Đức, (2) Khoa Y, Đại học Quốc gia TP.HCM
MỐI TƯƠNG QUAN CỦA CHỈ SỐ PHÂN MẢNH DNA 
TINH TRÙNG VÀ KẾT QUẢ TIÊM TINH TRÙNG
VÀO BÀO TƯƠNG NOÃN
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Quỳnh Tiên,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 19/03/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 01/09/2019
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA tinh 
trùng (DNA Fragment Index - DFI) được đo bằng phương pháp khảo 
sát độ phân tán nhiễm sắc chất (Sperm Chormatin Dispersion - SCD) 
và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (Intracytoplasmic Sperm 
Injection – ICSI). 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đoàn hệ tiến 
cứu, thực hiện trên 160 bệnh nhân điều trị ICSI tại Đơn vị Hỗ trợ sinh 
sản IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 06/2016 đến tháng 05/2017. 
Kết quả: Không có mối tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA và 
kết quả ICSI, bao gồm: tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi ngày 3 và tỷ lệ phôi 
hữu dụng (P > 0,05). Kết quả: thai lâm sàng ở ba nhóm DFI (< 15%, 
15-30%, > 30%) không có khác biệt, bao gồm: tỷ lệ thai beta-hCG > 25 
mIU/mL (tương ứng là 49%, 57% và 60%), tỷ lệ thai lâm sàng (tương 
ứng là 33%, 47% và 20%) và tỷ lệ sẩy thai (tương ứng là 6,5%, 13,3% 
và 0%) (P > 0,05). 
Kết luận: Tỷ lệ phân mảnh DNA tinh trùng không ảnh hưởng đến kết 
quả điều trị của ICSI.
Abstract 
EFFECTS OF SPERM DNA FRAGMENTATION 
INDEX ON THE OUTCOMES OF 
INTRACYTOPLASMIC SPERM INJECTION
Objective(s): To determine the relationship between DNA 
fragment index (DFI) by sperm chromatin dispersion test (SCD) and 
intracytoplasmic sperm injection (ICSI) outcome. 
Patient(s) and method: A prospective study was conducted at IVFMD, 
My Duc Hospital from June 2016 to May 2017. Semen samples were 
obtained from 160 couples undergoing ICSI treatment. 
Result(s): DFI was not any correlated with ICSI outcomes including 
fertilization, day 3 embryo development and good quality embryo rates 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
63
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 62 - 67, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
(P > 0.05). Clinical outcomes were not different between three group DFI ( 30%), 
included beta-hCG > 25 mIU/mL pregnancy (49%, 57% and 60% respectively), clinical pregnancy 
(33%, 47% and 20% respectively), miscarriage (6.5%, 13.3% and 0% respectively) (P > 0.05). 
Conclusion(s): Sperm DNA fragmentatioon levels is not correlated ICSI outcomes. 
1. Đặt vấn đề
Có khoảng 30-40% các trường hợp hiếm muộn 
có nguyên nhân từ cả hai vợ chồng và khoảng 20% 
do bất thường về tinh trùng của người chồng[1]. 
Trong đó, các yếu tố được quan tâm trong chẩn 
đoán vô sinh nam thường chỉ dựa vào các thông số 
tinh dịch đồ, bao gồm: thể tích tinh dịch, pH, mật 
độ, độ di động và hình dạng tinh trùng. Tuy nhiên, 
khoảng 15% trường hợp vô sinh nam có tinh dịch đồ 
bình thường[2]. Nồng độ ROS quá mức trong tinh 
dịch có thể là một trong những yếu tố tiên lượng tỉ lệ 
thụ tinh kém trong ống nghiệm (In vitro fertilization 
- IVF). Các gốc oxy hóa tác động làm giảm độ di 
động, khả năng sống và gây phân mảnh DNA của 
tinh trùng. Sự phân mảnh DNA tinh trùng gây ảnh 
hưởng đến việc đảm nhận chức năng thụ tinh bình 
thường, cũng như trong quá trình phát triển phôi thai 
sau này[3]. Mặc dù có mối liên quan giữa mức độ 
dị dạng của tinh trùng với sự phân mảnh DNA[4], 
nhưng hình dạng tinh trùng không phải là yếu tố dự 
đoán cho sự phân mảnh DNA tinh trùng[5], thậm 
chí những tinh trùng có hình dạng bình thường cũng 
có thể bị phân mảnh DNA. Avendano và cộng sự 
năm 2010 cho rằng có mối tương quan nghịch, có 
ý nghĩa lớn trong y học, giữa những tinh trùng hình 
dạng bình thường nhưng bị phân mảnh DNA và 
chất lượng phôi, tỷ lệ thai sau phương pháp tiêm tinh 
trùng vào bào tương noãn (Intracytoplasmic Sperm 
Injection-ICSI)[6,7]. Trong ICSI, tiêu chí để chọn lọc 
tinh trùng để tiêm vào bào tương trứng là có di động 
tốt, hình dạng bình thường cao, tuy nhiên, tỉ lệ phân 
mảnh DNA trong những tinh trùng đó mới là yếu tố 
quan trọng ảnh hưởng đến kết quả điều trị. 
Từ đó, vấn đề về sự nguyên vẹn của cấu trúc 
DNA và chức năng của tinh trùng được quan tâm 
nhiều hơn. Đề tài được thực hiện với mục tiêu đánh 
giá mối tương quan của tỷ lệ phân mảnh DNA tinh 
trùng và kết quả tạo phôi và tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ 
lệ thai diễn tiến trong các trường hợp thụ tinh bằng 
phương pháp ICSI. 
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu với kết 
quả sau ICSI bao gồm: tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi 
ngày 3, tỷ lệ tạo phôi tốt, thai lâm sàng và thai diễn 
tiến liên quan tới chỉ số DFI khác nhau của bệnh nhân.
Thu nhận mẫu tinh dịch
Có 160 cặp vợ chồng tham gia nghiên cứu sẽ 
lấy mẫu tinh dịch. Mẫu được thu nhận tại IVFMD, 
Bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 06/2016 đến tháng 
05/2017. Mẫu tinh dịch sau khi xuất tinh được 
thu nhận vào lọ đựng mẫu chuyên dụng và chờ 
ly giải 15-60 phút. Sau đó, mẫu được đánh giá 
mật độ và độ di động theo qui trình chuẩn [8]. 
Tinh trùng được chuẩn bị bằng phương pháp 
thang nồng độ không liên tục, ly tâm 1.200 vòng/
phút trong 10 phút. Môi trường lọc là AllGrad® 
45% và AllGrad® 90% (LifeGlobal). Phần cặn 
được rửa với 3 mL môi trường AllGrad® Wash 
(LifeGlobal), ly tâm 1.200 vòng/phút trong 5 phút. 
Tinh trùng sau khi lọc rửa được cô đặc trong 0,1-
0,2 mL sử dụng cho ICSI.
Chuẩn bị noãn
Noãn được chọc hút trong vòng 36-40 giờ 
sau khi tiêm hCG. Khối noãn-cumulus (Oocyte-
cumulus complex – OCC) được rửa vào đĩa chứa 
NGUYỄN THỊ QUỲNH TIÊN, MÃ PHẠM QUẾ MAI, DƯƠNG NGUYỄN DUY TUYỀN, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ
64
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
môi trường Collect Medium (LifeGlobal). Noãn sau 
đó được cấy trong hộp 4 giếng chứa môi trường 
Global total LP for Fertilization (LifeGlobal) có phủ 
dầu. Sau 2-3 giờ nuôi cấy ở 370C, 6% CO2 và 5% 
O2. Noãn được tách ra khỏi khối OCC bằng môi 
trường Hyaluronidase và được tiếp tục nuôi cấy 
1-2 giờ trong giọt môi trường Global total LP for 
Fertilization trước khi thực hiện ICSI.
Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn
Tiến hành ICSI 40-42 giờ sau giờ tiêm hCG 
theo quy trình kích thích buồng trứng thường qui. 
Noãn sau khi ICSI được nuôi cấy trong điều kiện 
370C, 6% CO2 và 5% O2. Thụ tinh được xác định 
sau 16-20 giờ tiêm tinh trùng vào bào tương trứng 
khi xuất hiện hai tiền nhân và đẩy ra thể cực thứ 
hai. Vào ngày 3, các phôi được đánh giá vào thời 
điểm 66-68 giờ sau ICSI. Phôi ngày 3 được xác 
định khi có từ 6 tế bào trở lên, trong đó, phôi loại 
I được xác định có số phôi bào 7-9 tế bào với tỉ 
lệ phân mảnh 0-10%. Việc đánh giá và phân loại 
dựa trên đồng thuận Alpha [9].
Tiến hành quy trình phát hiện sự phân mảnh 
DNA tế bào tinh trùng bằng phương pháp SCD
Quy trình phát hiện phân mảnh DNA tế bào 
tinh trùng bằng phương pháp SCD được xây dựng 
tại Khoa Y, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí 
Minh, dựa theo quy trình của Fernandez [12], với 
một số chi tiết được cải tiến để phù hợp với điều 
kiện áp dụng tại Việt Nam. 
Đầu tiên, tinh dịch được pha loãng với PBS đến 
mật độ 20 triệu tinh trùng/mL. Tiếp theo, 25 μL mẫu 
sau khi được pha loãng trộn với 50 μL agarose trong 
eppendorf (1%). Sau đó, 15 μL thể tích hỗn hợp được 
nhỏ lên slide. Slide sẽ được đậy bằng coverslip rồi 
giữ lạnh ở 40C / 5phút. Sau 5 phút, slide được bỏ 
coverslip sẽ tiếp tục được ngâm trong dung dịch HCl 
0,08 N trong 7 phút ở nhiệt độ phòng. Tiếp theo, slide 
được ngâm trong dung dịch ly giải 20 phút ở nhiệt độ 
phòng và rửa với nước cất trong 5 phút. Slide lần lượt 
được rửa trong loạt dung dịch ethanol có nồng độ 
70%, 100% trong 2 phút mỗi lần và nhuộm mẫu với 
giemsa trong 7 phút. Sau khi rửa với nước cất, mẫu 
được để khô ở nhiệt độ phòng. Cuối cùng, mẫu được 
phân tích kết quả hình ảnh ở vật kính 100X.
Phân tích số liệu
Các chỉ số được phân tích gồm: số mật độ, 
độ di động, chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng, 
số noãn chọc hút, số noãn trưởng thành, tỷ lệ thụ 
tinh, tỷ lệ phôi phân chia, số phôi tốt ngày 3, tỷ lệ 
beta-hCG, tỷ lệ thai lâm sàng và tỷ lệ làm tổ của 
phôi. Các số liệu sẽ được trình bày dưới dạng giá 
trị trung bình ± độ lệch chuẩn hay dưới dạng phần 
trăm. Sự khác biệt giữa các giá trị trung bình được 
kiểm định bằng Student’s t-test cho dữ liệu theo luật 
phân phối chuẩn, giá trị phần trăm được kiểm định 
sự khác biệt bằng Chi-square test, sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê được xác định khi P < 0,05.
Sử dụng phần mềm thống kê R (phiên bản 
3.2.4) để kiểm định hệ số tương quan r (theo 
Pearson) cho so sánh chỉ số DFI và các giá trị điều 
trị với khoảng tin cậy là 95%. 
3. Kết quả
Đặc điểm bệnh nhân tham gia nghiên cứu được 
thể hiện ở bảng 1. 
Mối tương quan của DFI và các chỉ số trong ICSI
Tỷ lệ thụ tinh là tỷ lệ giữa số noãn thụ tinh 
trong tổng số noãn tiến hành ICSI, tỷ lệ thụ tinh 
trung bình của 160 cặp vợ chồng là 84,76% ± 
14,32%. Khi đánh giá mức độ tương quan giữa 
chỉ số DFI và tỷ lệ thụ tinh, chúng tôi không ghi 
nhận được sự tương quan có ý nghĩa thống kê (r = 
0,02, P = 0,98), kết quả được thể hiện ở biểu đồ 
1A và bảng 2.
Tỷ lệ tạo phôi ngày 3 là tỷ lệ giữa số phôi ngày 
3 trong tổng số trứng thụ tinh. Tỷ lệ tạo phôi ngày 
3 trung bình là 72,81% ± 21,19%. Kết quả ghi 
nhận, không tìm thấy mối tương quan giữa tỷ lệ 
tạo phôi ngày 3 và chỉ số DFI (r = 0,16, P = 0,53, 
biểu đồ 1B). 
Các chỉ số Giá trị (n = 160) Giới hạn
Tuổi vợ (năm) 31,65 ± 3,96 23-40
Tuổi chồng (năm) 33,43 ± 3,91 24-40
AMH (ng/mL) 5,20 ± 3,02 0,95-14,63
Thời gian vô sinh (năm) 3,61 ± 3,35 0,5-12
Loại vô sinh (%) Loại 1: 82% Loại 2: 18%
Nồng độ E
2
 (pg/mL) 5.896 ± 4.684,5 872-26.020
Nồng độ P
4
 (ng/mL) 1,3 ± 0,74 0,09-6,72
Các chỉ số tinh dịch đồ
Mật độ tinh trùng (x 106/mL) 43,64 ± 32,23 5-180
Di động (%) 31,01 ± 13,46 5-68
Hình dạng bình thường (%) 0,10 ± 0,03 0-1
DFI (%) 14,74 ± 10,62 2-88
Bảng 1. Các chỉ số nền của bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
65
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 62 - 67, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
Tỷ lệ phôi tốt là tỷ lệ phôi loại I và loại II trên 
tổng số phôi thu nhận được. Tỷ lệ phôi tốt trong 
nghiên cứu là 65,6% ± 28,7%. Khi tiến hành đánh 
giá mức độ tương quan giữa chỉ số DFI và tỷ lệ phôi 
tốt, chúng tôi cũng không ghi nhận được sự tương 
quan có ý nghĩa thống kê (r = 0,2, P = 0,15, biểu 
đồ 1C).
Mối tương quan của kết quả điều trị với từng 
nhóm chỉ số DFI khác nhau 
Kết quả lâm sàng thu nhận từ nghiên cứu của 
chúng tôi cho tỷ lệ thai beta-hCG > 25 mIU/mL là 
52%, tỷ lệ thai lâm sàng là 36% và tỷ lệ sẩy thai là 
8% (Bảng 2). Dựa vào phân loại của Evenson và 
cộng sự (1999) chia mức độ phân mảnh DNA tinh 
trùng thành 3 nhóm DFI < 15% [Nhóm 1], 15% ≤ 
DFI ≤ 30% [Nhóm 2], DFI > 30% [Nhóm 3]. Kết 
quả từ nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thai beta-hCG 
>2 5 mIU/mL không có khác biệt giữa 3 nhóm 
DFI, 49% ở nhóm 1 (OR = 0,99 CI 0,84-1,17, P 
= 0,89), 57% ở nhóm 2 (OR = 1 CI 0,86-1,17, P 
= 0,97) và 60% ở nhóm 3 (OR = 0,84, CI 0,52-
1,35). Kết quả ghi nhận không tìm thấy sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ thai lâm sàng ở ba 
nhóm chỉ số DFI, tương ứng là 33% (OR = 0,99, CI 
0,83-1,18, P = 0,92), 47% (OR = 1,02, CI 0,87-
Các chỉ số Giá trị (n = 160)
Tỷ lệ thụ tinh (%) 84,76 ± 14,32
Tỷ lệ tạo phôi ngày 3 (%) 72,81 ± 21,19
Tỷ lệ phôi loại 1-2 ngày 3 (%) 65,6 ± 28,7
Tỷ lệ beta-hCG > 25 mIU/mL 52% (50/96)
Tỷ lệ thai lâm sàng (%) 36% (35/96)
Tỷ lệ sẩy thai (%) 8% (8/96)
Bảng 2. Các chỉ số ICSI và kết quả điều trị
Biểu đồ 1. Mô tả mối tương quan của DFI với các chỉ số trong ICSI
Chú thích: (A) Mối tương quan giữa tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ phân mảnh DNA tinh trùng, (B) Mối 
tương quan giữa tỷ lệ tạo phôi ngày 3 và tỷ lệ phân mảnh DNA tinh trùng, (C) Mối tương quan 
giữa tỷ lệ phôi tốt ngày 3 và tỷ lệ phân mảnh DNA tinh trùng.
1,20, P = 0,77) và 20% (OR = 0,75, CI 0,29-1,93, 
P = 0,56). Tỷ lệ sẩy thai ở nhóm 1 là 6,5% (OR = 
0,80 CI 0,55-1,17, P = 0,25), nhóm 2 là 13,3% 
(OR = 1,03, CI 0,82-1,29, P = 0,99), ở nhóm 3 
có ít mẫu (4 mẫu trên tổng số 160 mẫu tinh trùng 
được phân tích DFI) nên không đủ số liệu sẩy thai 
để đánh giá mối tương quan (Bảng 3). 
4. Bàn luận
Nhiều nghiên cứu trên thế giới khẳng định 
rằng phân mảnh DNA tinh trùng có mối tương 
quan nghịch với khả năng có con tự nhiên của 
người nam. Trong khi các xét nghiệm về sự phân 
mảnh DNA có khả năng tiên lượng tốt về kết quả 
có thai tự nhiên, thì việc đánh giá trong IVF và 
ICSI còn nhiều tranh luận. Theo Saleh và cộng 
sự (2003), chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng 
tương quan nghịch với tỷ lệ thụ tinh (r = -0,70) 
và chất lượng phôi (r = -0,70)[10]. Kết quả của 
Muriel và cộng sự (2006) cho thấy tỷ lệ thụ tinh 
trong điều trị ICSI có mối tương quan nghịch 
với phân mảnh DNA tinh trùng được xét nghiệm 
bằng phương pháp SCD (sperm chromatin 
dispersion) (r = -0,245, P = 0,045) [17]. Theo 
Mehdi và cộng sự, phân mảnh DNA tinh trùng 
khảo sát bằng TUNEL cho tỷ lệ thai lâm sàng 
thấp khi thực hiện ICSI và hầu như không có thai 
lâm sàng khi DFI >20%[11]. 
Kết quả thu nhận được từ SCD có mối tương 
quan tốt với các xét nghiệm DNA khác như là 
SCSA và TUNEL[12, 13]. Mặc dù SCSA (sperm 
chromatin structure assay) là phương pháp 
đánh giá phân mảnh DNA tinh trùng tốt nhất, 
nhưng những phương pháp khác như là TUNEL 
(terminal deoxynucleotidyl transferase mediated 
terminal uridine nick-end labeling), Comet, SCD 
Nhóm DFI 
(%)
(Nhóm 1) 30
OR P OR P OR P
BETA h-CG 
> 25 mIU/
mL
49%
0,99 (0,84-1,17) 0,89
57%
1 (0,86-1,17) 0,97
60%
0,84 (0,52-1,35) 0,48
Thai lâm 
sàng
33%
0,99 (0,83-1,18) 0,92
47%
1,02 (0,87-1,20) 0,77
20%
0,75 (0,29-1,93) 0,56
Sẩy thai 6,5%0,80 (0,55-1,17) 0,25
13,3%
1,03 (0,82-1,29) 0,99 0%
Bảng 3. Tỷ số nguy cơ cho beta-hCG > 25 mIU/mL, thai lâm sàng và sẩy thai khi chuyển phôi 
của các cặp vợ chồng ở 3 nhóm DFI.
NGUYỄN THỊ QUỲNH TIÊN, MÃ PHẠM QUẾ MAI, DƯƠNG NGUYỄN DUY TUYỀN, NGUYỄN MINH TÀI LỘC, NGUYỄN TRƯƠNG THÁI HÀ
66
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
N
G
H
IÊ
N
 C
Ứ
U
đã được triển khai xét nghiệm lâm sàng. SCD 
là phương pháp đơn giản và rẻ tiền nhất có thể 
thực hiện khi sử dụng kính hiển vi quang học để 
đánh giá. 
Trong nghiên cứu này của chúng tôi, mức 
độ phân mảnh DNA tinh trùng được đánh giá 
bằng phương pháp SCD, không tìm thấy khác 
biệt ở tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi ngày 3, tỷ lệ 
tạo phôi hữu dụng giữa ba nhóm DFI. Qua kết 
quả này, có thể thấy rằng tiềm năng phát triển 
phôi không chịu ảnh hưởng bởi tỷ lệ phân mảnh 
DNA tinh trùng cho đến giai đoạn phôi ngày 3, 
đây là giai đoạn bộ gen phôi được hoạt hóa, 
phôi có thể sửa chữa những tổn thương của DNA 
tinh trùng[14]. Hiện tại, trung tâm của chúng tôi 
chuyển phôi ngày 3 được chỉ định ban đầu cho 
cặp vợ chồng điều trị nên trong nghiên cứu này, 
chúng tôi đánh giá hiệu quả điều trị đến phôi 
ngày 3. Hơn nữa, đánh giá hiệu quả điều trị đến 
giai đoạn phôi nang cho số liệu ít, không có ý 
nghĩa thống kê. Kết quả này cũng trùng khớp với 
một số các nghiên cứu khác khi sử dụng phương 
pháp khác nhau để đánh giá phân mảnh DNA 
tinh trùng. Karydis và cộng sự (2005) thực hiện 
trên 154 chu kỳ ICSI, phân mảnh DNA tinh 
trùng được đánh giá bằng kính hiển vi huỳnh 
quang sau khi nhuộm bằng Chromomycin A3, 
kết quả nghiên cứu cho thấy phân mảnh DNA 
tinh trùng không ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh, tỷ 
lệ phôi tốt và tỷ lệ thai lâm sàng (P > 0,05)[15]. 
Một nghiên cứu khác của Benchaib và cộng sự 
(2003) thực hiện trên 104 bệnh nhân điều trị 
bằng phương pháp IVF (50 bệnh nhân) và ICSI 
(54 bệnh nhân), kết quả cho thấy không có mối 
tương quan giữa phân mảnh DNA (được đánh 
giá bằng phương pháp TUNEL) và chất lượng 
phôi[11,16].
Ngoài ra, chúng tôi có đánh giá mối tương 
quan giữa phân mảnh DNA tinh trùng và kết 
quả thai lâm sàng. Trong nghiên cứu này, ở ba 
nhóm DFI đều không cho thấy có khác biệt ở kết 
quả thai lâm sàng sau khi thực hiện ICSI. Nghiên 
cứu của Muriel và cộng sự (2006) sử dụng xét 
nghiệm SCD và Halosperm cho thấy không có 
tương quan giữa phân mảnh DNA tinh trùng và 
thai lâm sàng[17]. Điều này có thể giải thích là 
trong quá trình lựa chọn phôi trước khi chuyển, 
những phôi được đánh giá kém chất lượng sẽ 
không được lựa chọn để chuyển phôi. Vì vậy, chỉ 
số DFI của mẫu tinh trùng sẽ không ảnh hưởng 
đến kết quả thai lâm sàng. Tuy nhiên, DFI > 27% 
(đánh giá bằng phương pháp SCSA) là giá trị 
tiên lượng cho chu kỳ điều trị không có kết quả 
thai lâm sàng[18]. Một nghiên cứu khác cũng 
cho kết quả tương tự, DFI đánh giá bằng phương 
pháp TUNEL có tương quan nghịch với tỷ lệ thai 
lâm sàng (P = 0,034)[19]. Nhóm DFI > 30% có 
ít ca (n = 4) và không có ca nào sẩy thai nên 
không đánh giá được mối tương quan giữa ba 
nhóm DFI. Một nghiên cứu tổng hợp của Lynne 
và cs (2012) thực hiện trên 2.969 bệnh nhân 
cho thấy tỷ lệ sẩy thai cao hơn đáng kể ở những 
mẫu có chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng cao (P 
< 0,00001, r = 2,16)[20].
Trong các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, ICSI là 
một kỹ thuật giúp loại bỏ được các hàng rào 
trong thụ tinh tự nhiên và từ đó một tinh trùng 
có DNA phân mảnh vẫn có khả năng thụ tinh 
và kết quả cuối cùng là thụ thai. Vì vậy, kết quả 
đánh giá phân mảnh DNA tinh trùng sẽ có hữu 
ích hơn trong việc tiên lượng khả năng có con tự 
nhiên và tỷ lệ thành công trong một chu kỳ điều 
trị hiếm muộn. 
5. Kết luận
Trong nghiên cứu này, kết quả không ghi 
nhận bất kỳ các chỉ số nào của ICSI bao gồm: tỷ 
lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi ngày 3, tỷ lệ phôi hữu 
dụng ngày 3, tỷ lệ beta-hCG > 25 mlU/mL, tỷ lệ 
thai lâm sàng và tỷ lệ sẩy thai chịu ảnh hưởng 
bởi mức độ phân mảnh DNA tinh trùng. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
67
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 62 - 67, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
Tài liệu tham khảo
1. Mosher WD and Pratt WF. Fecundity and infertility in the United 
States: incidence and trends. Fertil Steril. 1991; 56:192-3.
2. Agarwal, Ashok, Gupta, Sajal, and Sharma, Rakesh K. Role of 
oxidative stress in female reproduction. Reproductive biology and 
endocrinology. RB&E. 2005; 3:28.
3. Aitken KT, Jones SA Robertson. Reactive oxygen species and 
sperm function-in sickness and in health. Journal of Andrology. 2012; 
33(6):1096-1106.
4. Aitken RJ, De luliis GN. Origins and consequences of DNA damage 
in male germ cells. Reprod Biomed Online. 2007; 14(6):727-33.
5. Celik-Ozenci C, Jakab A, Kovacs T, et al. Sperm selection for ICSI: 
shape properties do not predict the absence or presence of numerical 
chromosomal aberrations. Hum Reprod. 2004; 19(9):2052-9.
6. Avendano C and Oehninger S. DNA fragmentation in morphologically 
normal spermatozoa: how much should we be concerned in the ICSI 
era? J Androl. 2011; 32(4):356-63.
7. Ryan T. Schulte, Dana A and Gary D. Smith. Sperm DNA damage 
in male infertility: etiologies, assays, and outcomes. J Assist Reprod 
Genet. 2010; 27(1):3-12. 
8. World Health Organisation (2010). WHO laboratory manual for the 
Examination and processing of human semen, 5th edition.
9. Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special 
Interest Group of Embryology. The Istanbul consensus workshop on 
embryo assessment: preceedings of an expert meeting. Hum Reprod. 
2011; 26(6):1270 – 1283.
10. Saleh RA, Agarwal A, Nada EA, El-Tonsy MH, Sharma RK, Meyer 
A, Nelson DR, Thomas AJ. Negative effects of increased sperm DNA 
damage in relation to seminal oxidative stress in men with idiopathic and 
male factor infertility. Fertil Steril. 2003; 3:1597-605.
11. Mehdi Benchaib, Valerie Braun, Jacqueline Lornage, Samia Hadj, 
Bruno Salle, Herve Lejeune and Jean Francois Guerin. Sperm DNA 
fragmentation decreases the pregnancy rate in an assisted reproductive 
technique. Hum Reprod. 2003;18(5):1023-1028.
12. Fernández JL, Muriel L, Goyanes V, Segrelles E, Gosálvez 
J, Enciso M, et al. Simple determination of human sperm DNA 
fragmentation with an improved sperm chromatin dispersion (SCD) test. 
Fertil Steril. 2005; 84(4):833-42.
13. Chohan KR, Griffin JT, Lafromboise M, De Jonge CJ, Carrell DT. 
Comparison of chromatin assays for DNA fragmentation evaluation in 
human sperm. Andrology. 2006; 27:53-9.
14. Braude P, Bolton V, Moore S. Human gene expression first occurs 
between the four-and eight-cell stages of preimplatation development. 
Nature. 1988; 332:459-461.
15. Karydis S, Asimakopoulos B, Papadopoulos N, Vakalopoulos, 
AI-Hasani S, Nikolettos N. ICSI outcome is not associated with the 
incidence of spermatozoa with abnormal chromatin condensation. In-
Vivo. 2005; 19(5):921-925.
16. Abu-Hassan D, Koester F, Shoepper B, Schultze-Mosgau A, 
Asimakopoulos B, Diedrich K et.al. Comet assay of cumulus cells and 
spermatozoa DNA status, and the relationship to oocyte fertilization and 
embryo quality following ICSI. Reprod Biomed Online. 2006; 12(4): 447-452.
17. Muriel L, Garrido N, Fernández JL, Remohí J, Pellicer A, de 
los Santos MJ, et al. Value of the sperm deoxyribonucleic acid 
fragmentation level as measured by the sperm chromatin dispersion 
test, in the outcome of in vitro fertilization and intracytoplasmic sperm 
injection. Fertil Steril. 2006; 85: 371-383.
18. Larson-Cook KL, Brannian JD, Hansen KA, Kasper-son KM, Aamold 
ET, Evenson DP. Relationship between the outcomes of assisted 
reproductive techniques and sperm DNA fragmentation as measured by 
the sperm chromatin structure assay. Fertil Steril. 2003; 80(4):895-902.
19. Henkel R, Hajimohammad M, Stalf T. Influence of deoxyribonucleic 
acid damage on fertilization and pregnancy. Fertil Steril. 2004; 81:965-972.
20. Lynne Robinson, Loannis D.Gallos, Sarah J. Conner, Madhurima 
Rajkhowa, David Miller, Sheena Lewis, Jackson Kirkman-Brown, Arri 
Coomarasamy. The effect of sperm DNA fragmentation on miscarriage rates: a 
systematic review and meta-analysis. Hum Reprod. 2012; 27(10): 2908-2917.

File đính kèm:

  • pdfmoi_tuong_quan_cua_chi_so_phan_manh_dna_tinh_trung_va_ket_qu.pdf