Mối liên quan giữa phơi nhiễm nghề nghiệp với formaldehyde và các bệnh hô hấp, bệnh ngoài da tại các công ty sản xuất gỗ các tỉnh Đông Nam Bộ năm 2018
Để sản xuất được các mặt hàng đồ gỗ cần sử dụng các loại keo dán với thành phần chính là
formaldehyde 37%. Tỷ lệ phơi nhiễm với formaldehyde vượt ngưỡng quy định là 27,4%. Hiện nay,
chưa có phác đồ chẩn đoán bệnh nghề nghiệp do tiếp xúc với formaldehyde tại Việt Nam nên
nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp bằng chứng về các tác động của formaldehyde
lên bệnh lý hô hấp và bệnh ngoài da của người lao động tại các công ty sản xuất gỗ. Mục tiêu
nghiên cứu là Xác định mối liên quan giữa phơi nhiễm nghề nghiệp với formaldehyde và một số
bệnh hô hấp, bệnh ngoài da của người lao động tại các công ty sản xuất gỗ các tỉnh Đông Nam
Bộ. Nghiên cứu cắt ngang thực hiện khám tổng quát cho 519 người lao động có tiếp xúc với
formaldehyde trong ngành công nghiệp chế biến gỗ tại các tỉnh Đông Nam Bộ. Nồng độ tiếp xúc
với formaldehyde của người lao động được đo bằng thiết bị đo liều cá nhân liên tục trong 8 giờ
làm việc. Mối liên quan giữa các biến số được xác định bằng phân tích hồi qui đơn biến với mức
có ý nghĩa p<0,05. mối="" liên="" quan="" giữa="" việc="" tiếp="" xúc="" với="" nồng="" độ="" formaldehyde="" vượt="" giới="" hạn="">0,05.>
phép (>0,5mg/m3 trong 8 giờ) và bệnh viêm họng (PR=1,73; KTC 95% 1,16-2,60), viêm mũi
(PR=2,19; KTC 95% 1,23-3,90), giảm chức năng hô hấp (PR=1,8; KTC 95% 1,01-3,24) và viêm
da dị ứng (PR=1,88; KTC 95% 1,13-3,14). Các công ty cần lưu ý các triệu chứng hô hấp và da
liễu khi khám tuyển dụng. Đồng thời, kết quả nghiên cứu này hỗ trợ phát triển tiêu chuẩn chẩn
đoán cho bệnh nghề nghiệp do tiếp xúc với formaldehyde.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối liên quan giữa phơi nhiễm nghề nghiệp với formaldehyde và các bệnh hô hấp, bệnh ngoài da tại các công ty sản xuất gỗ các tỉnh Đông Nam Bộ năm 2018
93
Kết quả nghiên cứu KHCN
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 4,5&6-2019
MỐI LIÊN QUAN GIỮA PHƠI NHIỄM NGHỀ NGHIỆP
VỚI FORMALDEHYDE VÀ CÁC BỆNH HÔ HẤP,
BỆNH NGOÀI DA TẠI CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT GỖ
CÁC TỈNH ĐÔNG NAM BỘ NĂM 2018
Bs.CK1. Võ Quang Đức
Phân viện Khoa học An toàn Vệ sinh lao động và Bảo vệ Môi trường miền Nam
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Formaldehyde (FA) là một chất khíkhông màu ở nhiệt độ thường, tantrong nước. Người tiếp xúc với
formaldehyde ngay cả với thời gian ngắn cũng
có thể bị kích thích, viêm cấp [3]. Từ 2009, tại
Pháp, phơi nhiễm nghề nghiệp với formalde-
hyde đã được công nhận là bệnh nghề nghiệp.
Các ảnh hưởng thường gặp của formaldehyde
và polyme của chúng bao gồm: viêm mũi, hen
suyễn, loét da, chàm, viêm da [2].
Người lao động làm việc tại các vị trí có tiếp
xúc với FA đều có nguy cơ nhiễm độc, đặc biệt
là tại nơi làm việc thiếu các thiết bị bảo hộ lao
động, điều kiện thông khí không đảm bảo, không
Tóm tắt:
Để sản xuất được các mặt hàng đồ gỗ cần sử dụng các loại keo dán với thành phần chính là
formaldehyde 37%. Tỷ lệ phơi nhiễm với formaldehyde vượt ngưỡng quy định là 27,4%. Hiện nay,
chưa có phác đồ chẩn đoán bệnh nghề nghiệp do tiếp xúc với formaldehyde tại Việt Nam nên
nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp bằng chứng về các tác động của formaldehyde
lên bệnh lý hô hấp và bệnh ngoài da của người lao động tại các công ty sản xuất gỗ. Mục tiêu
nghiên cứu là Xác định mối liên quan giữa phơi nhiễm nghề nghiệp với formaldehyde và một số
bệnh hô hấp, bệnh ngoài da của người lao động tại các công ty sản xuất gỗ các tỉnh Đông Nam
Bộ. Nghiên cứu cắt ngang thực hiện khám tổng quát cho 519 người lao động có tiếp xúc với
formaldehyde trong ngành công nghiệp chế biến gỗ tại các tỉnh Đông Nam Bộ. Nồng độ tiếp xúc
với formaldehyde của người lao động được đo bằng thiết bị đo liều cá nhân liên tục trong 8 giờ
làm việc. Mối liên quan giữa các biến số được xác định bằng phân tích hồi qui đơn biến với mức
có ý nghĩa p<0,05. Mối liên quan giữa việc tiếp xúc với nồng độ formaldehyde vượt giới hạn cho
phép (>0,5mg/m3 trong 8 giờ) và bệnh viêm họng (PR=1,73; KTC 95% 1,16-2,60), viêm mũi
(PR=2,19; KTC 95% 1,23-3,90), giảm chức năng hô hấp (PR=1,8; KTC 95% 1,01-3,24) và viêm
da dị ứng (PR=1,88; KTC 95% 1,13-3,14). Các công ty cần lưu ý các triệu chứng hô hấp và da
liễu khi khám tuyển dụng. Đồng thời, kết quả nghiên cứu này hỗ trợ phát triển tiêu chuẩn chẩn
đoán cho bệnh nghề nghiệp do tiếp xúc với formaldehyde.
Từ khóa: bệnh hô hấp, bệnh da liễu, cơ sở chế biến gỗ, formaldehyde, phơi nhiễm nghề
nghiệp.
94
được hướng dẫn những quy tắc an toàn hoặc
thiếu hiểu biết về tác hại của FA. Tuy nhiên, hiện
nay chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của
phơi nhiễm formaldehyde nghề nghiệp và các
bệnh đường hô hấp, da liễu của người lao động
tại Việt Nam. Đặc biệt, bệnh do phơi nhiễm
formaldehyde chưa được xếp vào danh mục
những bệnh nghề nghiệp cần được bảo hiểm.
Mặc dù FA được sử dụng trong nhiều ngành
nghề khác nhau nhưng với FA được sử dụng với
số lượng lớn, số người tiếp xúc lên đến hàng
trăm ngàn, chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu
là người lao động ngành chế biến gỗ.
Với nhiều điều kiện thuận lợi về mặt tự nhiên,
vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, nguồn lao động dồi
dào,[ vùng Đông Nam Bộ đã và đang tạo điều
kiện cho nhiều ngành nghề phát triển, trong đó
có ngành công nghiệp chế biến gỗ. Trong số các
doanh nghiệp gỗ trên cả nước, vùng Đông Nam
Bộ có 2.352 doanh nghiệp, tương ứng gần 60%.
Số người lao động làm việc trong môi trường có
FA cũng cao đáng kể. Chúng tôi thực hiện
nghiên cứu với mục tiêu xác định mối liên quan
giữa phơi nhiễm nghề nghiệp với FA trong môi
trường lao động và một số bệnh hô hấp, bệnh da
liễu. Đây cũng là bước đầu đề xuất bệnh nhiễm
độc formaldehyde vào danh mục bệnh nghề
nghiệp được bảo hiểm tại Việt Nam.
Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa phơi
nhiễm nghề nghiệp với formaldehyde và một số
bệnh hô hấp, bệnh ngoài da của người lao động
tại các công ty sản xuất gỗ các tỉnh Đông Nam Bộ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp
cắt ngang. Chọn ngẫu nhiên 6 cơ sở chế biến gỗ
có quy mô trên 100 nhân công và thực hiện quan
trắc nồng độ FA tại các vị trí khác nhau của cơ
sở. Các vị trí này phải là vị trí đang hoạt động
trong thời gian nghiên cứu. Cỡ mẫu được ước
tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ, với độ
tin cậy 95%. Các đối tượng tham gia được khám
tổng quát các chuyên khoa nhằm phát hiện các
bệnh lý hiện mắc. Mẫu FA liều cá nhân của 519
người lao động làm việc tại đây sẽ được thu
thập liên tục trong suốt ca làm việc 8 giờ và
được phân tích trong phòng thí nghiệm. Đối
tượng được cho là có phơi nhiễm với FA khi có
tiếp xúc với FA trong 8 giờ làm việc với nồng độ
trên 0,5mg/m3 theo Quyết định 3733/2002/QĐ-
BYT ngày 10/10/2002 của Bộ Y tế.
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Nồng độ formaldehyde tại các cơ sở
Qua kết quả đo môi trường (Bảng 1) cho thấy:
tất cả các vị trí lao động được quan trắc đều phát
hiện có formaldehyde và toàn bộ người lao động
làm việc tại các vị trí này đều phơi nhiễm với
formaldehyde trong quá trình làm việc. Có 3 cơ
sở (50% cơ sở tham gia nghiên cứu) có nồng độ
FA trong môi trường vượt ngưỡng giới hạn là
0,5mg/m3. Trong quá trình sản xuất, người lao
động chủ yếu thực hiện các thao tác thủ công,
máy móc thô sơ. Quá trình sản xuất sinh nhiệt là
điều kiện thuận lợi để phát tán FA trong không
khí. Đặc biệt, tại cơ sở 6 có công đoạn sản xuất
keo phục vụ trực tiếp cho quy trình sản xuất gỗ
tại nhà máy do đó kết quả nồng độ FA tại một số
vị trí vượt giới hạn nhiều lần. Một số khu vực có
Kết quả nghiên cứu KHCN
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 4,5&6-2019
Bảng 1. Tổng hợp kết quả nồng độ FA tại các cơ sở chế biến đồ gỗ
Thông sӕ &ѫ Vӣ 1 &ѫ Vӣ 2 &ѫ Vӣ 3 &ѫ Vӣ 4 &ѫ Vӣ 5 &ѫ Vӣ 6
Giӟi hҥn cho phép: PJP3
Sӕ mүu 25 52 49 50 36 45
KӃt quҧ 0,52 0,46 0,4 0,45 0,62 0,73
SD 0,17 0,15 0,14 0,15 0,13 0,25
Min 0,19 0,04 0,08 0,09 0,16 0,23
Max 0,72 0,72 0,63 0,70 0,75 1,42
95
Kết quả nghiên cứu KHCN
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 4,5&6-2019
hệ thống thông gió, hút bụi cục bộ hoạt động
kém, chưa đảm bảo tiêu chuẩn. Nghiên cứu của
tác giả Đỗ Thị Việt Hương và cộng sự (2016) xác
định ô nhiễm FA trong môi trường không khí tại
một số khu vực làm việc liên quan đến đồ gỗ, nội
thất cũng cho thấy kết quả tương tự. Cụ thể,
trong số 36 mẫu không khí phân tích phát hiện có
18 mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép. Đồng thời,
nồng độ FA ở các cửa hàng đồ gỗ cao hơn
những cửa hàng quần áo nhiều lần [1]. Nhiều
nghiên cứu tương tự xác định nồng độ FA trong
ngành chế biến gỗ tại Trung Quốc cũng đã được
thực hiện. Một nghiên cứu thực hiện lấy 104 mẫu
không khí trong ngành gỗ công nghiệp cho kết
quả nồng độ FA trung bình là 3,07±5,83mg/m3
với nồng độ thấp nhất là 0,7 và cao nhất lên đến
19,2mg/m3 [4].
3.2. Tiếp xúc với FA vượt giới hạn cho phép
Kết quả nghiên cứu ở Bảng 2 cho thấy: có
142 người lao động phơi nhiễm với formalde-
hyde vượt giới hạn cho phép (>0,5mg/m3) trung
bình 8 giờ theo Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT
ngày 10/10/2002 của Bộ Y tế với tỷ lệ là 27,4%.
Nghiên cứu tại Trung Quốc cũng đã ước tính liều
tiếp xúc trung bình của một người bình thường
cho kết quả phơi nhiễm trung bình là 0,21mg/m3
mỗi giờ trong một ngày (không bao gồm phơi
nhiễm từ thức ăn). Còn đối với người lao động ở
các doanh nghiệp có thể phơi nhiễm nghề nghiệp
với FA trung bình từ 0,58 đến 0,61mg/m3 mỗi giờ
và vượt giới hạn cho phép của Trung Quốc [4].
Nghiên cứu của chúng tôi chưa thu thập được
nồng độ FA người lao động tiếp xúc mà chỉ xác
định ngưỡng vượt và không vượt giới hạn cho
phép trong thời gian suốt ca làm việc.
3.3. Mối liên quan giữa phơi nhiễm nghề
nghiệp với formaldehyde và một số bệnh hô
hấp, bệnh ngoài da
Qua kết quả nghiên cứu tìm thấy: mối liên
quan có ý nghĩa thống kê giữa việc tiếp xúc với
nồng độ formaldehyde vượt giới hạn cho phép
(>0,5mg/m3) và bệnh viêm họng, viêm mũi, biến
đổi chức năng hô hấp, viêm da dị ứng ở người lao
động tại các công ty chế biến gỗ (Bảng 3). Các kết
quả nghiên cứu tìm thấy có những phù hợp với
tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh nghề nghiệp do phơi
nhiễm formaldehyde của Viện nghiên cứu khoa
học Quốc gia tại Pháp (INRS) từ năm 2009 [12].
Theo INRS, các đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi
tác hại của FA và các hợp chất của FA bao gồm
những người điều chế, sử dụng, xử lý FA và các
hợp chất FA, các công việc thực hiện có chứa FA
dư. Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên đối
tượng là người lao động làm việc trực tiếp tại các
khâu của quy trình sản xuất, chế biến sản phẩm
gỗ như chà, mộc tay, mộc máy, nấu keo,... mà tại
các vị trí này đều phát hiện có nồng độ FA khi thực
hiện quan trắc môi trường. Các bệnh do ảnh
hưởng của FA và các hợp chất FA đã được xác
định bởi INRS bao gồm viêm mũi, hen suyễn,
viêm da, loét da và tổn thương dạng chàm.
Nghiên cứu của chúng tôi có những kết quả
tương tự với tiêu chuẩn chẩn đoán này bao gồm
viêm họng, viêm mũi, biến đổi chức năng hô hấp,
viêm da dị ứng. Đây cũng là những tiêu chuẩn
chẩn đoán mà chúng tôi đề xuất để đưa bệnh do
phơi nhiễm nghề nghiệp với FA vào danh mục
bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở Việt Nam.
IV. KẾT LUẬN
Người lao động phơi nhiễm với formaldehyde
vượt giới hạn cho phép (>0,5mg/m3) trung bình
8 giờ theo Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT ngày
10/10/2002 của Bộ Y tế với tỷ lệ là 27,4%.
Bảng 2. Tỷ lệ người lao động tiếp xúc với nồng
độ FA vượt giới hạn cho phép
&ѫ Vӣ
TiӃp xúc vӟi nӗQJ ÿӝ
IRUPDOGHK\GH Yѭӧt giӟi hҥn
cho phép
Tҫn sӕ QJѭӡi) Tӹ lӋ (%)
&ѫ Vӣ 1 23 4,8
&ѫ Vӣ 2 33 6,4
&ѫ Vӣ 3 23 4,4
&ѫ Vӣ 4 11 2,1
&ѫ Vӣ 5 15 2,9
&ѫ Vӣ 6 35 6,7
Tәng cӝng 142 27,4
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 4,5&6-2019
Kết quả nghiên cứu KHCN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Thị Việt Hương, Mai Văn Hợp, Đỗ
Quang Huy, Bùi Văn Năng (2016) "Xác định ô
nhiễm fomanđehit trong môi trường không khí
tại một số khu vực làm việc thuộc thành phố
Hà Nội". Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các
Khoa học Trái đất và Môi trường, 32 (1S), tr.
198-203
2. Institut National De La Recherche Scientifique
(2009) "Tableau n°43 RG : Affections provo-
quées par l'aldéhyde formique et ses
polymères".
3. Mehmet İnci, İsmail Zararsız, Mürsel Davarcı,
Sadık Görür (2013) "Toxic effects of formalde-
hyde on the urinary system". Turkish Journal of
Urology, 39 (1), pp.48-52.
4. Xiaojiang Tang, Yang Bai, Anh Duong, Martyn
T. Smith (2009) "Formaldehyde in China:
Production, consumption, exposure levels, and
health effects". Environment International, 35,
pp.1210–1224.
Có mối liên quan giữa người lao động tại các
công ty chế biến gỗ. tiếp xúc với nồng độ
formaldehyde vượt giới hạn cho phép
(>0,5mg/m3 trong 8 giờ) với bệnh viêm họng
(PR=1,73; KTC 95% 1,16-2,60), viêm mũi
(PR=2,19; KTC 95% 1,23-3,90), giảm chức năng
hô hấp (PR=1,8; KTC 95% 1,01-3,24) và viêm
da dị ứng (PR=1,88; KTC 95% 1,13-3,14).
V. KIẾN NGHỊ
Tại các cơ sở chế biến gỗ mặc dù đã được
trang bị hệ thống thông gió, tuy nhiên lượng bụi
và hơi khí độc phát sinh trong môi trường làm
việc vẫn còn đáng kể. Vì vậy, các doanh nghiệp
cần thực hiện các biện pháp nhằm kiểm soát
nồng độ formaldehyde để giảm tác hại bệnh do
tiếp xúc với formaldehyde. Cụ thể, ngoài việc lựa
chọn các loại keo dán gỗ thay thế, cần lưu ý các
triệu chứng hô hấp và da liễu khi khám tuyển
dụng. Nghiên cứu này cũng hỗ trợ cho các
chuyên gia phát triển phác đồ chẩn đoán bệnh
nghề nghiệp do tiếp xúc với formaldehyde tại
Việt Nam.
96
Bảng 3. Mối liên quan giữa phơi nhiễm với nồng độ formaldehyde vượt giới hạn cho phép và các
bệnh qua thăm khám (N=519)
Ĉһc tính
NӗQJ ÿӝ IRUPDOGHK\GH Yѭӧt
giӟi hҥn (>0,5 mg/m3)
p PR (KTC 95%) Có
n (%)
Không
n (%)
Viêm hӑng
Có
Không
Viêm mNJL
Có
Không
32 (22,5)
110 (77,5)
19 (13,4)
123 (86,6)
49 (13,0)
328 (87,0)
23 (6,1)
354 (93,9)
<0,01
<0,01
1,73 (1,16-2,60)
2,19 (1,23-3,90)
BiӃQ ÿәi chӭF QăQJ K{ Kҩp
Có
Không
17 (12,0)
125 (88,0)
25 (6,6)
352 (93,4)
0,047 1,80 (1,01-3,24)
Viêm da dӏ ӭng
Có
Không
22 (15,5)
120 (84,5)
31 (8,2)
346 (91,8)
0,01 1,88 (1,13-3,14)
File đính kèm:
moi_lien_quan_giua_phoi_nhiem_nghe_nghiep_voi_formaldehyde_v.pdf

