Mối liên quan giữa nồng độ CRP và tiên lượng đột quỳ do thiếu máu não cấp

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỳ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai sau nhồi máu cơ tim và là vấn đề

phổ biến trong thực hành thần kinh.

Nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng CRP, một dấu ấn sinh học phản ánh tình

trạng viêm nhiễm, cũng có vai trò trong xơ vữa mạch máu. Các nghiên cứu đã phát hiện ra

phản ứng viêm là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng trong cơ chế gây phù não sau

đột quỳ thiếu máu não cũng nhƣ gây tổn thƣơng não thứ phát nặng nề hơn.

CRP đã đƣợc nghiên cứu nhiều trong tim mạch, nhiễm trùng.nhƣng trong đột quỳ vẫn

còn khá mới mẻ. Gần đây, nhiều nghiên cứu CRP trên bệnh nhân đột quỳ cho thấy rằng:

nồng độ CRP cao liên quan với tình trạng đột quỳ, dự hậu và các biến cố mạch máu trong

tƣơng lai. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát mối liên quan giữa nồng độ

CRP và tiên lƣợng bệnh nhân đột quỳ do thiếu máu não cấp.

pdf 7 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Mối liên quan giữa nồng độ CRP và tiên lượng đột quỳ do thiếu máu não cấp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối liên quan giữa nồng độ CRP và tiên lượng đột quỳ do thiếu máu não cấp

Mối liên quan giữa nồng độ CRP và tiên lượng đột quỳ do thiếu máu não cấp
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 174 
MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ CRP VÀ TIÊN LƢỢNG 
ĐỘT QUỲ DO THIẾU MÁU NÃO CẤP 
Bs Nguyễn Ngọc Túy, Bs Nguyễn Văn Ngọc Răng, 
Bs RoHaNy, ĐD Nguyễn Thị Chi. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Đột quỳ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai sau nhồi máu cơ tim và là vấn đề 
phổ biến trong thực hành thần kinh. 
Nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng CRP, một dấu ấn sinh học phản ánh tình 
trạng viêm nhiễm, cũng có vai trò trong xơ vữa mạch máu. Các nghiên cứu đã phát hiện ra 
phản ứng viêm là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng trong cơ chế gây phù não sau 
đột quỳ thiếu máu não cũng nhƣ gây tổn thƣơng não thứ phát nặng nề hơn. 
CRP đã đƣợc nghiên cứu nhiều trong tim mạch, nhiễm trùng...nhƣng trong đột quỳ vẫn 
còn khá mới mẻ. Gần đây, nhiều nghiên cứu CRP trên bệnh nhân đột quỳ cho thấy rằng: 
nồng độ CRP cao liên quan với tình trạng đột quỳ, dự hậu và các biến cố mạch máu trong 
tƣơng lai. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát mối liên quan giữa nồng độ 
CRP và tiên lƣợng bệnh nhân đột quỳ do thiếu máu não cấp. 
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 
3.1. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT: 
Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ CRP và tiên lƣợng bệnh nhân đột quỳ do 
thiếu máu não cấp. 
3.2. MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT: 
 - Đánh giá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân đột quỳ thiếu máu não cấp. 
 - Phân tích mối tƣơng quan giữa nồng độ CRP trong máu lúc nhập viện và tình trạng 
bệnh nhân đột quỳ thiếu máu não trong giai đoạn cấp. 
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu: 
Tất cả bệnh nhân đột quỳ thiếu máu não cấp lần đầu tiên nhậpviện tại khoa Nội Tổng 
Hợp bệnh viện ĐKKV tỉnh An Giang thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ đƣợc đƣa vào nghiên 
cứu. 
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu: 
 -Thiết kế nghiên cứu: Phƣơng pháp cắt ngang mô tả hàng loạt case, tiền cứu. 
 - Kỹ thuật chọn mẫu: Kỹ thuật chọn mẫu không xác xuất 
 - Tiêu chuẩn chọn mẫu: 
 Bệnh nhân đƣợc chẩn đoán đột quỳ theo tiêu chuẩn của WHO và CT Scan não 
không có dấu hiệu xuất huyết. 
 Thời gian từ lúc khởi phát triệu chứng đến thời điểm khám bệnh lần đầu tại bệnh 
viện ĐKKV Tỉnh không quá 24 giờ. 
 - Tiêu chuẩn loại trừ: 
 Có các bệnh lý gây phản ứng viêm nhƣ: Viêm phổi, nhiễm trùng tiểu, sốt, viêm 
khớp, bệnh tự miễn, chấn thƣơng, nhồi máu cơ tim, 
 Có các bệnh về gan nhƣ viêm gan, xơ gan 
4. Nơi thực hiện đề tài: Khoa Nội Tổng Hợp Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh. 
5. Thời gian thực hiện đề tài: Tháng 01/2016 đến tháng 06/2016 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 175 
6. Phƣơng pháp thu thập số liệu: 
 Tất cả bệnh nhân có biểu hiện đột quỳ đƣợc chụp CT não không cản quang ( tính 
thang điểm ASPECT), khám lâm sàng, đánh giá điểm NIHSS, GCS, lấy máu thử CRP và các 
xét nghiệm sinh hóa tại thời điểm nhập viện. Bệnh nhân đƣợc điều trị theo phác đồ tại các 
khoa. 
Phƣơng pháp đánh giá và phân tích số liệu: 
 Số liệu đƣợc mã hóa và làm sạch, kiểm tra tính lô-gic. 
 Số liệu đƣợc nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 
 Trình bày số liệu mô tả: tỷ lệ%, trung bính, độ lệch chuẩn. 
 Trình bày số liệu phân tìch: chi bính phƣơng, T-test, ANOVA. 
 Giá trị p<0.05 được xem như khác biệt có ý nghĩa thống kê. 
4. KẾT QUẢ: 
 Chúng tôi thu thập đƣợc tất cả 89 trƣờng hợp nhồi máu não nhập viện trong vòng 24 giờ. 
Trong đó có 73 ca đủ tiêu chuẩn đƣa vào phân tìch, 16 ca bị loại do sốt, men gan tăng, thâm 
nhiễm phổi, chấn thƣơng, gout. 
 1/ Một số đặc điểm của mẫu: 
 Tuổi trung bình là 64,53, nhỏ nhất là 25 tuổi, lớn nhất 98 tuổi. Nam chiếm 67,65%, nữ 
32,35%. Có 16,18% trƣờng hợp nhập viện sau khởi phát dƣới 3 giờ, tỉ lệ nhập viện sau khởi 
phát 3 -6 giờ là 25%, trên 6 giờ là 58,82%. Tỉ lệ có triệu chứng thần kinh nặng chiếm 
45,59%. Nồng độ CRP trung bình là 4,46 mg/L. Thờ i gian nằm viện trung bình là 5,75 
ngày, sớm nhất là 01 ngày ( do trở nặng, thân nhân xin về) và trễ nhất là 15 ngày. 
 2/ Mối liên quan giữa nồng độ CRP và kích thƣớc nhồi máu tính theo thang điểm 
ASPECT: 
 Điểm ASPECT trung bình là 7,55. Lớn nhất là 10 điểm, nhỏ nhất là 0 điểm. Mối liên 
quan giữa CRP và điểm ASPECT đƣợc trình bày trong bảng sau: 
Bảng 1: Liên quan giữa CRP và ASPECT. 
Kết quả trên cho thấy giữa CRP và ASPECTs có mối tƣơng quan nghịch: Nồng độ CRP 
càng cao thì ASPECTs càng thấp. Tiến hành phân tìch phƣơng sai cho kết quả p<0,0001. 
Nhƣ vậy sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê. 
3/ Mối liên quan giữa phù não của CRP: 
Trong phân nhóm này có tổng cộng 31 ca. Tỉ lệ phù não có 18 ca, chiếm 58,06%. Mối liên 
quan của CRP với phù não đƣợc trình bày trong bảng sau: 
 Bảng 2: Liên quan giữa CRP và phù não 
Biến CRP Không phù não Có phù não Chung 
Số quan sát 13 18 31 
Tổng xếp hạng 132 364 496 
ASPECT 0 1 2 4 5 6 7 8 9 10 Chung 
Số quan 
sát 
3 2 1 3 2 5 5 14 19 14 68 
CRP 16 14.2 33 5 26 3.8 4.2 2.6 1.5 1.0 4.46 
Trung 
bình 
93 5 1 75 8 4 8 7 3 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 176 
Trung bình 3,13 11,82 8,17 
Độ lệch chuẩn 1,98 13,49 11,13 
 p=0,0023. Nhƣ vậy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. 
Một số yếu tố khác liên quan đến phù não: 
Bảng 3: Một số yếu tố khác liên quan phù não 
Biến số Có phù não Không phù não P 
Tuổi Trung Bình 72 57,23 0,0145 
Tuổi 
Nam 
11 
(61,11) 
9 
(69,23) 
0,641 
Nữ 
7 
(38,89) 
4 
(30,77) 
TS 
Tăng 
HA 
Có 
17 
(94.44) 
8 
(61.54) 
0,059 
Không (5.56) 
5 
(38.46) 
TA 
Đái 
Tháo 
Đƣờng 
Có 
3 
(16.67) 
2 
(15.38) 
1,00 
Không 
15 
(83.33) 
11 
(84.62) 
GSC Trung Bình 10,88 12,92 0,0098 
NIHSS Trung Bình 23,83 17,23 <0,0001 
TG 
Nhập 
Viện 
<= 6 giờ 
10 
(55,56) 
2 
(15,38) 
0,023 
> 6 giờ 
8 
(44,44) 
11 
(44,44) 
HA Tâm Thu Trung Bình 156,66 139,23 0,036 
HA Tâm Trƣơng Trung 
Bình 
85,83 80 0,0524 
Số lƣợng BC Trung Bình 
9,32 
(K/uL) 
10,19 
(K/uL) 
0,3468 
Fibrinogen 
Trung bình 
4,43 
(G/L) 
3,89 
(G/L) 
0,279 
Nồng Độ Natri Trung Bình 140,66 137,23 0,107 
Đƣờng huyết lúc nhập viện 
trung bình 
156,16 
(mg/dL) 
117,92 
(mg/dL) 
0,0322 
Rung Nhĩ 
Có 
5 
(27,78) 
0 (0,00) 
0,058 
Không 
13 
(72,22) 
13 
(100) 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 177 
thời gian nhập viện, điểm GCS, điểm NIHSS, đƣờng huyết, huyết áp tâm thu và nồng 
độ CRP. 
Với phân nhóm này, chúng tôi nhận đƣợc 7 biến có ý nghĩa thống kê khi phân tìch đơn 
biến. Đó là tuổi, 
Kết quả phân tích hồi quy đa biến logistic: 
Tất cả 7 biến có ý nghĩa th ống kê trong phần phân tìch đơn biến liên quan phù não đƣợc đƣa 
vào phân tích hồi quy đa biến logistic để tìm ra những biến thực sự có giá trị tiên đoán phù 
não độc lập. 
Bảng 4: Các biến có liên quan phù não và mức ý nghĩa 
Biến có ý nghĩa thống kê p OR 
Tuổi 0,0145 1,07 
Thời gian nhập viện 0,023 0,307 
Điểm GCS 0,0098 0,506 
Điểm NIHSS <0,0001 2,13 
Huyết áp tâm thu 0,036 1,054 
Đƣờng huyết 0,032 1,026 
Nồng độ CRP 0,0023 1,59 
Bảng 5: Kết quả phân tích hồi quy 
logistic 
Biến P 
NIHSS 0,032 
CRP 0,834 
Tuổi 0,999 
Thời gian nhập viện 0,772 
GCS 0,088 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 178 
 Kết quả khi phân tìch đa biến cho thấy chỉ có điểm NIHSS có giá trị tiên đoán phù não 
độc lập. Các biến còn lại bao gồm CRP, GCS, không có giá trị tiên đoán phù não độc lập. 
Nhƣ vậy, mặc dù CRP có liên quan với phù não, tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi 
CRP không có giá trị tiên đoán phù não độc lập. 
BÀN LUẬN 
1/ Mối liên quan của CRP với kích thƣớc nhồi máu tính theo ASPECTs: 
 Trong nghiên cứu này, có một số mục chúng tôi không gộp điểm ASPECT lại thành các 
phân nhóm nhƣ các tác giả khác là vì mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi muốn đánh giá mối 
liên quan của các yếu tố với kìch thƣớc tổn thƣơng nhồi máu bằng thang điểm ASPECT. Vì 
vậy, việc thống kê các yếu tố theo từng điểm 
 ASPECT tƣơng ứ ng sẽ giúp chúng tôi dễ dàng hính dung và đánh giá kết quả một cách chặt 
chẽ hơn. Dầu vậy, cách làm nhƣ thế sẽ gây khó khăn cho chúng tôi hơn trong việc so sánh 
kết quả với các giả khác. 
 Nồng độ CRP trung bình của mẫu là 4,46 mg/L. Kết quả này thấp hơn của Lê Chuyển (5) 
(14,64 mg/L), của Winbeck (3) (12,2 mg/L) và của Modrego (2) (11,6 mg/L). Kết quả thấp 
hơn ngoài vấn đề khác nhau về phƣơng tiện xét nghiệm, thời điểm xét nghiệm còn có thể do 
vấn đề chọn mẫu. Mẫu của chúng tôi chọn tất cả những bệnh nhân nhồi máu nhỏ và nhồi 
máu lớn nhập viện trong 24 giờ đầu sau khởi phát trong khi mẫu của Winbeck thì chọn 
những bệnh nhân có nhồi máu lớn, Modrego chọn cả xuất huyết não. 
 Kết quả phân tích của chúng tôi thấy rằng nồng độ CRP càng cao ở nhóm có điểm 
ASPECT càng thấp (nhóm ASPECT=0 có CRP là 16,93 mg/L, cao gấp 14,44 lần nhóm có 
ASPECT=10 có CRP bằng 1,03 mg/L). Kết quả này cũng tƣơng tự Lê Chuyển (5) (nhóm 
kìch thƣớc nhồi máu trên 4 cm có nồng độ Protein phản ứng C trung bình là 28,56 mg/L, 
nhóm 2 - 4 cm có nồng độ Protein phản ứng C là 14,19 mg/ và dƣới 2 cm có nồng độ Protein 
phản ứng là C 9,18 mg/L). Chúng tôi và Lê Chuyển đều nh ận đƣợc sự khác biệ t với mức ý 
nghĩa rất cao (p<0,0001 của chúng tôi và p<0,001 của Lê Chuyển.Mặc dù thiết kế nghiên 
cứu của chúng tôi và Lê Chuyển khác nhau, nên khó so sánh trực tiếp nhƣng chúng tôi nhận 
thấy rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa nồng độ CRP lúc nhập viện và kìch thƣớc tổn 
thƣơng. 
II/ Mối liên quan và giá trị tiên đoán phù não của CRP: 
 Trong nghiên cứu của chúng tôi nồng độ CRP trung bình của phân nhóm này là 8,17 
mg/L, kết quả này của chúng tôi thấp hơn Lê Chuyển (14,64 mg/L), của Winbeck (3) (12,2 
mg/L) của Modrego (2) (11,6 mg/L). Sự khác biệt này có lẽ do sự khác nhau về thời điểm lấy 
mẫu máu xét nghiêm và sự khác nhau về phƣơ ng tiện để thử nồng độ CRP. Trong phần tổng 
Huyết áp tâm thu 1,00 
Đƣờng huyết 0,998 
Hằng số: -1,104 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 179 
quan chúng ta biết rằng sau một tổn thƣơ ng viêm, CRP bắt đầu tăng dần và đạt đỉnh sau 
khoảng 48 giờ. Trong nghiên cứu của chúng tôi, mẫu máu đƣợc thu thập trong vòng 24 giờ 
đầu tiên sau khởi phát, còn của Winbeck từ 12-24 giờ, của Lê Chuyển là thời điểm nhập viện 
(mà không có sự giới hạn về thời gian nhƣ chúng tôi). 
Khi tiến hành kiểm định thống kê, chúng tôi thấy rằng nồng độ CRP trung bình của nhóm có 
phù não cao hơn hẳn nhóm không phù não (11,82 so với 3,13 mg/L, nghĩa là gấp 3,8 lần) và 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,002. Kết quả này của chúng tôi cũng phù hợp với 
Modrego (47 mg/L so với 7,8 mg/L với p=0,001). Kết quả so sánh của chúng tôi và 
Modrego chỉ mang tính tham khảo chứ không so sánh trực tiếp đƣợc, do ngoài sự khác nhau 
về phƣơng tiện đo lƣờng nồng độ CRP còn khác nhau ở chỗ mẫu phân tích của Modrego bao 
gồm cả nhồi máu và xuất huyết trong khi mẫu của chúng tôi chỉ có nhồi máu (mặc dù trong 
nghiên cứu của Modrego có so sánh nồng độ CRP giữa nhóm nhồi máu và nhóm xuất huyết 
cho kết quả là sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p=0,17) 
 Nhƣ vậy, nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng nồng độ CRP có liên quan mạnh với phù 
não, tuy nhiên khi đƣa vào phân tìch hồi quy đa biến thì giá trị CRP bị loại ra. Điều này có 
thể do mẫu của chúng tôi nhỏ nên không đủ sức mạnh thống kê. Để xác định giá trị tiên đoán 
phù não của CRP cần tiến hành những nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để kết luận. 
Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng nồng độ CRP trong vòng 24 giờ sau khởi phát 
có liên quan rất mạnh đến kìch thƣớc tổn thƣơng nhồi máu trên CTScan não theo thang điểm 
ASPECT (p<0,0001). Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác. Tuy nhiên, khi 
phân tích hồi quy logistic, chúng tôi không nhận đƣợc vai trò tiên đoán phù não độc lập của 
CRP. Do đó cần một nghiên cứu có thiết kế tƣơng tự với cỡ mẫu lớn hơn để kiểm chứng.Tuy 
nhiên, mặc dù không phải là mục tiêu, nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy điểm NIHSS có 
giá trị tiên đoán phù não độc lập. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Andrew. M. Demchuk Albert J I N (2007). Imaging in Acute Ischemic Stroke Part 1 – 
Stroke Pathology and Imaging. Stroke. 1(4). 
2. Beatriz Boned Pedro J Modrego, Juan J Berlanga, Mercedes Serrano. (2008). Plasmatic 
B-Type Natriuretic Peptide and C-Reactive Protein in Hyperacute Stroke as Markers of 
Ct-Evidence of Brain Edema. International Journal of Medical Sciences, 5(1), pp. 18-23. 
3. Holger Poppert Kerstin Winbeck, Thorleif Etgen, Bastian Conrad and Dirk Sander. 
(2002). Prognostic Relevance of Early Serial C-Reactive Protein Measurements After 
First Ischemic Stroke. Stroke, 33, pp. 2459-2464. 
4. Julie E. Buring Paul M Ridker, Nancy R. Cook and Nader Rifai. (2003). C-Reactive 
Protein, the Metabolic Syndrome, and Risk of Incident 
5. Lê Chuyển. (2008). Nghiên Cứu Sự Biến Đổi Nồng Độ Protein Phản Ứng C (CRP) Huyết 
Thanh Ở Bệnh Nhân Nhồi Máu Não. Luận án Tiến Sỹ Y Khoa, Đại Học Huế, Huế. 
6. Mario Di Napoli, Vittorio Bocola, et al (2001). Prognostic Influence of Increased C-
Reactive Protein and Fibrinogen Levels in Ischemic Stroke. Stroke, 32, pp. 133-138. 
7. Miguel Blanco Joaqui´n Serena, Mar Castellanos, et al. (2005). The Prediction of 
Malignant Cerebral Infarction by Molecular Brain Barrier Disruption Markers. Stroke, 
36, pp. 1921-1926. 
Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ 2016 
Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang 
 180 
8. Toma´s Sobrino Octavio Moldes, et al. (2008). High Serum Levels of Endothelin-1 
Predict Severe Cerebral Edema in Patients With Acute Ischemic Stroke Treated With t-
PA. Stroke, 39, 2006-2010. 
9. Ulrich Dirnagl Matthias Endres, Michael A. Moskowitz. (2009). The ischemic cascade 
and mediators of ischemic injury. In M. Fisher (Ed.), Handbook of Clinical Neurology 
(3rd series ed., Vol. 92, pp. 32): Elsevier B.V. 
10. Ya Hua Guohua Xi, Richard F. Keep, John G. Younger and Julian T. Hoff. (2001). 
Systemic Complement Depletion Diminis hes Perihematomal Brain Edema in Rats. 
Stroke, 32, 162-16. 

File đính kèm:

  • pdfmoi_lien_quan_giua_nong_do_crp_va_tien_luong_dot_quy_do_thie.pdf