Mối liên quan giữa kiểu hình hội chứng buồng trứng đa nang với kết cục điều trị kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm

Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) gồm: rối loạn phóng noãn (OD), cường

androgen (HA), hình ảnh buồng trứng dạng đa nang (PCO), được chia thành 4 kiểu hình: A

(OD+HA+PCO), B (OD+HA), C (HA+PCO), D (OD+PCO). Kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống

nghiệm (IVM) an toàn và hiệu quả cho phụ nữ có HCBTĐN. Chưa có nghiên cứu ở Việt Nam về tác động

của kiểu hình HCBTĐN trên kết cục điều trị IVM.

Mục tiêu: Khảo sát tác động của kiểu hình HCBTĐN lên kết cục IVM.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phân tích thứ cấp dữ liệu từ một thử nghiệm lâm sàng ngẫu

nhiên có nhóm chứng trên bệnh nhân có HCBTĐN, điều trị IVM tại IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí

Minh. Kết cục IVM được so sánh giữa 4 kiểu hình

pdf 7 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Mối liên quan giữa kiểu hình hội chứng buồng trứng đa nang với kết cục điều trị kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối liên quan giữa kiểu hình hội chứng buồng trứng đa nang với kết cục điều trị kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm

Mối liên quan giữa kiểu hình hội chứng buồng trứng đa nang với kết cục điều trị kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 143 
MỐI LIÊN QUAN GIỮA KIỂU HÌNH 
HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG VỚI KẾT CỤC ĐIỀU TRỊ 
KỸ THUẬT TRƯỞNG THÀNH NOÃN NON TRONG ỐNG NGHIỆM 
Hồ Ngọc Anh Vũ1, Mã Phạm Quế Mai1, Phùng Huy Tuân1, Hồ Mạnh Tường1, Vương Thị Ngọc Lan2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) gồm: rối loạn phóng noãn (OD), cường 
androgen (HA), hình ảnh buồng trứng dạng đa nang (PCO), được chia thành 4 kiểu hình: A 
(OD+HA+PCO), B (OD+HA), C (HA+PCO), D (OD+PCO). Kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống 
nghiệm (IVM) an toàn và hiệu quả cho phụ nữ có HCBTĐN. Chưa có nghiên cứu ở Việt Nam về tác động 
của kiểu hình HCBTĐN trên kết cục điều trị IVM. 
Mục tiêu: Khảo sát tác động của kiểu hình HCBTĐN lên kết cục IVM. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phân tích thứ cấp dữ liệu từ một thử nghiệm lâm sàng ngẫu 
nhiên có nhóm chứng trên bệnh nhân có HCBTĐN, điều trị IVM tại IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí 
Minh. Kết cục IVM được so sánh giữa 4 kiểu hình. 
Kết quả: Từ 01/2018 đến 04/2019, 196 bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu, 37 nhóm A (18,9%), 159 
nhóm D (81,1%), không có nhóm B,C. Số noãn nhóm A cao hơn B (20,00±11,86 so với 12,78±7,15, p <0,001), tỷ 
lệ trưởng thành noãn không khác biệt. Tỷ lệ trẻ sinh sống không khác biệt giữa nhóm A và D (29,7% so với 
37,1%, p=0,514). 
Kết luận: Kiểu hình HCBTĐN phổ biến ở phụ nữ Việt Nam là A, D. Kết quả bước đầu không ghi nhận có 
sự tác động của kiểu hình lên kết cục IVM. 
Từ khoá: hội chứng buồng trứng đa nang, rối loạn phóng noãn, cường androgen, trẻ sinh sống 
ABSTRACT 
IMPACT OF PHENOTYPES OF POLYCYSTIC OVARY SYNDROME ON OUTCOMES OF IN VITRO 
MATURATION TREATMENT 
Ho Ngoc Anh Vu, Ma Pham Que Mai, Phung Huy Tuan, Ho Manh Tuong, Vuong Thi Ngoc Lan 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1- 2021: 143 - 149 
Background: Phenotypes of polycystic ovary syndrome (PCOS) include four groups depending on the 
presence of the following features: ovulation disorder (OD), hyperandrogenism (HA), and polycystic ovary 
morphology (PCO). Four groups of phenotypes of PCOS are: A (OD+HA+PCO), B (HA+OD), C (HA+PCO), D 
(OD+PCO). In vitro maturation (IVM) is a safe and effective method for infertility treatment in PCOS patients. 
There is no study that investigates the impact of phenotypes on IVM outcomes. 
Objective: To investigate the impact of PCOS phenotypes on IVM outcomes. 
Method:This was a secondary analysis of a randomized controlled trial conducted on PCOS patients who 
underwent IVM at IVFMD, My Duc Hospital, Ho Chi Minh City. Outcomes of IVM treatment were compared 
among four PCOS phenotypes. 
Result: From 01/2018 to 04/2019, a total of 198 patients were recruited into this study, of which 37 patients 
1Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, Trung tâm nghiên cứu HOPE, Bệnh viện Mỹ Đức TP. Hồ Chí Minh 
2Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Hồ Ngọc Anh Vũ ĐT:0935843336 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 144 
with phenotype A (18.9%) while 159 with phenotype D (81.1.%), no patient with phenotype B or C. The number 
of oocytes retrieved was significantly higher in group A as compared to group D (20.00±11.86 versus 12.78±7.15, 
p <0.001), meanwhile the oocyte maturation rate was not different. Live birth rate was not different between 
phenotype A and D (29.7% versus 37.1%, p=0.514). 
Conclusion: The common phenotypes of Vietnamese PCOS women are A and D. Preliminary results show 
that there is no impact of PCOS phenotypes on outcomes of IVM treatment. 
Keywords: polycystic ovary syndrome (PCOS), ovulation disorder, hyperandrogenism, live birth 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Kích thích buồng trứng trong thụ tinh ống 
nghiệm nhằm tạo ra sự phát triển của nhiều 
nang noãn, giúp tăng số lượng noãn, số lượng 
phôi thu được, từ đó, tăng tỷ lệ thai cộng dồn 
cho một chu kỳ điều trị(1). Ngược lại, kích thích 
buồng trứng cũng liên quan đến nhiều biến 
chứng như hội chứng quá kích buồng trứng, 
xoắn buồng trứng, xuất huyết nội, huyết khối 
tĩnh mạch(2). Phụ nữ có hội chứng buồng trứng 
đa nang (HCBTĐN) có nguy cơ cao hơn với các 
biến chứng này(3). Kỹ thuật trưởng thành noãn 
non trong ống nghiệm (IVM) là kỹ thuật thu 
nhận noãn non từ các nang thứ cấp nhỏ (2–10 
mm) ở buồng trứng mà không áp dụng kích 
thích buồng trứng. Các noãn non thu được này, 
sau đó, được nuôi cấy trưởng thành trong ống 
nghiệm và tạo phôi(4,5). Nhờ vậy, IVM tránh được 
các biến chứng cho phụ nữ HCBTĐN khi điều 
trị hỗ trợ sinh sản(6). Một nghiên cứu thử nghiệm 
lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng ghi nhận 
IVM có hiệu quả không kém hơn TTON cổ điển 
ở phụ nữ có HCBTĐN(7). Sau sự ra đời của tiêu 
chuẩn chẩn đoán HCBTĐN theo đồng thuận 
Rotterdam năm 2003, phân loại về các nhóm 
kiểu hình HCBTĐN liên quan đến cơ chế bệnh 
sinh đã được công bố sau đó vào năm 2012(8). 
Nhiều nghiên cứu (NC) đã được tiến hành nhằm 
đánh giá kết quả của TTON cổ điển ở các nhóm 
kiểu hình khác nhau của HCBTĐN, trong đó, 
ghi nhận tiên lượng điều trị thành công kém hơn 
ở nhóm kiểu hình có cường androgen so với 
nhóm không có cường androgen(9). Tuy nhiên, 
với kỹ thuật IVM, cho đến nay, chỉ có một NC 
đoàn hệ hồi cứu của Mackens và cộng sự, (2020) 
trên 320 phụ nữ có HCBTĐN người Châu Âu, 
ghi nhận có sự khác nhau đáng kể về tỷ lệ trẻ 
sinh sống cộng dồn giữa các nhóm kiểu hình(10). 
Tại Việt Nam, kỹ thuật IVM đã được thực hiện 
thành công từ năm 2006. Hiện nay, Việt Nam là 
một trong những quốc gia thực hiện IVM nhiều 
nhất trên thế giới. Một NC hồi cứu năm 2018 ghi 
nhận tỷ lệ trẻ sinh sống cộng dồn của IVM ở phụ 
nữ Việt Nam có HCBTĐN là 33,7%(11). Kiểu hình 
HCBTĐN người Việt Nam khác với người Châu 
Âu và Mỹ(12). Chưa có nghiên cứu ở Việt Nam 
đánh giá tác động của các kiểu hình HCBTĐN 
trên kết cục điều trị IVM. Nghiên cứu được tiến 
hành với mục tiêu khảo sát mối liên quan giữa 
kiểu hình HC BTĐN và kết cục điều trị IVM ở 
phụ nữ Việt Nam. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Phụ nữ Việt Nam có HCBTĐN được điều trị 
hiếm muộn với kỹ thuật IVM tại Đơn vị Hỗ trợ 
sinh sản IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí 
Minh từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2019. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Có hội chứng buồng trứng đa nang được 
chẩn đoán theo Tiêu chuẩn Rotterdam (2003), 
bao gồm(13): 
Cường androgen được định nghĩa trên lâm 
sàng bằng tình trạng rậm lông (điểm Ferrriman-
Gallwey cải biên ≥3), mụn trứng cá nặng hay 
trên sinh hoá khi nồng độ testosterone toàn phần 
≥1,8 nmol/l hay chỉ số testosterone tự do (Free 
Testosterone Index) >6. 
Rối loạn phóng noãn được định nghĩa là khi 
chu kỳ 35 ngày hoặc <8 chu 
kỳ/năm hoặc vô kinh thứ phát (1 chu kỳ dài hơn 
90 ngày). 
Hình ảnh buồng trứng dạng đa nang trên 
siêu âm: thực hiện với đầu dò siêu âm ngả âm 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 145 
đạo tần số 8MHz với ngưỡng cắt hình ảnh 
buồng trứng đa nang là ≥20 nang và/hoặc thể 
tích buồng trứng ≥10 ml, trong điều kiện 
không có nang hoàng thể, nang vượt trội hoặc 
nang cơ năng. 
Được điều trị kỹ thuật IVM. 
Số chu kỳ điều trị TTON hoặc IVM trước 
đây ≤2. 
Chuyển phôi trữ lạnh ≤2 phôi ngày 3. 
Tiêu chuẩn loại 
Các chu kỳ xin noãn. 
Các chu kỳ có thực hiện kỹ thuật chẩn đoán 
di truyền tiền làm tổ. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Phân tích thứ cấp dữ liệu từ một thử nghiệm 
lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng so sánh 
hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật IVM so với 
thụ tinh ống nghiệm cổ điển cho bệnh nhân có 
số nang noãn thứ cấp nhiều. Phân tích thứ cấp 
này được thực hiện trên dữ liệu của nhóm bệnh 
nhân có HCBTĐN thực hiện kỹ thuật IVM của 
nghiên cứu gốc. 
Cách chọn mẫu 
Chọn toàn bộ dữ liệu của nhóm bệnh nhân 
HCBTĐN thực hiện IVM của một thử nghiệm 
lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng. 
Phương pháp tiến hành 
Bệnh nhân được sàng lọc theo tiêu chuẩn 
nhận loại, được phân nhóm kiểu hình 
HCBTĐN(14): 
A: rối loạn phóng noãn + cường androgen + 
hình ảnh buồng trứng dạng đa nang. 
B: rối loạn phóng noãn + cường androgen. 
C: cường androgen + hình ảnh buồng trứng 
dạng đa nang. 
D: rối loạn phóng noãn + hình ảnh buồng 
trứng dạng đa nang. 
Bệnh nhân được tiêm hai mũi tiêm FSH, bắt 
đầu từ ngày 2 hoặc ngày 3 của chu kỳ kinh 
nguyệt hay sau dùng thuốc để gây bong nội mạc 
tử cung. Liều FSH 150IU/ngày (HP-hMG; 
Menopur, Ferring) trong 2 ngày. Chọc hút noãn 
non được tiến hành ở thời điểm khoảng 42 giờ 
sau tiêm mũi FSH thứ hai. Sau khi chọc hút, toàn 
bộ noãn non được nuôi cấy trong môi trường 
tiền trưởng thành (Môi trường CAPA trong môi 
trường nuôi cấy IVM, Origio, Đan Mạch) trong 
thời gian 24 giờ. Sau đó, noãn được nuôi cấy 
trong môi trường nuôi cấy trưởng thành (Hệ 
thống Medicult IVM với đỏ phenol, Origio, Đan 
Mạch) trong thời gian 30 giờ. Thụ tinh được tiến 
hành bằng kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào 
tương noãn (ICSI) ở thời điểm 3–4 giờ sau khi 
kiểm tra trưởng thành noãn. Thụ tinh được kiểm 
tra bằng kính hiển vi đảo ngược ở thời điểm 16–
18 giờ sau tiêm tinh trùng. Đánh giá phôi được 
tiến hành ở thời điểm 68±1 giờ sau thụ tinh theo 
Đồng thuận Istanbul(15). Trữ phôi toàn bộ ở thời 
điểm phôi ngày 3. 
Sau đó, chuẩn bị nội mạc tử cung được thực 
hiện bằng phác đồ sử dụng nội tiết ngoại sinh ở 
các chu kỳ kinh nguyệt tiếp theo. NMTC được 
chuẩn bị bằng estradiol valerate (Valiera; 
Laboratories Recalcine) với liều 8mg/ngày bắt 
đầu từ ngày 2 hoặc ngày 3 của chu kỳ kinh 
nguyệt. NMTC được đánh giá từ ngày thứ 6 trở 
đi, và progesterone vi hạt sẽ được sử dụng nhằm 
chuyển NMTC sang giai đoạn phân tiết khi độ 
dày NMTC đạt kích thước từ 8mm trở lên. Liều 
sử dụng là 800 mg/ngày, đặt âm đạo (Cyclogest; 
Actavis). Chuyển phôi được thực hiện sau dùng 
progesterone 3 ngày với số phôi không quá 2. 
Thử thai được thực hiện sau chuyển phôi 2 tuần, 
beta hCG >5 mIU/mL được xem là dương tính 
và siêu âm đánh giá tính sinh tồn của thai được 
thực hiện 3 tuần sau thử thai. Toàn bộ các thai kỳ 
được theo dõi đến ngày sinh. 
Kết cục nghiên cứu 
Kết cục chính: tỷ lệ trẻ sinh sống sau lần 
chuyển phôi đầu tiên. Tỷ lệ trẻ sinh sống được 
định nghĩa là trẻ sinh ra sau 24 tuần, có dấu hiệu 
sống, có nhịp tim và có trương lực cơ(1). 
Kết cục phụ: số noãn/noãn trưởng thành 
chọc hút được, tỷ lệ trưởng thành, tỷ lệ thụ tinh, 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 146 
số phôi; tỷ lệ beta hCG dương tính, thai lâm 
sàng, thai diễn tiến, thai ngoài tử cung, sẩy thai, 
đa thai, trẻ sinh sống; tỷ lệ rối loạn tăng huyết áp 
thai kỳ, đái tháo đường thai kỳ. 
Quản lý và phân tích số liệu 
Số liệu được quản lý bằng phần mềm Epi 
Info (Phiên bản 7.0) và phân tích bằng phần 
mềm R (phiên bản 3.3.3). Khác biệt có ý nghĩa 
thống kê khi p <0,05. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học bệnh 
viện Mỹ Đức, số 20/MĐ-HĐĐĐ, ngày 28/3/2017. 
KẾT QUẢ 
Từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2019, có 196 
bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu, trong đó, 
37 bệnh nhận (18,9%) có kiểu hình A và 159 có 
kiểu hình D (81,1%). 
Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 
Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong 
nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1. 
Kết quả phôi học, thai, sản khoa 
Kết quả phôi học, thai và sản khoa sau lần 
chuyển phôi đầu tiên của 2 nhóm kiểu hình bệnh 
nhân được trình bày trong Bảng 2. 
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ở từng nhóm kiểu hình 
Đặc điểm 
Kiểu hình A 
(n = 37) 
Kiểu hình D 
(n = 159) 
Giá trị p 
Tuổi (năm) 29,14 ± 3,21 29,92 ± 3,17 0,178 
BMI (kg/m
2
) 24,52 ± 2,85 22,02 ± 2,81 <0,001 
AMH (ng/ml) 9,13 ± 3,62 9,54 ± 4,03 0,584 
Thời gian mong con (năm) 4,11 ± 2,35 3,53 ± 2,37 0,186 
Số chu kỳ điều trị TTON trước đây (n, %) 
0,339 
1 35 (94,6) 139 (87,4) 
2 2 (5,4) 20 (12,6) 
Nguyên nhân vô sinh (n, %) 
0,469 
Nguyên phát 28 (75,7) 108 (67,9) 
Thứ phát 9 (24,3) 51 (32,1) 
Testosterone toàn phần (nmol/l) 1,95 ± 0,51 1,14 ± 0,60 <0,001 
SHBG (nmol/l) 23,55 ± 8,46 77,19 ± 163,37 0,048 
Chỉ số testosterone tự do 2,55 ± 1,01 2,11 ± 0,88 0,033 
Nồng độ DHEA 8,85 ± 2,67 2,46 ± 1,65 <0,001 
BMI: body mass index – chỉ số khối cơ thể AMH: Anti-Müllerian hormone HBG: sex hormone-binding globulin 
DHEA: Dehydroepiandrosterone 
Bảng 2: Đặc điểm phôi học và kết quả của bệnh nhân ở 2 nhóm kiểu hình 
Đặc điểm 
Kiểu hình A 
(n = 37) 
Kiểu hình D 
(n = 159) 
Giá trị p 
Số noãn chọc hút được 20,00 ± 11,86 14,40 ± 6,89 <0,001 
Số noãn trưởng thành 12,78 ± 7,15 8,77 ± 4,84 <0,001 
Tỷ lệ trưởng thành noãn 67,11 ± 16,17 62,01 ± 18,10 0,117 
Số noãn thụ tinh 10,19 ± 5,83 7,31 ± 4,32 0,001 
Tỷ lệ thụ tinh 81,26 ± 15,82 83,03 ± 17,70 0,577 
Số phôi 6,03 ± 3,74 4,95 ± 3,38 0,089 
Tỷ lệ tạo phôi / số noãn thụ tinh 60,22 ± 21,62 68,89 ± 21,02 0,026 
Tỷ lệ tạo phôi / số noãn trưởng thành 49,93 ± 20,41 56,64 ± 20,21 0,071 
Số phôi tốt 3,78 ± 2,11 3,27 ± 2,86 0,312 
Tỷ lệ phôi tốt/ số noãn thụ tinh 41,36 ± 20,58 43,63 ± 26,66 0,633 
Tỷ lệ phôi tốt/ số noãn trưởng thành 34,28 ± 19,27 36,15 ± 22,60 0,647 
Tổng số phôi trữ 4,89 ± 2,40 4,26 ± 2,76 0,207 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 147 
Đặc điểm 
Kiểu hình A 
(n = 37) 
Kiểu hình D 
(n = 159) 
Giá trị p 
Tỷ lệ beta hCG dương tính (n, %) 23 (62,2) 89 (56,0) 0,617 
Tỷ lệ làm tổ (n, %) 41,67 ± 38,73 34,39 ± 37,49 0,452 
Tỷ lệ thai lâm sàng (n, %) 22 (59,5) 81 (50,9) 0,298 
Tỷ lệ thai diễn tiến (n, %) 12 (32,4) 65 (40,9) 0,447 
Tỷ lệ trẻ sinh sống (n, %) 11 (29,7) 59 (37,1) 0,514 
Tỷ lệ hội chứng quá kích buồng trứng (n, %) 0 (0) 0 (0) - 
Tỷ lệ thai ngoài tử cung (n, %) 2 (5,4) 1 (0,6) 0,165 
Tỷ lệ sẩy thai 12 tuần (n, %) 8 (21,6) 16 (10,1) 0,098 
Tỷ lệ đa thai (n, %) 5 (13,5) 25 (15,7) 0,934 
Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ (n, %) 1 (2,7) 18 (11,3) 0,198 
Tỷ lệ rối loạn tăng huyết áp thai kỳ (n, %) 1 (2,7) 3 (1,9) 0,99 
Cân nặng trẻ lúc sinh (g) 
Đơn thai 3.180,0 ± 361,5 3.285,4 ± 409,6 0,159 
Song thai 950,0 ± 70,7 2.510,6 ± 578,2 - 
Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến các yếu 
tố tác động lên tỉ lệ trẻ sinh sống 
Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến được 
tiến hành nhằm xác định các yếu tố độc lập ảnh 
hưởng đến tỷ lệ trẻ sinh sống. Kết quả phân tích 
được trình bày trong Bảng 3. 
Bảng 3: Phân tích hồi quy đơn, đa biến đánh giá các 
yếu tố ảnh hưởng tỉ lệ trẻ sinh sống 
Đặc điểm 
OR [KTC 95%]; 
Giá trị p 
AOR [KTC 95%]; 
Giá trị p 
Tuổi (năm) 
0,92 [0,83, 1,01]; 
0,094 
0,93 [0,83, 1,03]; 
0,177 
BMI (kg/m
2
) 
1,09 [0,99, 1,21]; 
0,084 
1,11 [0,99, 1,26]; 
0,077 
AMH (ng/ml) 
0,95 [0,88, 1,03]; 
0,226 
0,97 [0,89, 1,05]; 
0,421 
Thời gian mong con 
(năm) 
1,01 [0,89, 1,14]; 
0,925 
- 
Số chu kỳ điều trị TTON trước đây 
1 Tham chiếu - 
2 
0,64 [0,22, 1,65]; 
0,383 
- 
Nguyên nhân vô sinh 
Nguyên phát Tham chiếu Tham chiếu 
Thứ phát 
0,62 [0,31, 1,18]; 
0,154 
0,55 [0,25, 1,17]; 
0,129 
DHEA 
1,04 [0,71, 1,51]; 
0,85 
Kiểu hình HCBTĐN 
A Tham chiếu Tham chiếu 
D 
1,39 [0,66, 3,13]; 
0,4 
2,03 [0,84, 5,21]; 
0,126 
OR: tỉ số chênh AOR: tỉ số chênh hiệu chỉnh 
KTC: khoảng tin cậy 
BÀN LUẬN 
Đây là nghiên cứu đầu tiên khảo sát tác động 
của các kiểu hình HCBTĐN trên kết cục IVM ở 
phụ nữ người Việt Nam. 
Kết quả nghiên cứu 
Số liệu từ nghiên cứu ghi nhận không có sự 
khác biệt về tỷ lệ trẻ sinh sống ở hai kiểu hình A 
và D của phụ nữ có HCBTĐN khi điều trị kỹ 
thuật IVM (29,7% so với 37,1%, p=0,514). Nghiên 
cứu của Mackens S (2020) cũng không ghi nhận 
sự khác biệt về tỉ lệ trẻ sinh sống giữa 2 kiểu 
hình này (25,2% so với 26,6%, p=0,22), mặc dù, 
tác giả ghi nhận có sự khác biệt giữa kiểu hình A 
và B và kiểu hình HCBTĐN là yếu tố độc lập tác 
động trên kết cục điều trị IVM(10). Tuy nhiên, tỷ 
lệ trẻ sinh sống trong nghiên cứu này có xu 
hướng cao hơn so với NC của Mackens S. Kết 
quả này có thể liên quan đến các yếu tố như: (i) 
Vai trò của việc sử dụng môi trường nuôi cấy 
tiền trưởng thành có khả năng cải thiện tiềm 
năng của noãn thông qua cải thiện cầu nối giữa 
khối tế bào vành tia và noãn cũng như tăng sự 
đồng bộ trưởng thành nhân và tế bào chất của 
noãn(1), (ii) Sự thuần thục trong quy trình nuôi 
cấy phôi của labo hỗ trợ sinh sản của chúng tôi 
với hơn 4000 chu kỳ IVM đã được tiến hành từ 
năm 2006. Khác với các NC trên phụ nữ có 
HCBTĐN thực hiện TTTON, tỉ lệ trẻ sinh sống 
được ghi nhận thấp hơn ở nhóm A(9,18). Các giả 
thuyết được đặt ra từ các NC trước đây để lý giải 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 148 
mối liên quan giữa kiểu hình HCBTĐN và kết 
quả điều trị TTON bao gồm: (i) Ảnh hưởng bất 
lợi của cường androgen lên chất lượng 
noãn/phôi, (ii) Ảnh hưởng bất lợi của cường 
androgen lên khả năng tiếp nhận của nội mạc tử 
cung(8,16). Giả thuyết này cần được kiểm chứng 
thêm với kỹ thuật IVM. Theo Hướng dẫn quốc 
tế dựa trên y học bằng chứng về HCBTĐN 
(2018), IVM có thể được sử dụng tại các trung 
tâm đủ khả năng cho nhóm phụ nữ có HCBTĐN 
với tỷ lệ thai tương đương TTON(14). Ngoài ra, 
không có bất kỳ trường hợp nào có hội chứng 
quá kích buồng trứng sau điều trị IVM ở 2 nhóm 
kiểu hình HCBTĐN, cho thấy IVM an toàn cho 
nhóm bệnh nhân này. Số noãn chọc hút, số noãn 
trưởng thành ở nhóm A là cao hơn có ý nghĩa 
thống kê so với nhóm D. Tuy nhiên, tỉ lệ trưởng 
thành noãn, tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ phôi tốt và số phôi 
tốt là không có sự khác biệt giữa hai nhóm. Tỉ lệ 
trẻ sinh sống không khác biệt giữa 2 nhóm 
nhưng có xu hướng thấp hơn ở nhóm A so với 
nhóm D. Điều này cho thấy kiểu hình kết hợp 
nhiều nhóm triệu chứng có thể có tác động trên 
kết quả điều trị IVM, tuy nhiên, nghiên cứu này 
có thể chưa đủ năng lực mẫu để chứng minh tác 
động này. Tỉ lệ rối loạn tăng huyết áp thai kỳ và 
đái tháo đường thai kỳ cũng không có sự khác 
biệt giữa hai nhóm kiểu hình. Nghiên cứu trước 
đó của Mackens S (2020) không báo cáo 2 kết cục 
này(10). 
Một yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến kết 
quả thai là BMI. BMI tăng được ghi nhận làm 
ảnh hưởng đến các kết cục điều trị HTSS, nhất là 
ở phụ nữ có HCBTĐN(17,19). Bệnh nhân trong 
nghiên cứu này không ở mức thừa cân, béo phì 
nhưng BMI ở nhóm A cao hơn nhóm D có ý 
nghĩa thống kê (24,52 ± 2,85 so với 22,02 ± 2,81, 
p <0,001). Đây có thể là một trong các yếu tố tiềm 
ẩn giải thích xu hướng tỉ lệ trẻ sinh sống ở nhóm 
A thấp hơn so với nhóm D. Các kết cục thai khác 
trong nghiên cứu của chúng tôi không khác biệt 
giữa 2 nhóm, trong khi NC của Mackens S ghi 
nhận tỉ lệ sẩy thai sớm ở nhóm A cao hơn có ý 
nghĩa thống kê so với nhóm D, cao nhất ở nhóm 
C(10). Tình trạng này có thể liên quan đến cường 
androgen do bệnh nhân ở nhóm A và C có 
cường androgen sinh hoá nhiều hơn có ý nghĩa 
thống kê so với nhóm D trong NC của Mackens 
S (2020)(10) nhưng không có trong NC của chúng 
tôi. Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến không 
ghi nhận ảnh hưởng của kiểu hình HCBTĐN lên 
tỷ lệ trẻ sinh sống trong nghiên cứu này nhưng 
NC của Mackens S (2020) ghi nhận kiểu hình 
HCBTĐN là yếu tố tiên lượng độc lập lên tỷ lệ 
trẻ sinh sống ở các chu kỳ điều trị IVM(10). Kiểu 
hình A được ghi nhận có tỷ lệ trẻ sinh sống cộng 
dồn cao hơn so với kiểu hình B (OR 0,26, KTC 
95%, 0,06–1,05) và C (OR 0,47, KTC 95% 0,2–0,88, 
p=0,03)(10). Điều này cũng có thể lý giải do sự 
khác biệt về đặc điểm của phụ nữ có HCBTĐN 
người Việt Nam khác với người Châu Âu và 
cũng có thể do năng lực mẫu chưa đủ trong NC 
này. Ngoài ra, bệnh nhân người Việt Nam trong 
nghiên cứu này chỉ có 2 kiểu hình HCBTĐN là A 
và D, điều này cũng cho biết cường androgen 
không phổ biến ở người Việt Nam so với người 
Châu Âu và cũng có thể mẫu nghiên cứu lấy tại 
một trung tâm nên chưa đại diện cho dân số 
người Việt Nam. 
Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 
Điểm mạnh của nghiên cứu này là NC đầu 
tiên trên phụ nữ Việt Nam về tác động của kiểu 
hình HCBTĐN trên kết cục điều trị IVM. Hơn 
nữa, kết cục của NC là những kết cục quan trọng 
của điều trị như các kết cục điều trị IVM, kết cục 
về các biến chứng của thai kỳ gồm tiền sản giật, 
đái tháo đường thai kỳ và kết cục sản khoa gồm 
trẻ sinh sống, cân nặng lúc sinh. Các kết cục này 
chưa từng được báo cáo trước đây. Tuy nhiên, 
NC có một số hạn chế như đây là phân tích thứ 
cấp của thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có 
nhóm chứng, do đó, có thể năng lực mẫu chưa 
đủ để phát hiện sự khác biệt về kết cục điều trị 
giữa các nhóm kiểu hình và mẫu NC lấy tại một 
trung tâm nên có thể không đại diện cho kiểu 
hình phụ nữ Việt Nam có HCBTĐN. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 149 
KẾT LUẬN 
Nghiên cứu bước đầu ghi nhận không có sự 
tác động của kiểu hình HCBTĐN trên kết cục 
điều trị IVM ở người phụ nữ Viêt Nam. Cần 
thực hiện thêm NC với cỡ mẫu đủ lớn, chọn 
mẫu đại diện để có kết luận chắc chắn hơn về 
vấn đề này. 
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi 
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia 
(NAFOSTED) trong đề tài mã số FWO.106-
YS.2017.02. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Zegers-Hochschild F, Adamson GD, Dyer S, Racowsky C, De 
Mouzon J, Sokol R, Rienzi L, Sunde A, Schmidt L, Cooke ID, 
Simpson JL, Van Der Poel S (2017). The International Glossary 
on Infertility and Fertility Care, 2017. Human Reproduction, 
32(9):1786-1801. 
2. Jacobs HS, Agrawal R (1998). Complications of ovarian 
stimulation. Baillière's Clinical Obstetrics and Gynaecology, 
12(4):565-579. 
3. Qiao J, Feng HL (2011). Extra- and intra-ovarian factors in 
polycystic ovary syndrome: impact on oocyte maturation and 
embryo developmental competence. Human Reproduction 
Update, 17(1):17-33. 
4. Edwards RG (1965). Maturation in vitro of human ovarian 
oocytes. Lancet, 286(7419):926-929. 
5. Edwards RG, Bavister BD, Steptoe PC (1969). Early Stages of 
Fertilization in vitro of Human Oocytes Matured in vitro. 
Nature, 221(5181):632-635. 
6. Vuong Thi Ngoc Lan, Ho Manh Tuong, Gilchrist RB, Smitz J 
(2019). The Place of In Vitro Maturation in Assisted 
Reproductive Technology. Fertility & Reproduction, 1(1):11-15. 
7. Vuong Thi Ngoc Lan, Ho Manh Tuong, Gilchrist RB, Smitz J 
(2019). The Place of In Vitro Maturation in Assisted 
Reproductive Technology. Fertility & Reproduction, 1(1):11-15. 
8. Lebbe M, Woodruff TK (2013). Involvement of androgens in 
ovarian health and disease. Molecular Human Reproduction, 
19(12):828-837. 
9. Ramezanali F, Ashrafi M, Hemat M, Arabipoor A, Jalali S, Moini 
A (2016). Assisted reproductive outcomes in women with 
different polycystic ovary syndrome phenotypes: the predictive 
value of anti-Müllerian hormone. Reproductive BioMedicine 
Online, 32(5):503-512. 
10. Mackens S, Pareyn S, Drakopoulos P, Deckers T, Mostinckx L, 
Blockeel C, Segers I, Verheyen G, Santos-Ribeiro S, Tournaye H, 
De Vos M (2020). Outcome of in-vitro oocyte maturation in 
patients with PCOS: does phenotype have an impact?. Human 
Reproduction. 35(10):2272-2279. 
11. Ho Ngoc Anh Vu, Pham Duong Toan, Le Hoang Anh, Ho 
Manh Tuong, Vuong Thi Ngoc Lan (2018). Live birth rate after 
human chorionic gonadotropin priming in vitro maturation in 
women with polycystic ovary syndrome. Journal of Ovarian 
Research, 11(1):70. 
12. Vuong Thi Ngoc Lan, Norman RJ, Giang Huynh Nhu, Phung 
Huy Tuan, Ho Manh Tuong (2009). Ovulation induction using 
low-dose step-up rFSH in Vietnamese women with polycystic 
ovary syndrome. Reproductive BioMedicine Online,18(4):516-521. 
13. Rotterdam ESHRE/ASRM-Sponsored PCOS Consensus 
Workshop Group (2004). Revised 2003 consensus on diagnostic 
criteria and long-term health risks related to polycystic ovary 
syndrome (PCOS). Human Reproduction, 19(1):41-47. 
14. Teede HJ, Misso ML, Costello MF, Dokras A, Laven J, Moran L, 
Piltonen T, Norman RJ and International PCOS Network (2018). 
Recommendations from the international evidence-based 
guideline for the assessment and management of polycystic 
ovary syndrome. Human Reproduction, 33(9):602-1618. 
15. Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special 
Interest Group of Embryology (2011). The Istanbul consensus 
workshop on embryo assessment: proceedings of an expert 
meeting. Human Reproduction, 26(6):1270-1283. 
16. Gonzalez D, Thackeray H, Lewis PD, Mantani A, Brook N, 
Ahuja K, Margara R, Joels L, White JO, Conlan RS (2012). Loss of 
WT1 expression in the endometrium of infertile PCOS patients: 
a hyperandrogenic effect? Journal of Clinical Endocrinology & 
Metabolism, 97(3):957-966. 
17. Gambineri A, Laudisio D, Marocco C, Radellini S, Colao A, 
Savastano S& on behalf of the Obesity Programs of nutrition, 
Education, Research and Assessment (OPERA) Group (2019). 
Female infertility: which role for obesity?. International Journal of 
Obesity Supplements, 9(1):65-72. 
18. Pasquali R, Gambineri A, Pagotto U (2006), The impact of 
obesity on reproduction in women with polycystic ovary 
syndrome. BJOG, 113(10):1148-1159. 
19. De Vos M, Pareyn S, Drakopoulos P, Raimundo JM, Anckaert E, 
Santos-Ribeiro S, Polyzos NP, Tournaye H, Blockeel C (2018). 
Cumulative live birth rates after IVF in patients with polycystic 
ovaries: phenotype matters. Reproductive BioMedicine Online, 
37(2):163-171. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/20201 

File đính kèm:

  • pdfmoi_lien_quan_giua_kieu_hinh_hoi_chung_buong_trung_da_nang_v.pdf