Mối liên quan giữa kiểu hình hội chứng buồng trứng đa nang với kết cục điều trị kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm
Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) gồm: rối loạn phóng noãn (OD), cường
androgen (HA), hình ảnh buồng trứng dạng đa nang (PCO), được chia thành 4 kiểu hình: A
(OD+HA+PCO), B (OD+HA), C (HA+PCO), D (OD+PCO). Kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống
nghiệm (IVM) an toàn và hiệu quả cho phụ nữ có HCBTĐN. Chưa có nghiên cứu ở Việt Nam về tác động
của kiểu hình HCBTĐN trên kết cục điều trị IVM.
Mục tiêu: Khảo sát tác động của kiểu hình HCBTĐN lên kết cục IVM.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phân tích thứ cấp dữ liệu từ một thử nghiệm lâm sàng ngẫu
nhiên có nhóm chứng trên bệnh nhân có HCBTĐN, điều trị IVM tại IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí
Minh. Kết cục IVM được so sánh giữa 4 kiểu hình
Bạn đang xem tài liệu "Mối liên quan giữa kiểu hình hội chứng buồng trứng đa nang với kết cục điều trị kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Mối liên quan giữa kiểu hình hội chứng buồng trứng đa nang với kết cục điều trị kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 143 MỐI LIÊN QUAN GIỮA KIỂU HÌNH HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG VỚI KẾT CỤC ĐIỀU TRỊ KỸ THUẬT TRƯỞNG THÀNH NOÃN NON TRONG ỐNG NGHIỆM Hồ Ngọc Anh Vũ1, Mã Phạm Quế Mai1, Phùng Huy Tuân1, Hồ Mạnh Tường1, Vương Thị Ngọc Lan2 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) gồm: rối loạn phóng noãn (OD), cường androgen (HA), hình ảnh buồng trứng dạng đa nang (PCO), được chia thành 4 kiểu hình: A (OD+HA+PCO), B (OD+HA), C (HA+PCO), D (OD+PCO). Kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm (IVM) an toàn và hiệu quả cho phụ nữ có HCBTĐN. Chưa có nghiên cứu ở Việt Nam về tác động của kiểu hình HCBTĐN trên kết cục điều trị IVM. Mục tiêu: Khảo sát tác động của kiểu hình HCBTĐN lên kết cục IVM. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phân tích thứ cấp dữ liệu từ một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng trên bệnh nhân có HCBTĐN, điều trị IVM tại IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Kết cục IVM được so sánh giữa 4 kiểu hình. Kết quả: Từ 01/2018 đến 04/2019, 196 bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu, 37 nhóm A (18,9%), 159 nhóm D (81,1%), không có nhóm B,C. Số noãn nhóm A cao hơn B (20,00±11,86 so với 12,78±7,15, p <0,001), tỷ lệ trưởng thành noãn không khác biệt. Tỷ lệ trẻ sinh sống không khác biệt giữa nhóm A và D (29,7% so với 37,1%, p=0,514). Kết luận: Kiểu hình HCBTĐN phổ biến ở phụ nữ Việt Nam là A, D. Kết quả bước đầu không ghi nhận có sự tác động của kiểu hình lên kết cục IVM. Từ khoá: hội chứng buồng trứng đa nang, rối loạn phóng noãn, cường androgen, trẻ sinh sống ABSTRACT IMPACT OF PHENOTYPES OF POLYCYSTIC OVARY SYNDROME ON OUTCOMES OF IN VITRO MATURATION TREATMENT Ho Ngoc Anh Vu, Ma Pham Que Mai, Phung Huy Tuan, Ho Manh Tuong, Vuong Thi Ngoc Lan * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1- 2021: 143 - 149 Background: Phenotypes of polycystic ovary syndrome (PCOS) include four groups depending on the presence of the following features: ovulation disorder (OD), hyperandrogenism (HA), and polycystic ovary morphology (PCO). Four groups of phenotypes of PCOS are: A (OD+HA+PCO), B (HA+OD), C (HA+PCO), D (OD+PCO). In vitro maturation (IVM) is a safe and effective method for infertility treatment in PCOS patients. There is no study that investigates the impact of phenotypes on IVM outcomes. Objective: To investigate the impact of PCOS phenotypes on IVM outcomes. Method:This was a secondary analysis of a randomized controlled trial conducted on PCOS patients who underwent IVM at IVFMD, My Duc Hospital, Ho Chi Minh City. Outcomes of IVM treatment were compared among four PCOS phenotypes. Result: From 01/2018 to 04/2019, a total of 198 patients were recruited into this study, of which 37 patients 1Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, Trung tâm nghiên cứu HOPE, Bệnh viện Mỹ Đức TP. Hồ Chí Minh 2Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: BS. Hồ Ngọc Anh Vũ ĐT:0935843336 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 144 with phenotype A (18.9%) while 159 with phenotype D (81.1.%), no patient with phenotype B or C. The number of oocytes retrieved was significantly higher in group A as compared to group D (20.00±11.86 versus 12.78±7.15, p <0.001), meanwhile the oocyte maturation rate was not different. Live birth rate was not different between phenotype A and D (29.7% versus 37.1%, p=0.514). Conclusion: The common phenotypes of Vietnamese PCOS women are A and D. Preliminary results show that there is no impact of PCOS phenotypes on outcomes of IVM treatment. Keywords: polycystic ovary syndrome (PCOS), ovulation disorder, hyperandrogenism, live birth ĐẶT VẤN ĐỀ Kích thích buồng trứng trong thụ tinh ống nghiệm nhằm tạo ra sự phát triển của nhiều nang noãn, giúp tăng số lượng noãn, số lượng phôi thu được, từ đó, tăng tỷ lệ thai cộng dồn cho một chu kỳ điều trị(1). Ngược lại, kích thích buồng trứng cũng liên quan đến nhiều biến chứng như hội chứng quá kích buồng trứng, xoắn buồng trứng, xuất huyết nội, huyết khối tĩnh mạch(2). Phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN) có nguy cơ cao hơn với các biến chứng này(3). Kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm (IVM) là kỹ thuật thu nhận noãn non từ các nang thứ cấp nhỏ (2–10 mm) ở buồng trứng mà không áp dụng kích thích buồng trứng. Các noãn non thu được này, sau đó, được nuôi cấy trưởng thành trong ống nghiệm và tạo phôi(4,5). Nhờ vậy, IVM tránh được các biến chứng cho phụ nữ HCBTĐN khi điều trị hỗ trợ sinh sản(6). Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng ghi nhận IVM có hiệu quả không kém hơn TTON cổ điển ở phụ nữ có HCBTĐN(7). Sau sự ra đời của tiêu chuẩn chẩn đoán HCBTĐN theo đồng thuận Rotterdam năm 2003, phân loại về các nhóm kiểu hình HCBTĐN liên quan đến cơ chế bệnh sinh đã được công bố sau đó vào năm 2012(8). Nhiều nghiên cứu (NC) đã được tiến hành nhằm đánh giá kết quả của TTON cổ điển ở các nhóm kiểu hình khác nhau của HCBTĐN, trong đó, ghi nhận tiên lượng điều trị thành công kém hơn ở nhóm kiểu hình có cường androgen so với nhóm không có cường androgen(9). Tuy nhiên, với kỹ thuật IVM, cho đến nay, chỉ có một NC đoàn hệ hồi cứu của Mackens và cộng sự, (2020) trên 320 phụ nữ có HCBTĐN người Châu Âu, ghi nhận có sự khác nhau đáng kể về tỷ lệ trẻ sinh sống cộng dồn giữa các nhóm kiểu hình(10). Tại Việt Nam, kỹ thuật IVM đã được thực hiện thành công từ năm 2006. Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện IVM nhiều nhất trên thế giới. Một NC hồi cứu năm 2018 ghi nhận tỷ lệ trẻ sinh sống cộng dồn của IVM ở phụ nữ Việt Nam có HCBTĐN là 33,7%(11). Kiểu hình HCBTĐN người Việt Nam khác với người Châu Âu và Mỹ(12). Chưa có nghiên cứu ở Việt Nam đánh giá tác động của các kiểu hình HCBTĐN trên kết cục điều trị IVM. Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu khảo sát mối liên quan giữa kiểu hình HC BTĐN và kết cục điều trị IVM ở phụ nữ Việt Nam. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Phụ nữ Việt Nam có HCBTĐN được điều trị hiếm muộn với kỹ thuật IVM tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí Minh từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2019. Tiêu chuẩn chọn mẫu Có hội chứng buồng trứng đa nang được chẩn đoán theo Tiêu chuẩn Rotterdam (2003), bao gồm(13): Cường androgen được định nghĩa trên lâm sàng bằng tình trạng rậm lông (điểm Ferrriman- Gallwey cải biên ≥3), mụn trứng cá nặng hay trên sinh hoá khi nồng độ testosterone toàn phần ≥1,8 nmol/l hay chỉ số testosterone tự do (Free Testosterone Index) >6. Rối loạn phóng noãn được định nghĩa là khi chu kỳ 35 ngày hoặc <8 chu kỳ/năm hoặc vô kinh thứ phát (1 chu kỳ dài hơn 90 ngày). Hình ảnh buồng trứng dạng đa nang trên siêu âm: thực hiện với đầu dò siêu âm ngả âm Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 145 đạo tần số 8MHz với ngưỡng cắt hình ảnh buồng trứng đa nang là ≥20 nang và/hoặc thể tích buồng trứng ≥10 ml, trong điều kiện không có nang hoàng thể, nang vượt trội hoặc nang cơ năng. Được điều trị kỹ thuật IVM. Số chu kỳ điều trị TTON hoặc IVM trước đây ≤2. Chuyển phôi trữ lạnh ≤2 phôi ngày 3. Tiêu chuẩn loại Các chu kỳ xin noãn. Các chu kỳ có thực hiện kỹ thuật chẩn đoán di truyền tiền làm tổ. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Phân tích thứ cấp dữ liệu từ một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng so sánh hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật IVM so với thụ tinh ống nghiệm cổ điển cho bệnh nhân có số nang noãn thứ cấp nhiều. Phân tích thứ cấp này được thực hiện trên dữ liệu của nhóm bệnh nhân có HCBTĐN thực hiện kỹ thuật IVM của nghiên cứu gốc. Cách chọn mẫu Chọn toàn bộ dữ liệu của nhóm bệnh nhân HCBTĐN thực hiện IVM của một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng. Phương pháp tiến hành Bệnh nhân được sàng lọc theo tiêu chuẩn nhận loại, được phân nhóm kiểu hình HCBTĐN(14): A: rối loạn phóng noãn + cường androgen + hình ảnh buồng trứng dạng đa nang. B: rối loạn phóng noãn + cường androgen. C: cường androgen + hình ảnh buồng trứng dạng đa nang. D: rối loạn phóng noãn + hình ảnh buồng trứng dạng đa nang. Bệnh nhân được tiêm hai mũi tiêm FSH, bắt đầu từ ngày 2 hoặc ngày 3 của chu kỳ kinh nguyệt hay sau dùng thuốc để gây bong nội mạc tử cung. Liều FSH 150IU/ngày (HP-hMG; Menopur, Ferring) trong 2 ngày. Chọc hút noãn non được tiến hành ở thời điểm khoảng 42 giờ sau tiêm mũi FSH thứ hai. Sau khi chọc hút, toàn bộ noãn non được nuôi cấy trong môi trường tiền trưởng thành (Môi trường CAPA trong môi trường nuôi cấy IVM, Origio, Đan Mạch) trong thời gian 24 giờ. Sau đó, noãn được nuôi cấy trong môi trường nuôi cấy trưởng thành (Hệ thống Medicult IVM với đỏ phenol, Origio, Đan Mạch) trong thời gian 30 giờ. Thụ tinh được tiến hành bằng kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) ở thời điểm 3–4 giờ sau khi kiểm tra trưởng thành noãn. Thụ tinh được kiểm tra bằng kính hiển vi đảo ngược ở thời điểm 16– 18 giờ sau tiêm tinh trùng. Đánh giá phôi được tiến hành ở thời điểm 68±1 giờ sau thụ tinh theo Đồng thuận Istanbul(15). Trữ phôi toàn bộ ở thời điểm phôi ngày 3. Sau đó, chuẩn bị nội mạc tử cung được thực hiện bằng phác đồ sử dụng nội tiết ngoại sinh ở các chu kỳ kinh nguyệt tiếp theo. NMTC được chuẩn bị bằng estradiol valerate (Valiera; Laboratories Recalcine) với liều 8mg/ngày bắt đầu từ ngày 2 hoặc ngày 3 của chu kỳ kinh nguyệt. NMTC được đánh giá từ ngày thứ 6 trở đi, và progesterone vi hạt sẽ được sử dụng nhằm chuyển NMTC sang giai đoạn phân tiết khi độ dày NMTC đạt kích thước từ 8mm trở lên. Liều sử dụng là 800 mg/ngày, đặt âm đạo (Cyclogest; Actavis). Chuyển phôi được thực hiện sau dùng progesterone 3 ngày với số phôi không quá 2. Thử thai được thực hiện sau chuyển phôi 2 tuần, beta hCG >5 mIU/mL được xem là dương tính và siêu âm đánh giá tính sinh tồn của thai được thực hiện 3 tuần sau thử thai. Toàn bộ các thai kỳ được theo dõi đến ngày sinh. Kết cục nghiên cứu Kết cục chính: tỷ lệ trẻ sinh sống sau lần chuyển phôi đầu tiên. Tỷ lệ trẻ sinh sống được định nghĩa là trẻ sinh ra sau 24 tuần, có dấu hiệu sống, có nhịp tim và có trương lực cơ(1). Kết cục phụ: số noãn/noãn trưởng thành chọc hút được, tỷ lệ trưởng thành, tỷ lệ thụ tinh, Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 146 số phôi; tỷ lệ beta hCG dương tính, thai lâm sàng, thai diễn tiến, thai ngoài tử cung, sẩy thai, đa thai, trẻ sinh sống; tỷ lệ rối loạn tăng huyết áp thai kỳ, đái tháo đường thai kỳ. Quản lý và phân tích số liệu Số liệu được quản lý bằng phần mềm Epi Info (Phiên bản 7.0) và phân tích bằng phần mềm R (phiên bản 3.3.3). Khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p <0,05. Y đức Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học bệnh viện Mỹ Đức, số 20/MĐ-HĐĐĐ, ngày 28/3/2017. KẾT QUẢ Từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2019, có 196 bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu, trong đó, 37 bệnh nhận (18,9%) có kiểu hình A và 159 có kiểu hình D (81,1%). Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1. Kết quả phôi học, thai, sản khoa Kết quả phôi học, thai và sản khoa sau lần chuyển phôi đầu tiên của 2 nhóm kiểu hình bệnh nhân được trình bày trong Bảng 2. Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ở từng nhóm kiểu hình Đặc điểm Kiểu hình A (n = 37) Kiểu hình D (n = 159) Giá trị p Tuổi (năm) 29,14 ± 3,21 29,92 ± 3,17 0,178 BMI (kg/m 2 ) 24,52 ± 2,85 22,02 ± 2,81 <0,001 AMH (ng/ml) 9,13 ± 3,62 9,54 ± 4,03 0,584 Thời gian mong con (năm) 4,11 ± 2,35 3,53 ± 2,37 0,186 Số chu kỳ điều trị TTON trước đây (n, %) 0,339 1 35 (94,6) 139 (87,4) 2 2 (5,4) 20 (12,6) Nguyên nhân vô sinh (n, %) 0,469 Nguyên phát 28 (75,7) 108 (67,9) Thứ phát 9 (24,3) 51 (32,1) Testosterone toàn phần (nmol/l) 1,95 ± 0,51 1,14 ± 0,60 <0,001 SHBG (nmol/l) 23,55 ± 8,46 77,19 ± 163,37 0,048 Chỉ số testosterone tự do 2,55 ± 1,01 2,11 ± 0,88 0,033 Nồng độ DHEA 8,85 ± 2,67 2,46 ± 1,65 <0,001 BMI: body mass index – chỉ số khối cơ thể AMH: Anti-Müllerian hormone HBG: sex hormone-binding globulin DHEA: Dehydroepiandrosterone Bảng 2: Đặc điểm phôi học và kết quả của bệnh nhân ở 2 nhóm kiểu hình Đặc điểm Kiểu hình A (n = 37) Kiểu hình D (n = 159) Giá trị p Số noãn chọc hút được 20,00 ± 11,86 14,40 ± 6,89 <0,001 Số noãn trưởng thành 12,78 ± 7,15 8,77 ± 4,84 <0,001 Tỷ lệ trưởng thành noãn 67,11 ± 16,17 62,01 ± 18,10 0,117 Số noãn thụ tinh 10,19 ± 5,83 7,31 ± 4,32 0,001 Tỷ lệ thụ tinh 81,26 ± 15,82 83,03 ± 17,70 0,577 Số phôi 6,03 ± 3,74 4,95 ± 3,38 0,089 Tỷ lệ tạo phôi / số noãn thụ tinh 60,22 ± 21,62 68,89 ± 21,02 0,026 Tỷ lệ tạo phôi / số noãn trưởng thành 49,93 ± 20,41 56,64 ± 20,21 0,071 Số phôi tốt 3,78 ± 2,11 3,27 ± 2,86 0,312 Tỷ lệ phôi tốt/ số noãn thụ tinh 41,36 ± 20,58 43,63 ± 26,66 0,633 Tỷ lệ phôi tốt/ số noãn trưởng thành 34,28 ± 19,27 36,15 ± 22,60 0,647 Tổng số phôi trữ 4,89 ± 2,40 4,26 ± 2,76 0,207 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 147 Đặc điểm Kiểu hình A (n = 37) Kiểu hình D (n = 159) Giá trị p Tỷ lệ beta hCG dương tính (n, %) 23 (62,2) 89 (56,0) 0,617 Tỷ lệ làm tổ (n, %) 41,67 ± 38,73 34,39 ± 37,49 0,452 Tỷ lệ thai lâm sàng (n, %) 22 (59,5) 81 (50,9) 0,298 Tỷ lệ thai diễn tiến (n, %) 12 (32,4) 65 (40,9) 0,447 Tỷ lệ trẻ sinh sống (n, %) 11 (29,7) 59 (37,1) 0,514 Tỷ lệ hội chứng quá kích buồng trứng (n, %) 0 (0) 0 (0) - Tỷ lệ thai ngoài tử cung (n, %) 2 (5,4) 1 (0,6) 0,165 Tỷ lệ sẩy thai 12 tuần (n, %) 8 (21,6) 16 (10,1) 0,098 Tỷ lệ đa thai (n, %) 5 (13,5) 25 (15,7) 0,934 Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ (n, %) 1 (2,7) 18 (11,3) 0,198 Tỷ lệ rối loạn tăng huyết áp thai kỳ (n, %) 1 (2,7) 3 (1,9) 0,99 Cân nặng trẻ lúc sinh (g) Đơn thai 3.180,0 ± 361,5 3.285,4 ± 409,6 0,159 Song thai 950,0 ± 70,7 2.510,6 ± 578,2 - Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến các yếu tố tác động lên tỉ lệ trẻ sinh sống Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến được tiến hành nhằm xác định các yếu tố độc lập ảnh hưởng đến tỷ lệ trẻ sinh sống. Kết quả phân tích được trình bày trong Bảng 3. Bảng 3: Phân tích hồi quy đơn, đa biến đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tỉ lệ trẻ sinh sống Đặc điểm OR [KTC 95%]; Giá trị p AOR [KTC 95%]; Giá trị p Tuổi (năm) 0,92 [0,83, 1,01]; 0,094 0,93 [0,83, 1,03]; 0,177 BMI (kg/m 2 ) 1,09 [0,99, 1,21]; 0,084 1,11 [0,99, 1,26]; 0,077 AMH (ng/ml) 0,95 [0,88, 1,03]; 0,226 0,97 [0,89, 1,05]; 0,421 Thời gian mong con (năm) 1,01 [0,89, 1,14]; 0,925 - Số chu kỳ điều trị TTON trước đây 1 Tham chiếu - 2 0,64 [0,22, 1,65]; 0,383 - Nguyên nhân vô sinh Nguyên phát Tham chiếu Tham chiếu Thứ phát 0,62 [0,31, 1,18]; 0,154 0,55 [0,25, 1,17]; 0,129 DHEA 1,04 [0,71, 1,51]; 0,85 Kiểu hình HCBTĐN A Tham chiếu Tham chiếu D 1,39 [0,66, 3,13]; 0,4 2,03 [0,84, 5,21]; 0,126 OR: tỉ số chênh AOR: tỉ số chênh hiệu chỉnh KTC: khoảng tin cậy BÀN LUẬN Đây là nghiên cứu đầu tiên khảo sát tác động của các kiểu hình HCBTĐN trên kết cục IVM ở phụ nữ người Việt Nam. Kết quả nghiên cứu Số liệu từ nghiên cứu ghi nhận không có sự khác biệt về tỷ lệ trẻ sinh sống ở hai kiểu hình A và D của phụ nữ có HCBTĐN khi điều trị kỹ thuật IVM (29,7% so với 37,1%, p=0,514). Nghiên cứu của Mackens S (2020) cũng không ghi nhận sự khác biệt về tỉ lệ trẻ sinh sống giữa 2 kiểu hình này (25,2% so với 26,6%, p=0,22), mặc dù, tác giả ghi nhận có sự khác biệt giữa kiểu hình A và B và kiểu hình HCBTĐN là yếu tố độc lập tác động trên kết cục điều trị IVM(10). Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ sinh sống trong nghiên cứu này có xu hướng cao hơn so với NC của Mackens S. Kết quả này có thể liên quan đến các yếu tố như: (i) Vai trò của việc sử dụng môi trường nuôi cấy tiền trưởng thành có khả năng cải thiện tiềm năng của noãn thông qua cải thiện cầu nối giữa khối tế bào vành tia và noãn cũng như tăng sự đồng bộ trưởng thành nhân và tế bào chất của noãn(1), (ii) Sự thuần thục trong quy trình nuôi cấy phôi của labo hỗ trợ sinh sản của chúng tôi với hơn 4000 chu kỳ IVM đã được tiến hành từ năm 2006. Khác với các NC trên phụ nữ có HCBTĐN thực hiện TTTON, tỉ lệ trẻ sinh sống được ghi nhận thấp hơn ở nhóm A(9,18). Các giả thuyết được đặt ra từ các NC trước đây để lý giải Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 148 mối liên quan giữa kiểu hình HCBTĐN và kết quả điều trị TTON bao gồm: (i) Ảnh hưởng bất lợi của cường androgen lên chất lượng noãn/phôi, (ii) Ảnh hưởng bất lợi của cường androgen lên khả năng tiếp nhận của nội mạc tử cung(8,16). Giả thuyết này cần được kiểm chứng thêm với kỹ thuật IVM. Theo Hướng dẫn quốc tế dựa trên y học bằng chứng về HCBTĐN (2018), IVM có thể được sử dụng tại các trung tâm đủ khả năng cho nhóm phụ nữ có HCBTĐN với tỷ lệ thai tương đương TTON(14). Ngoài ra, không có bất kỳ trường hợp nào có hội chứng quá kích buồng trứng sau điều trị IVM ở 2 nhóm kiểu hình HCBTĐN, cho thấy IVM an toàn cho nhóm bệnh nhân này. Số noãn chọc hút, số noãn trưởng thành ở nhóm A là cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm D. Tuy nhiên, tỉ lệ trưởng thành noãn, tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ phôi tốt và số phôi tốt là không có sự khác biệt giữa hai nhóm. Tỉ lệ trẻ sinh sống không khác biệt giữa 2 nhóm nhưng có xu hướng thấp hơn ở nhóm A so với nhóm D. Điều này cho thấy kiểu hình kết hợp nhiều nhóm triệu chứng có thể có tác động trên kết quả điều trị IVM, tuy nhiên, nghiên cứu này có thể chưa đủ năng lực mẫu để chứng minh tác động này. Tỉ lệ rối loạn tăng huyết áp thai kỳ và đái tháo đường thai kỳ cũng không có sự khác biệt giữa hai nhóm kiểu hình. Nghiên cứu trước đó của Mackens S (2020) không báo cáo 2 kết cục này(10). Một yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến kết quả thai là BMI. BMI tăng được ghi nhận làm ảnh hưởng đến các kết cục điều trị HTSS, nhất là ở phụ nữ có HCBTĐN(17,19). Bệnh nhân trong nghiên cứu này không ở mức thừa cân, béo phì nhưng BMI ở nhóm A cao hơn nhóm D có ý nghĩa thống kê (24,52 ± 2,85 so với 22,02 ± 2,81, p <0,001). Đây có thể là một trong các yếu tố tiềm ẩn giải thích xu hướng tỉ lệ trẻ sinh sống ở nhóm A thấp hơn so với nhóm D. Các kết cục thai khác trong nghiên cứu của chúng tôi không khác biệt giữa 2 nhóm, trong khi NC của Mackens S ghi nhận tỉ lệ sẩy thai sớm ở nhóm A cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm D, cao nhất ở nhóm C(10). Tình trạng này có thể liên quan đến cường androgen do bệnh nhân ở nhóm A và C có cường androgen sinh hoá nhiều hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm D trong NC của Mackens S (2020)(10) nhưng không có trong NC của chúng tôi. Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến không ghi nhận ảnh hưởng của kiểu hình HCBTĐN lên tỷ lệ trẻ sinh sống trong nghiên cứu này nhưng NC của Mackens S (2020) ghi nhận kiểu hình HCBTĐN là yếu tố tiên lượng độc lập lên tỷ lệ trẻ sinh sống ở các chu kỳ điều trị IVM(10). Kiểu hình A được ghi nhận có tỷ lệ trẻ sinh sống cộng dồn cao hơn so với kiểu hình B (OR 0,26, KTC 95%, 0,06–1,05) và C (OR 0,47, KTC 95% 0,2–0,88, p=0,03)(10). Điều này cũng có thể lý giải do sự khác biệt về đặc điểm của phụ nữ có HCBTĐN người Việt Nam khác với người Châu Âu và cũng có thể do năng lực mẫu chưa đủ trong NC này. Ngoài ra, bệnh nhân người Việt Nam trong nghiên cứu này chỉ có 2 kiểu hình HCBTĐN là A và D, điều này cũng cho biết cường androgen không phổ biến ở người Việt Nam so với người Châu Âu và cũng có thể mẫu nghiên cứu lấy tại một trung tâm nên chưa đại diện cho dân số người Việt Nam. Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu Điểm mạnh của nghiên cứu này là NC đầu tiên trên phụ nữ Việt Nam về tác động của kiểu hình HCBTĐN trên kết cục điều trị IVM. Hơn nữa, kết cục của NC là những kết cục quan trọng của điều trị như các kết cục điều trị IVM, kết cục về các biến chứng của thai kỳ gồm tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ và kết cục sản khoa gồm trẻ sinh sống, cân nặng lúc sinh. Các kết cục này chưa từng được báo cáo trước đây. Tuy nhiên, NC có một số hạn chế như đây là phân tích thứ cấp của thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng, do đó, có thể năng lực mẫu chưa đủ để phát hiện sự khác biệt về kết cục điều trị giữa các nhóm kiểu hình và mẫu NC lấy tại một trung tâm nên có thể không đại diện cho kiểu hình phụ nữ Việt Nam có HCBTĐN. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 149 KẾT LUẬN Nghiên cứu bước đầu ghi nhận không có sự tác động của kiểu hình HCBTĐN trên kết cục điều trị IVM ở người phụ nữ Viêt Nam. Cần thực hiện thêm NC với cỡ mẫu đủ lớn, chọn mẫu đại diện để có kết luận chắc chắn hơn về vấn đề này. Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số FWO.106- YS.2017.02. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Zegers-Hochschild F, Adamson GD, Dyer S, Racowsky C, De Mouzon J, Sokol R, Rienzi L, Sunde A, Schmidt L, Cooke ID, Simpson JL, Van Der Poel S (2017). The International Glossary on Infertility and Fertility Care, 2017. Human Reproduction, 32(9):1786-1801. 2. Jacobs HS, Agrawal R (1998). Complications of ovarian stimulation. Baillière's Clinical Obstetrics and Gynaecology, 12(4):565-579. 3. Qiao J, Feng HL (2011). Extra- and intra-ovarian factors in polycystic ovary syndrome: impact on oocyte maturation and embryo developmental competence. Human Reproduction Update, 17(1):17-33. 4. Edwards RG (1965). Maturation in vitro of human ovarian oocytes. Lancet, 286(7419):926-929. 5. Edwards RG, Bavister BD, Steptoe PC (1969). Early Stages of Fertilization in vitro of Human Oocytes Matured in vitro. Nature, 221(5181):632-635. 6. Vuong Thi Ngoc Lan, Ho Manh Tuong, Gilchrist RB, Smitz J (2019). The Place of In Vitro Maturation in Assisted Reproductive Technology. Fertility & Reproduction, 1(1):11-15. 7. Vuong Thi Ngoc Lan, Ho Manh Tuong, Gilchrist RB, Smitz J (2019). The Place of In Vitro Maturation in Assisted Reproductive Technology. Fertility & Reproduction, 1(1):11-15. 8. Lebbe M, Woodruff TK (2013). Involvement of androgens in ovarian health and disease. Molecular Human Reproduction, 19(12):828-837. 9. Ramezanali F, Ashrafi M, Hemat M, Arabipoor A, Jalali S, Moini A (2016). Assisted reproductive outcomes in women with different polycystic ovary syndrome phenotypes: the predictive value of anti-Müllerian hormone. Reproductive BioMedicine Online, 32(5):503-512. 10. Mackens S, Pareyn S, Drakopoulos P, Deckers T, Mostinckx L, Blockeel C, Segers I, Verheyen G, Santos-Ribeiro S, Tournaye H, De Vos M (2020). Outcome of in-vitro oocyte maturation in patients with PCOS: does phenotype have an impact?. Human Reproduction. 35(10):2272-2279. 11. Ho Ngoc Anh Vu, Pham Duong Toan, Le Hoang Anh, Ho Manh Tuong, Vuong Thi Ngoc Lan (2018). Live birth rate after human chorionic gonadotropin priming in vitro maturation in women with polycystic ovary syndrome. Journal of Ovarian Research, 11(1):70. 12. Vuong Thi Ngoc Lan, Norman RJ, Giang Huynh Nhu, Phung Huy Tuan, Ho Manh Tuong (2009). Ovulation induction using low-dose step-up rFSH in Vietnamese women with polycystic ovary syndrome. Reproductive BioMedicine Online,18(4):516-521. 13. Rotterdam ESHRE/ASRM-Sponsored PCOS Consensus Workshop Group (2004). Revised 2003 consensus on diagnostic criteria and long-term health risks related to polycystic ovary syndrome (PCOS). Human Reproduction, 19(1):41-47. 14. Teede HJ, Misso ML, Costello MF, Dokras A, Laven J, Moran L, Piltonen T, Norman RJ and International PCOS Network (2018). Recommendations from the international evidence-based guideline for the assessment and management of polycystic ovary syndrome. Human Reproduction, 33(9):602-1618. 15. Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special Interest Group of Embryology (2011). The Istanbul consensus workshop on embryo assessment: proceedings of an expert meeting. Human Reproduction, 26(6):1270-1283. 16. Gonzalez D, Thackeray H, Lewis PD, Mantani A, Brook N, Ahuja K, Margara R, Joels L, White JO, Conlan RS (2012). Loss of WT1 expression in the endometrium of infertile PCOS patients: a hyperandrogenic effect? Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism, 97(3):957-966. 17. Gambineri A, Laudisio D, Marocco C, Radellini S, Colao A, Savastano S& on behalf of the Obesity Programs of nutrition, Education, Research and Assessment (OPERA) Group (2019). Female infertility: which role for obesity?. International Journal of Obesity Supplements, 9(1):65-72. 18. Pasquali R, Gambineri A, Pagotto U (2006), The impact of obesity on reproduction in women with polycystic ovary syndrome. BJOG, 113(10):1148-1159. 19. De Vos M, Pareyn S, Drakopoulos P, Raimundo JM, Anckaert E, Santos-Ribeiro S, Polyzos NP, Tournaye H, Blockeel C (2018). Cumulative live birth rates after IVF in patients with polycystic ovaries: phenotype matters. Reproductive BioMedicine Online, 37(2):163-171. Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/20201
File đính kèm:
moi_lien_quan_giua_kieu_hinh_hoi_chung_buong_trung_da_nang_v.pdf

