Mô tả đặc điểm cận lâm sàng của rau cài răng lược có can thiệp phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm cận lâm sàng của rau cài răng lược có can thiệp phẫu thuật tại Bệnh viện hụ Sản Trung ương (BVPSTW). Đối tượng và phương pháp: hồi cứu, mô tả 100 sản phụ được chẩn đoán và điều trị rau cài răng lược tại BVPSTW trong 5 năm (1/2007 – 12/2011). Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu của 100 bệnh nhân trước đẻ là 37,0%. Tỷ lệ thiếu máu trước phẫu thuật gặp nhiều nhất ở bệnh nhân rau cài răng lược chiếm 40,3% và gặp ít nhất ở bệnh nhân rau bám chặt với tỷ lệ 27,3%, tỷ lệ thiếu máu của bệnh nhân rau đâm xuyên là 37,5%. Nồng độ Hb trung bình trước phẫu thuật của các bệnh nhân là: 112,7 ± 4,2 g/l. Rau cài răng lược (Placenta increta) chiếm tỷ lệ cao nhất là 62,0%, rau đâm xuyên (Placenta petcreta) chiếm 16,0% và rau bám chặt (Placenta accreta) chiếm tỷ lệ 22,0%. Siêu âm phát hiện được RCRL trước sinh chiếm tỷ lệ 32,0%. Siêu âm phát hiện được: rau cài răng lược (Placenta increta) 37,1%, rau đâm xuyên (Placenta percreta) 25,0%. Siêu âm phát hiện RCRL ở tuổi thai 33 – 37 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,6%, ở tuổi thai 23 – 32 tuần là 37,5%, tuổi thai ≥ 38 tuần chiếm 15,6% và ở tuổi thai ≤ 22 tuần chiếm tỷ lệ thấp nhất là 6,3%. Kết luận: Tỷ lệ thiếu máu của 100 bệnh nhân trước đẻ là 37,0%. Nồng độ Hb trung bình trước phẫu thuật của các bệnh nhân là: 112,7 ± 4,2 g/l. Siêu âm phát hiện được RCRL trước sinh chiếm tỷ lệ 32,0%, ở tuổi thai 33 – 37 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,6%, ở tuổi thai 23 – 32 tuần là 37,5%, tuổi thai ≥ 38 tuần chiếm 15,6% và ở tuổi thai ≤ 22 tuần chiếm tỷ lệ thấp nhất là 6,3%

pdf 4 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả đặc điểm cận lâm sàng của rau cài răng lược có can thiệp phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mô tả đặc điểm cận lâm sàng của rau cài răng lược có can thiệp phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mô tả đặc điểm cận lâm sàng của rau cài răng lược có can thiệp phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
27
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 27- 30, 2013
MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG CỦA RAU CÀI RĂNG LƯỢC
CÓ CAN THIỆP PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Lê Thị hương Trà(1), Đặng Thị Minh nguyệt(2)
(1) Bệnh viện huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa, (2) Đại học Y Hà Nội 
tóm tắt
mục tiêu: Mô tả đặc điểm cận lâm sàng của rau cài 
răng lược có can thiệp phẫu thuật tại Bệnh viện hụ Sản 
Trung ương (BVPSTW). Đối tượng và phương pháp: 
hồi cứu, mô tả 100 sản phụ được chẩn đoán và điều trị rau 
cài răng lược tại BVPSTW trong 5 năm (1/2007 – 12/2011). 
Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu của 100 bệnh nhân trước đẻ là 
37,0%. Tỷ lệ thiếu máu trước phẫu thuật gặp nhiều nhất ở 
bệnh nhân rau cài răng lược chiếm 40,3% và gặp ít nhất 
ở bệnh nhân rau bám chặt với tỷ lệ 27,3%, tỷ lệ thiếu máu 
của bệnh nhân rau đâm xuyên là 37,5%. Nồng độ Hb 
trung bình trước phẫu thuật của các bệnh nhân là: 112,7 
± 4,2 g/l. Rau cài răng lược (Placenta increta) chiếm tỷ lệ 
cao nhất là 62,0%, rau đâm xuyên (Placenta petcreta) 
chiếm 16,0% và rau bám chặt (Placenta accreta) chiếm 
tỷ lệ 22,0%. Siêu âm phát hiện được RCRL trước sinh 
chiếm tỷ lệ 32,0%. Siêu âm phát hiện được: rau cài răng 
lược (Placenta increta) 37,1%, rau đâm xuyên (Placenta 
percreta) 25,0%. Siêu âm phát hiện RCRL ở tuổi thai 33 – 
37 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,6%, ở tuổi thai 23 – 32 
tuần là 37,5%, tuổi thai ≥ 38 tuần chiếm 15,6% và ở tuổi 
thai ≤ 22 tuần chiếm tỷ lệ thấp nhất là 6,3%. Kết luận: Tỷ 
lệ thiếu máu của 100 bệnh nhân trước đẻ là 37,0%. Nồng 
độ Hb trung bình trước phẫu thuật của các bệnh nhân là: 
112,7 ± 4,2 g/l. Siêu âm phát hiện được RCRL trước sinh 
chiếm tỷ lệ 32,0%, ở tuổi thai 33 – 37 tuần chiếm tỷ lệ cao 
nhất là 40,6%, ở tuổi thai 23 – 32 tuần là 37,5%, tuổi thai 
≥ 38 tuần chiếm 15,6% và ở tuổi thai ≤ 22 tuần chiếm tỷ 
lệ thấp nhất là 6,3%. 
từ khóa: Rau cài răng lược, cận lâm sàng.
ABStRACt
laboraTory and ulTrasound maniFesTaTion oF 
PaTienTs WiTh PlacenTa accreTa having surgical 
inTervenTion aT naTional hosPiTal oF obsTeTrics 
and gynecology.
Background: Placenta accreta is increasing. Imaging 
helps identify and diagnose performance placenta 
accreta disease. Objective: Describe the sub-clinical 
manifestation of patients with placenta accreta had 
surgical intervention at National Hospital of Obstetrics 
and Gynecology. materials & methods: retrospective 
study 100 pregnancies who were diagnosed with 
placenta accreta had surgery at NHOG in 5 years (from 
Jan-2007 to Dec-2011). Results: The rate of pre-operative 
anemia was 37,0%. Anemia was more commom in 
Placenta accreta (40,3%) than in Placenta increta (27,3%) 
and Placenta percreta (37,5%). The mean pre-operative 
Hb concentration was 112,7 ± 4,2 g/l. Placenta increta 
accounted for the highest percentage (62,0%). The 
incidence of placenta percreta and placenta accreta was 
lower (16,0% and 22,0%). The rate of correct diagnosis by 
pre-operative ultrasound of Placenta accreta, Placenta 
increta and Placenta percreta was 32,0%, 37,1% and 
25,0%. The rate of correct diagnosis by pre-operative 
ultrasound of Placenta accreta depended on gestation 
age: >38weeks (15,6%); 33-37 weeks (40,6%); 23-32 weeks 
(37,5%); <22weeks (6,3%). Conclusion: The rate of pre-
operative anemia was 37,0%. The mean pre-operative 
Hb concentration was 112,7 ± 4,2 g/l. The rate of correct 
diagnosis by pre-operative ultrasound of Placenta accreta 
was 32,0%. The rate of correct diagnosis by pre-operative 
ultrasound of Placenta accreta depended on gestation 
age: highest in 33-37 weeks (40,6%); 23-32 weeks (37,5%); 
and poorest in <22weeks (6,3%). 
Keys: placenta accreta, the sub-clinical 
Đặt vấn Đề: 
Rau cài răng lược (RCRL) hiện nay tần suất bệnh 
đang có xu hướng tăng nhanh. Theo Eller là 1/1205 
(1996 -2002) [1]. Thống kê ở Pháp: theo Cloqueur tại 
Lille là 1/1916 (1996 -2006), theo Kayem tại Paris là 
1/968 (1993 -2002) [2].
Việc chẩn đoán trước sinh RCRL là rất quan trọng 
nhưng trước đây chỉ có thể được làm trong chuyển dạ 
và trong khi mổ lấy thai nên việc xử trí rất thụ động. 
Gần đây với sự tiến bộ vượt bậc của chẩn đoán hình 
ảnh, đặc biệt là siêu âm Dopller màu và phương pháp 
chụp cộng hưởng từ (MRI) thì việc chẩn đoán RCRL đã 
Biểu đồ 3.1. Thể loại rau cài răng lược
Bảng 3.2. Siêu âm phát hiện rCrL 
(ghi chú: phân loại rCrL căn cứ theo giải phẫu bệnh hoặc mô tả lúc mổ)
- Trong 100 bệnh nhân khi vào viện chỉ có 32 bệnh 
nhân siêu âm phát hiện được RCRL trước sinh chiếm 
tỷ lệ 32,0%.
- Trong số 62 bệnh nhân rau cài răng lược
(Placenta increta) siêu âm phát hiện được chính 
xác 23 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 37,1%, còn 62,9% 
không phát hiện được trên siêu âm mà chỉ phát 
hiện được trong quá trình phẫu thuật. Có 1 trường 
hợp siêu âm trước sinh là thể rau cài răng lược 
(Placenta increta) nhưng khi mổ ra lại là thể rau 
bám chặt (Placenta accreta).
- Trong số 16 bệnh nhân rau đâm xuyên
(Placenta percreta) có 4 trường hợp siêu âm chẩn 
đoán chính xác chiếm 25,0% và 4 (25,0%) trường 
hợp siêu âm chẩn đoán là thể rau cài răng lược 
(Placenta increta), 50,0% trường hợp không phát 
hiện được trên siêu âm. 
- Siêu âm chẩn đoán trước sinh không phát hiện
được trường hợp rau bám chặt nào. 
Bảng 3.3. phân bố tuổi thai siêu âm phát hiện rCrL
(ghi chú: chỉ có 32 bệnh nhân được siêu âm chẩn đoán trước sinh rCrL)
Siêu âm phát hiện RCRL ở tuổi thai 33 – 37 tuần 
chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,6%, ở tuổi thai 23 – 32 
Lê Thị hương Trà, Đặng Thị Minh nguyệTSẢN KHOA VÀ SƠ SINH
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
28
được cải thiện rất nhiều. 
Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu với 
mục tiêu: Mô tả đặc điểm cận lâm sàng của những 
trường hợp RCRL có can thiệp phẫu thuật tại BVPSTW 
từ 01/2007 đến 12/2011.
Đối tượng và phương pháp 
nghiên Cứu
Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang, những 
bệnh nhân đã được can thiệp phẫu thuật và được 
chẩn đoán xác định là RCRL tại BVPSTW trong 5 
năm (1/2007 – 12/2011). Tiêu chuẩn loại trừ: Không 
ghi rõ loại RCRL, không có siêu âm chẩn đoán. Các 
sản phụ được chẩn đoán trước sinh là RCRL nhưng 
sau sinh không phải RCRL như: rau tiền đạo, rau 
bong non...
Kết quả 
Bảng 3.1. Mối liên quan giữa nồng độ hb trước phẫu thuật và rCrL
- Tỷ lệ thiếu máu của 100 bệnh nhân trước đẻ là
37,0%, trong đó thiếu máu nhẹ 32,0%, tỷ lệ bệnh 
nhân thiếu máu nhẹ gặp nhiều nhất ở bệnh nhân rau 
cài răng lược chiếm 71,9%.
- Có 2 bệnh nhân thiếu máu nặng trước mổ, 1
bệnh nhân rau đâm xuyên với nồng độ Hb là 57g/l 
và 1 bệnh nhân rau cài răng lược có nồng độ Hb 
là 62g/l.
- Tỷ lệ thiếu máu trước phẫu thuật gặp nhiều
nhất ở bệnh nhân rau cài răng lược chiếm 40,3% 
và gặp ít nhất ở bệnh nhân rau bám chặt với tỷ 
lệ 27,3%, tỷ lệ thiếu máu của bệnh nhân rau đâm 
xuyên là 37,5%.
- Nồng độ Hb trung bình trước phẫu thuật của các 
bệnh nhân là: 112,7 ± 4,2 g/l.
Trong số 100 bệnh nhân RCRL, rau cài răng lược 
(Placenta increta) chiếm tỷ lệ cao nhất là 62,0%, 
rau đâm xuyên (Placenta petcreta) chiếm 16,0% và 
rau bám chặt (Placenta accreta) chiếm tỷ lệ 22,0%.
phân loại hb (g/l)
Trước phẫu thuật
Số lượng Tỷ lệ
< 70 2 2,0
70 - <90 3 3,0
90 - <110 32 32,0
≥ 110 63 63,0
Tổng 100 100
Trung bình 112,7 ± 4,2 g/l
 rau bám chặt
 rau cài răng lược
 rau đâm xuyên 
62%
22% 16%
rau bám 
chặt
rau cài 
răng lược
rau đâm 
xuyên
Tổng số
n (%) n (%) n (%) n (%)
rau cài răng lược 1 4,5 23 37,1 4 25,0 28 28,0
rau đâm xuyên 0 0,0 0 0,0 4 25,0 4 4,0
Không phát hiện ra rCrL 21 95,5 39 62,9 8 50,0 68 68,0
Tổng số 22 100 62 100 16 100 100 100
Loại rau
Siêu âm
≤ 22 tuần 23- 32 tuần 33 – 37 tuần ≥ 38 tuần Tổng số
n 2 12 13 5 32
Tỷ lệ 6,3 37,5 40,6 15,6 100
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
29
Tạp Chí phụ Sản - 11(2), 27- 30, 2013
tuần là 37,5%, tuổi thai ≥ 38 tuần chiếm 15,6% và 
ở tuổi thai ≤ 22 tuần chiếm tỷ lệ thấp nhất là 6,3%. 
Bàn luận 
Tỷ lệ Phân loại của rau cài răng lược
Theo biểu đồ 3.1 trong số 100 bệnh nhân RCRL 
thì loại rau cài răng lược (Placenta increta) chiếm 
tỷ lệ cao nhất là 62%, loại rau bám chặt (Placenta 
accreta) chiếm 22% còn loại rau đâm xuyên (Placenta 
percreta) chiếm 16%.
Trong 76 trường hợp cắt tử cung có 71 trường 
hợp được làm GPB với kết quả trả lời là RCRL, 
chỉ có 5 trường hợp không được làm GPB và 
ghi trong phiếu ghi cách thức phẫu thuật là sau 
khi bóc rau thấy gai rau ăn vào cơ tử cung. Như 
vậy 2 loại rau cài răng lược (Placenta increta) và 
rau đâm xuyên (Placenta percreta) có thể chẩn 
đoán xác định vào kết quả siêu âm, kết quả giải 
phẫu bệnh và cách thức phẫu thuật của phẫu 
thuật viên. Với những trường hợp rau bám chặt 
(Placenta accreta) ngoài 5 trường hợp được chẩn 
đoán xác định bởi kết quả GPB ở những tử cung 
đã cắt, còn những trường hợp được bảo tồn tử 
cung thì ít nhiều còn ảnh hưởng bởi nhận định 
chủ quan của phẫu thuật viên. Trong 22 bệnh 
nhân rau bám chặt có 17 bệnh nhân được bảo 
tồn tử cung và được mô tả là rau bám chặt trong 
phiếu ghi cách thức phẫu thuật.
siêu âm
Theo kết quả bảng 3.6 cho thấy trong các 
bệnh nhân RCRL siêu âm chẩn đoán trước sinh có 
thể phát hiện được 32%, trong đó tỷ lệ chẩn đoán 
đúng của rau cài răng lược (Placenta increta) là 
37,1% và rau đâm xuyên (Placenta percreta) là 
25%. Không có trường hợp rau bám chặt (Placenta 
accreta) nào được chẩn đoán trước sinh. 
Như chúng ta đã biết tai biến và biến chứng 
của RCRL là vô cùng nặng nề nhưng chúng lại 
thường chỉ bắt đầu xảy ra trong quá trình chuyển 
dạ khi thai đã sổ, lúc đó mọi xử trí đều trong tình 
trạng bị động như: động tác cố gắng bóc hết rau 
có thể gây chảy máu ồ ạt, sự do dự giữa cắt tử 
cung và cố gắng cầm máu làm thời gian phẫu 
thuật kéo dài và gây mất máu nhiều hơn, hay sự 
bị động về lượng máu dự trù, về trang thiết bị kỹ 
thuật và đặc biệt là sự vắng mặt của những phẫu 
thuật viên có kinh nghiệm tốt. Chính vì vậy việc 
chẩn đoán trước sinh RCRL là vô cùng quan trọng 
và quý báu. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 20 
trường hợp mất máu nhiều từ 5 đơn vị trở lên thì 
có tới 13 trường hợp không được chẩn đoán trước 
sinh RCRL, trong đó có 5 trường hợp phải truyền 
tới 8 đơn vị máu và 4 trường hợp phải truyền 6 
đơn vị máu.
Nghiên cứu của Bạch Cẩm An có 62,5% (5/8) 
trường hợp siêu âm phát hiện được RCRL [3], 
trong đó có 3 trường hợp xác định đúng có xâm 
lấn bàng quang chiếm tỷ lệ 37,5% . Như vậy tỷ lệ 
siêu âm phát hiện RCRL của chúng tôi thấp hơn 
rất nhiều, tỷ lệ chẩn đoán đúng rau đâm xuyên 
cũng thấp hơn nhiều.
Trường hợp siêu âm phát hiện RCRL sớm nhất 
là ở tuổi thai 22 tuần. Đa số trong nghiên cứu này 
được siêu âm chẩn đoán sau 22 tuần thậm chí 
đa số chẩn đoán sau 33 tuần (18/32), điều này là 
hoàn toàn hợp lý vì phần lớn đối tượng nghiên 
cứu trong nghiên cứu này là rau tiền đạo, thậm 
chí cả 32 trường hợp siêu âm này đều có rau tiền 
đạo, mà để chẩn đoán rau tiền đạo thường được 
thực hiện vào 3 tháng cuối của thai kỳ. Hơn nữa 
kỹ năng siêu âm Dopller màu để chẩn đoán RCRL 
hiện nay chưa cao cho nên thường chẩn đoán 
muộn hoặc không chẩn đoán được. Đây là một 
trong những thiệt thòi của bệnh nhân RCRL khi 
mà chưa có chẩn đoán trước sinh, sẽ làm tăng tỷ 
lệ biến chứng của RCRL.
So sánh với kết quả của tác giả Trần Danh 
Cường với 55,6% (15/27) trường hợp được chẩn 
đoán sau 33 tuần (4) thì nghiên cứu của chúng tôi 
hoàn toàn phù hợp.
Về chẩn đoán RCRL tác giả Trần Danh Cường 
khẳng định sử dụng siêu âm màu là hoàn toàn 
có thể chẩn đoán được RCRL, đặc biệt ở thai phụ 
RTĐ có sẹo mổ tử cung cũ. Dấu hiệu siêu âm đặc 
trưng là các nang chứa dịch trong nhu mô rau 
và hình ảnh mạch máu đi thẳng góc với thành 
tử cung. Phương pháp này có thể thay thế chụp 
IRM [4]. Nhiều tác giả đưa ra độ nhạy và độ đặc 
hiệu của siêu âm để phát hiện ra loại rau cài răng 
lược khoảng 80 và 90% ]5, 6]. Theo Comstock, CH 
thì dấu hiệu gợi ý loại RCRL có thể phát hiện sớm 
vào quý đầu của thai nghén, một loạt các thai 
phụ bị RCRL và có sẹo mổ đẻ cũ đã được chẩn 
đoán trước bằng siêu âm lúc túi ối 6 tuần thường 
bám vào đoạn dưới tử cung hơn là bám vào đáy 
tử cung, khi siêu âm kiểm tra lại thai trước 10 
tuần thì những ca này túi ối thường bám vào 
sẹo mổ đẻ và vùng có lớp cơ mỏng [7]. Nagi và 
CS cũng cho rằng chẩn đoán thành công RTĐ/
Lê Thị hương Trà, Đặng Thị Minh nguyệTSẢN KHOA VÀ SƠ SINH
Tập 11, số 02
Tháng 5-2013
Tạp chí Phụ Sản 
30
RCRL phát triển trên vết sẹo mổ lấy thai có thể 
được thực hiện trong suốt thời gian quý I của thai 
nghén, đặc biệt trong những tuần đầu tiên bởi vì 
túi ối của thai đang rất nhỏ và vị trí làm tổ có thể 
xác định chính xác, hơn nữa đoạn dưới tử cung 
tương đối dày tạo điều kiện cho việc phát hiện 
thai làm tổ trên sự khiếm khuyết của thành trước 
cơ tử cung [8].
Việc chẩn đoán sớm sự bất thường bám dính 
của rau thai ở quý I sẽ cho bệnh nhân sự lựa chọn 
hoặc là tiếp tục kéo dài thai nghén hoặc là chấm 
dứt thai kỳ. Chấm dứt thai kỳ trong quý I có biến 
chứng quan trọng là xuất huyết trong 20% – 40% 
các ca nhưng nguy cơ cắt bỏ tử cung rất thấp [8], 
vì khả năng có thể bảo tồn tử cung là rất quan 
trọng đối với phụ nữ. Tuy nhiên, với những trường 
hợp thai phụ lựa chọn tiếp tục kéo dài thai nghén, 
thầy thuốc sẽ tư vấn cho họ những nguy cơ đối 
với mẹ và con. Việc khám thai định kỳ sẽ tương tự 
như với các phụ nữ khác với chẩn đoán chính là 
RTĐ, nhưng việc chẩn đoán sớm sẽ giúp đảm bảo 
sự có mặt của các nhân viên y tế cao cấp cũng 
như sự chuẩn bị các trang thiệt bị dầy đủ trong 
quá trình chuyển dạ hoặc sảy thai. 
Có 3 trường hợp siêu âm chẩn đoán trước sinh 
nghi ngờ rau đâm xuyên bàng quang đã được 
soi bàng quang chẩn đoán thì có 2 trường hợp 
thấy niêm mạc bàng quang bình thường. Chỉ có 
1 trường hợp soi thấy vùng đáy bàng quang có 
nhiều mạch máu giãn to, phía sau cổ bị đẩy lồi và 
dưới niêm mạc có tổ chức xâm lấn nhưng chưa 
qua niên mạc bàng quang.
Trong 100 thai phụ bị RCRL trong nghiên cứu 
của chúng tôi không có bệnh nhân nào được chụp 
MRI và làm xét nghiệm nồng độ alpha fetoprotein 
để chẩn đoán loại RCRL.
Kết luận
Tỷ lệ thiếu máu của 100 bệnh nhân trước đẻ 
là 37,0%. Nồng độ Hb trung bình trước phẫu 
thuật của các bệnh nhân là: 112,7 ± 4,2 g/l. Rau 
cài răng lược (Placenta increta) chiếm tỷ lệ cao 
nhất là 62,0%, rau đâm xuyên (Placenta petcreta) 
chiếm 16,0% và rau bám chặt (Placenta accreta) 
chiếm tỷ lệ 22,0%. Siêu âm phát hiện được RCRL 
trước sinh chiếm tỷ lệ 32,0%, ở tuổi thai 33 – 37 
tuần chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,6%, ở tuổi thai 
23 – 32 tuần là 37,5%, tuổi thai ≥ 38 tuần chiếm 
15,6% và ở tuổi thai ≤ 22 tuần chiếm tỷ lệ thấp 
nhất là 6,3%. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Eller AG, Porter TF, Soisson P, Silver RM. Optimal 
management strategies for placenta accreta. BJOG. 
2009;116:648.
2. Sentilhen L, et al, . Rau cài răng lược. Báo cáo khoa 
học tại Hội nghị Sản Phụ khoa Việt – Pháp tháng 4/2011 
Hà Nội; 2011.
3. Bạch Cẩm An, cộng sự. Nhận xét một số trường 
hợp rau cài răng lược xâm lấn bàng quang trên vết mổ 
cũ: Hội nghị Sản Phụ khoa Việt- Pháp tháng 4/2011. 
Chuyên đề Hỗ trợ sinh sản – Vô sinh – Sản phụ khoa; 
2011.
4. Trần Danh Cường. Chẩn đoán rau cài răng lược 
bằng siêu âm Doppler màu: Hội nghị Sản Phụ khoa Việt 
– Pháp năm 2011. Chuyên đề chẩn đoán trước sinh – sơ 
sinh 2011.
5. Finberg HJ, Williams JW. Placenta accreta: 
prospective sonographic diagnosis in patients 
with placenta previa and prior cesarean section. J 
Ultrasound Med. 1992(11):333.
6. Levine D, Hulka CA, Ludmir J, et al. Placenta 
accreta: evaluation with color Doppler US, power 
Doppler US, and MR imaging. Radiology. 1997;205:773.
7. Comstock CH, Lee W, Vettraino IM, Bronsteen 
RA. The early sonographic appearance of placenta 
accreta. 2003;22:19.
8. Jara Ben Nagi, et al. First-trimester cesarean scar 
pregnancy evolving into placenta previa/accreta at 
term: a case report. J Ultrasound Med. 2005;24:220 – 7.

File đính kèm:

  • pdfmo_ta_dac_diem_can_lam_sang_cua_rau_cai_rang_luoc_co_can_thi.pdf