Mô hình tiên đoán kết quả sinh thiết tuyến tiền liệt dựa vào tuổi, nồng độ PSA huyết thanh, thăm trực tràng và thể tích tuyến tiền liệt

Đặt vấn đề: Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) là một loại ung thư phổ biến thứ hai ở nam giới, tần suất ngày

một tăng tại Việt Nam. Hiện tại chưa có mô hình nào giúp tiên đoán ung thư tuyến tiền liệt cho người Việt, chủ

yếu sử dụng các mô hình của các nước Âu-Mỹ (da trắng, da đen). Nghiên cứu này đánh giá sự tương quan giữa

giá trị nồng độ PSA huyết thanh, tuổi, thể tích và kết quả giải phẫu bệnh của sinh thiết tuyến tuyền liệt dưới

hướng dẫn siêu âm qua ngã trực tràng (TRUS) nhằm xây dựng mô hình tiên đoán ung thư tuyến tiền liệt cho

đàn ông người Việt Nam đến khám tại các bệnh viện trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Chợ Rẫy, Bình Dân, Nhân

dân Gia Định nghi ngờ ung thư tuyến tiền liệt được chỉ định sinh thiết tuyến tiền liệt dưới hưỡng dẫn TRUS từ

tháng 01/2017 đến tháng 05/2020. Biến số nghiên cứu: tuổi, PSA huyết thanh, thăm khám trực tràng (DRE), thể

tích TTL, kết quả giải phẫu bệnh lý (GPBL).

Kết quả: 1160 bệnh nhân thoả tiêu chuẩn chọn mẫu được đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung bình: 72,26 ±

10,27 tuổi. Mỗi tuổi tăng khiến tăng nguy cơ sinh thiết TTL ác tính lên 3,5% (OR=1,035; p <0,001). hầu="">

bệnh nhân đến khám khi có triệu chứng (89,1%), đa số là do tiểu khó (44,9%). 419 bệnh nhân (36,1%) có kết quả

DRE nghi ngờ ác tính. DRE nghi ngờ ác tính khiến khả năng ung thư TTL tăng gấp 5,7 lần so với không nghi

ngờ (OR=5,685; p <0,001). nồng="" độ="" psa="" huyết="" thanh="" trung="" bình:="" 42,89="" ±="" 39,41="" ng/ml,="" trung="" vị:="" 23="">

Phần lớn bệnh nhân có PSA trong khoảng 4,00 – 19,99 ng/mL (44,6%) và ≥100 ng/mL (21,6%). Mỗi 1 ng/mL

PSA tăng khiến xác suất sinh thiết TTL ác tinh tăng 4% (OR=1,040; p <0,001). thể="" tích="" ttl="" trung="" bình:="">

± 33,84 mL. Mỗi 1 mL TTL tăng khiến xác suất sinh thiết TTL ác tính giảm 1,2% (OR=0,988; p <0,001). kết="">

GPBL là: tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (BPH) - 51,4%, Adenocarcinoma - 44,2%, tiền ác tính (AAH, PIN) -

2,9%, ASAP - 1,1%, Polyp biểu mô sợi - 0,1%, Lymphoma - 0,1%, Leiomyosarcoma - 0,1% và Carcinoma tế bào

gai TTL - 0,1%. Số bệnh nhân có biểu hiện viêm TTL là 269 (23,2%), 259/269 thuộc nhóm kết quả GPBL lành

tính. Chỉ 10 bệnh nhân ung thư TTL có kèm biểu hiện viêm TTL. Viêm cấp tính ảnh hưởng mạnh lên PSA hơn

viêm mạn tính (p <0,001). viêm="" dạng="" hạt="" không="" ảnh="" hưởng="" lên="" psa="" so="" với="" không="" viêm.="" áp="" dụng="" hồi="" quy="">

nhị phân xây dựng mô hình dự đoán kết quả sinh thiết TTL ác tính gồm: tuổi, PSA, DRE, thể tích TTL có độ

chính xác lên đến 81,9%.

Kết luận: Tỷ lệ viêm TTL cao khiến giá trị chẩn đoán ung thư TTL của nồng độ PSA huyết thanh ở nam

giới Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước Âu-Mỹ. Kết hợp PSA, tuổi, thể tích TTL và thăm khám trực tràng

có khả năng dự đoán xác xuất sinh thiết TTL giúp cung cấp thêm thông tin cho thầy thuốc và bệnh nhân.

pdf 9 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình tiên đoán kết quả sinh thiết tuyến tiền liệt dựa vào tuổi, nồng độ PSA huyết thanh, thăm trực tràng và thể tích tuyến tiền liệt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mô hình tiên đoán kết quả sinh thiết tuyến tiền liệt dựa vào tuổi, nồng độ PSA huyết thanh, thăm trực tràng và thể tích tuyến tiền liệt

Mô hình tiên đoán kết quả sinh thiết tuyến tiền liệt dựa vào tuổi, nồng độ PSA huyết thanh, thăm trực tràng và thể tích tuyến tiền liệt
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 213 
MÔ HÌNH TIÊN ĐOÁN KẾT QUẢ SINH THIẾT TUYẾN TIỀN LIỆT 
DỰA VÀO TUỔI, NỒNG ĐỘ PSA HUYẾT THANH, THĂM TRỰC TRÀNG 
VÀ THỂ TÍCH TUYẾN TIỀN LIỆT 
Nguyễn Vương Bảo Anh1, Nguyễn Tuấn Vinh2, Tô Quyền1, Nguyễn Xuân Toàn1, Lê Trung Trực1, 
Đỗ Anh Toàn2, Trang Võ Anh Vinh2, Thái Minh Sâm3, Ngô Xuân Thái4, Tô Quốc Hãn4 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) là một loại ung thư phổ biến thứ hai ở nam giới, tần suất ngày 
một tăng tại Việt Nam. Hiện tại chưa có mô hình nào giúp tiên đoán ung thư tuyến tiền liệt cho người Việt, chủ 
yếu sử dụng các mô hình của các nước Âu-Mỹ (da trắng, da đen). Nghiên cứu này đánh giá sự tương quan giữa 
giá trị nồng độ PSA huyết thanh, tuổi, thể tích và kết quả giải phẫu bệnh của sinh thiết tuyến tuyền liệt dưới 
hướng dẫn siêu âm qua ngã trực tràng (TRUS) nhằm xây dựng mô hình tiên đoán ung thư tuyến tiền liệt cho 
đàn ông người Việt Nam đến khám tại các bệnh viện trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Chợ Rẫy, Bình Dân, Nhân 
dân Gia Định nghi ngờ ung thư tuyến tiền liệt được chỉ định sinh thiết tuyến tiền liệt dưới hưỡng dẫn TRUS từ 
tháng 01/2017 đến tháng 05/2020. Biến số nghiên cứu: tuổi, PSA huyết thanh, thăm khám trực tràng (DRE), thể 
tích TTL, kết quả giải phẫu bệnh lý (GPBL). 
Kết quả: 1160 bệnh nhân thoả tiêu chuẩn chọn mẫu được đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung bình: 72,26 ± 
10,27 tuổi. Mỗi tuổi tăng khiến tăng nguy cơ sinh thiết TTL ác tính lên 3,5% (OR=1,035; p <0,001). Hầu hết 
bệnh nhân đến khám khi có triệu chứng (89,1%), đa số là do tiểu khó (44,9%). 419 bệnh nhân (36,1%) có kết quả 
DRE nghi ngờ ác tính. DRE nghi ngờ ác tính khiến khả năng ung thư TTL tăng gấp 5,7 lần so với không nghi 
ngờ (OR=5,685; p <0,001). Nồng độ PSA huyết thanh trung bình: 42,89 ± 39,41 ng/mL, trung vị: 23 ng/mL. 
Phần lớn bệnh nhân có PSA trong khoảng 4,00 – 19,99 ng/mL (44,6%) và ≥100 ng/mL (21,6%). Mỗi 1 ng/mL 
PSA tăng khiến xác suất sinh thiết TTL ác tinh tăng 4% (OR=1,040; p <0,001). Thể tích TTL trung bình: 53,73 
± 33,84 mL. Mỗi 1 mL TTL tăng khiến xác suất sinh thiết TTL ác tính giảm 1,2% (OR=0,988; p <0,001). Kết quả 
GPBL là: tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (BPH) - 51,4%, Adenocarcinoma - 44,2%, tiền ác tính (AAH, PIN) - 
2,9%, ASAP - 1,1%, Polyp biểu mô sợi - 0,1%, Lymphoma - 0,1%, Leiomyosarcoma - 0,1% và Carcinoma tế bào 
gai TTL - 0,1%. Số bệnh nhân có biểu hiện viêm TTL là 269 (23,2%), 259/269 thuộc nhóm kết quả GPBL lành 
tính. Chỉ 10 bệnh nhân ung thư TTL có kèm biểu hiện viêm TTL. Viêm cấp tính ảnh hưởng mạnh lên PSA hơn 
viêm mạn tính (p <0,001). Viêm dạng hạt không ảnh hưởng lên PSA so với không viêm. Áp dụng hồi quy logistic 
nhị phân xây dựng mô hình dự đoán kết quả sinh thiết TTL ác tính gồm: tuổi, PSA, DRE, thể tích TTL có độ 
chính xác lên đến 81,9%. 
Kết luận: Tỷ lệ viêm TTL cao khiến giá trị chẩn đoán ung thư TTL của nồng độ PSA huyết thanh ở nam 
giới Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước Âu-Mỹ. Kết hợp PSA, tuổi, thể tích TTL và thăm khám trực tràng 
có khả năng dự đoán xác xuất sinh thiết TTL giúp cung cấp thêm thông tin cho thầy thuốc và bệnh nhân. 
Từ khoá: PSA huyết thanh, mô hình tiên đoán, sinh thiết tuyến tiền liệt 
1Bệnh viện Nhân Dân Gia Định 2Bệnh viện Bình Dân 3Bệnh viện Chợ Rẫy 
4Bộ môn Tiết Niệu học, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Vương Bảo Anh ĐT: 0792650084 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 214 
ABSTRACT 
PREDICTIVE MODEL OF PROSTATE CANCER ON TRUS-GUIDED NEEDLE BIOPSY USING 
PATIENT’S AGE, SERUM PSA, DIGITAL RECTAL EXAMINATION AND PROSTATE VOLUME 
Nguyen Vuong Bao Anh, Nguyen Tuan Vinh, To Quyen, Nguyen Xuan Toan, Le Trung Truc, 
Do Anh Toan, Trang Vo Anh Vinh, Thai Minh Sam, Ngo Xuan Thai, To Quoc Han 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 213 - 221 
Objectives: Prostate cancer is the second most common cancer in men. The incidence of prostate cancer in 
Vietnam had grown rapidly. However, the lack of predictive model of prostate cancer for Vietnamese men means 
healthcare professionals still using other country’s predictive models, mostly from Europe and America. This 
study aim is to develop a predictive model of prostate cancer on TRUS-guided needle biopsy for male patients with 
lower urinary tract symptoms who seeking for medical care in Ho Chi Minh city using correlation between age, 
serum PSA, DRE, prostatic volume and biopsy results. 
Methods: A total of 1160 patients who underwent transrectal ultrasound-guided prostate biopsy at Cho 
Ray, Binh Dan and Gia Dinh hospitals from January 2017 to May 2020 were retrospective studied. Correlation of 
patients age, serum PSA, prostatic volume and results of DRE with pathological reports were analyzed. A binary 
logistic regression model was used to combine all of these variables in a predictive model for positive biopsy result. 
Results: 1160 patient records were reviewed. Mean age: 72.26±10.27. The probability of detecting cancer on 
initial biopsy was raised by 3.5% with each increment in age (OR=1.035, p <0,001). Most of the patients who 
underwent prostate biopsy were symptomatic (89.1%), in which increased straining during voiding was 44.9%. 
419 (36.1%) patients had suspicious DRE. Patient with suspicious DRE had 5.7 times the odds of positive biopsy 
compared to non-suspicious DRE (OR=5.685, p <0,001). Mean serum PSA level: 42.89 ± 39.41 ng/mL, median: 
23 ng/mL. 44.6% of patients had serum PSA level between 4 – 19.99 ng/mL, 21.6% had PSA level ≥100 ng/mL. 
The probability of detecting cancer on initial biopsy was raised with PSA level (OR=1.040, p <0,001). The average 
prostatic volume measured by TRUS was 53.73 ± 33.84 mL. Increment in prostatic volume decreased the 
probability of detecting cancer on initial biopsy (OR=0.988, p <0,001). In patients with negative biopsy result, 
40.2% expressed prostatic inflammation on pathological reports compared to 1.9% in patients with positive 
biopsy. Predictive model of prostate cancer on initial biopsy using patient’s age, serum PSA, DRE results and 
prostatic volume was internal validated and had the accuracy of 81.9%. 
Conclusions: The high prevalence of prostatic inflammation reduced the diagnostic performance of serum 
PSA in Vietnamese males compare to Western males. Our predictive model can improve prostate cancer diagnosis 
and may provide additional information for physicians and patients. 
Keywords: serum PSA, predictive model, prostate biopsy 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Nồng độ PSA huyết thanh và thăm khám 
trực tràng hiện vẫn là công cụ đầu tay giúp các 
bác sĩ chẩn đoán sơ bộ ung thư tuyến tiền liệt 
(TTL). Chẩn đoán xác định được thiết lập khi có 
kết quả giải phẫu bệnh sinh thiết TTL. Đối với 
nồng độ thấp, PSA là một chất chỉ điểm ung thư 
kém chính xác. Ngoài ung thư tuyến tiền liệt, 
PSA còn tăng trong tăng sinh lành tính tuyến 
tiền liệt (BPH), bí tiểu cấp, nhiễm khuẩn đường 
tiết niệu dưới, viêm tuyến tiền liệt (cấp hay 
mạn), sau thủ thuật tác động lên tuyến tiền liệt 
hay sau sự phóng tinh. Các giá trị của PSA huyết 
thanh như độ nhạy, độ đặc hiệu, các giá trị tiên 
đoán âm/dương hiện nay chủ yếu dựa vào các 
trị số theo các tài liệu nước ngoài(1). Việt Nam 
vẫn chưa có nghiên cứu số mẫu lớn, đa trung 
tâm về giá trị chẩn đoán ung thư TTL của PSA 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 215 
huyết thanh. Hiện nay, nồng độ PSA huyết 
thanh ≥4 ng/mL được khuyến cáo là ngưỡng cân 
nhắc sinh thiết TTL. 
Khi tăng cao, PSA huyết thanh trở thành một 
chất chỉ điểm ung thư đáng tin cậy hơn. Nồng 
độ PSA huyết thanh càng cao, khả năng ung thư 
TTL càng tăng. Một số tác giả nước ngoài cho 
rằng, PSA ≥50 ng/mL có khả năng dự báo sinh 
thiết TTL cho kết quả ác tính gần 100% và có độ 
đặc hiệu rất cao cho ung thư TTL(2,3). Thực tế tại 
Việt Nam cho thấy đa số bệnh nhân ung thư 
TTL có nồng độ PSA huyết thanh tại thời điểm 
sinh thiết TTL >20 ng/mL(4,5), nhưng cũng nhiều 
bệnh nhân có nồng độ PSA huyết thanh rất cao, 
thậm chí >100 ng/mL vẫn có kết quả sinh thiết 
TTL âm tính cho dù số lượng mẫu sinh thiết ≥10 
theo khuyến cáo của EAU, cho thấy PSA huyết 
thanh của đàn ông người Việt có tính chất đặc 
trưng riêng, chịu nhiều tác động của nhiều yếu 
tố khác nhau, và sử dụng các điểm cắt PSA theo 
các khuyến cáo của nước ngoài để quyết định 
sinh thiết TTL có thể thiếu chính xác. 
Nhiều trung tâm lớn trên thế giới đã xây 
dựng các mô hình tiên đoán xác xuất phát hiện 
ung thư TTL dựa trên số liệu thông kê của hàng 
ngàn bệnh nhân được sinh thiết(6). Các mô hình 
tiên đoán này là công cụ rất có giá trị, giúp định 
hướng chẩn đoán và tư vấn cho bệnh nhân về 
khả năng mắc bệnh. Tuy nhiên những mô hình 
này có tính dịch tễ cao, thường chỉ áp dụng dược 
cho dân số nơi mà bệnh nhân được nghiên cứu. 
Tại Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào về 
mô hình tiên đoán ung thư TTL. Do đó, chúng 
tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm phân tích 
mối tương quan giữa PSA huyết thanh kèm một 
số đặc điểm lâm sàng và kết quả sinh thiết TTL, 
nhằm xây dựng mô hình tiên đoán ung thư TTL 
dành riêng cho đàn ông đến khám tại các trung 
tâm tiết niệu tại TP. Hồ Chí Minh với các mục 
tiêu chuyên biệt gồm: xác định giá trị chuẩn 
đoán ung thư TTL của các ngưỡng PSA huyết 
thanh và DRE, đánh giá tương quan giữa tuổi, 
thể tích TTL, PSA huyết thanh và kết quả DRE 
với kết quả sinh thiết TTL, xây dựng mô hình 
tiên đoán sinh thiết TTL ác tính dựa trên tuổi, thể 
tích TTL, PSA huyết thanh và kết quả DRE. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Các bệnh nhân (BN) nam nghi ngờ mắc ung 
thư TTL được sinh thiết TTL tại bệnh viện Chợ 
Rẫy, Bình Dân và Nhân dân Gia định từ tháng 
01/2017 đến tháng 05/2020. 
Tiêu chuẩn chọn 
Các trường hợp sinh thiết TTL dưới hướng 
dẫn TRUS, số lõi sinh thiết ≥10 lõi. Tiêu chuẩn 
loại trừ bao gồm là người nước ngoài, số mẫu 
sinh thiết <10, bệnh nhân đã được chẩn đoán và 
điều trị ung thư TTL từ trước, sử dụng 5ARIs, 
testosterone, estrogen, LHRH hay hCG thời 
điểm sinh thiết, có tiền căn xạ trị vùng chậu. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu hồi cứu, mô tả hàng loạt trường 
hợp (TH). 
Các biến số nghiên cứu 
Các đặc điểm lâm sàng như tuổi, lý do 
nhập viện, tình trạng mang thông niệu đạo, 
kết quả thăm trực tràng và các đặc điểm cận 
lâm sàng như PSA huyết thanh, thể tích TTL, 
phương pháp sinh thiết TTL, số lượng lõi sinh 
thiết, kết quả giải phẫu bệnh: thể mô học, biểu 
hiện viêm TTL. 
Tình trạng mang thông niệu đạo là biến nhị 
giá (có hoặc không). 
Kết quả thăm trực tràng là biến nhị giá (nghi 
ngờ hoặc không nghi ngờ ác tính). 
Phương pháp sinh thiết TTL là là biến danh 
định (qua ngả trực tràng, qua ngả tầng sinh môn). 
Thể mô học là biến danh định. 
Biểu hiện viêm TTL nhận các giá trị: không 
viêm, viêm cấp tính, viêm mạn tính, viêm dạng hạt. 
Phương pháp tiến hành gồm hồi cứu hồ sơ 
bệnh án, tường trình thủ thuật sinh thiết TTL và 
kết quả giải phẫu bệnh lý của các bệnh nhân 
được sinh thiết TTL. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 216 
Thu thập và xử lý số liệu 
Số liệu được thu thập và quản lý bằng phần 
mềm Microsoft Access 2019. Phân tích thống kê 
thực hiện với phần mềm SPSS phiên bản 26. Các 
biến số định lượng được trình bày dưới dạng các 
giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. So sánh các 
giá trị trung bình của PSA huyết thanh giữa 
nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau bằng phương 
pháp Kruskal-Wallis H. Sự tương quan giữa 
PSA, thể tích TTL, tuổi, DRE và kết quả sinh 
thiết TTL được phân tích bằng mô hình hồi quy 
logistic nhị phân (binary logistic regression). 
Ngưỡng ý nghĩa thống kê khi giá trị p <0,05. 
KẾT QUẢ 
Từ 01/2017 đến 05/2020, chúng tôi ghi nhận 
1160 trường hợp bệnh nhân được sinh thiết TTL 
tại bệnh viện Bình Dân (1001 bệnh nhân), bệnh 
viện Nhân Dân Gia Định (33 bệnh nhân) và bệnh 
viện Chợ Rẫy (126 bệnh nhân) thỏa các tiêu 
chuẩn chọn mẫu được đưa vào nghiên cứu. Các 
đặc điểm lâm sàng được thể hiện trong Bảng 1. 
Bảng 1: Một số đặc điểm lâm sàng (N = 1160) 
Đặc điểm Kết quả 
Tuổi 
TB ± ĐLC 72,26 ± 10,27 (32 – 100) 
< 50 1,6% 
50 - 59 8,1% 
60 - 69 30,6% 
70 - 79 33,6% 
80 - 89 20,9% 
≥ 90 5,0% 
Lý do nhập 
viện 
Tiểu khó 44,9% 
Bí tiểu 22,1% 
Tiểu nhiều lần 9,8% 
Tiểu máu 8,8% 
Tiểu không kiểm 
soát 
1,8% 
Khác 1,6% 
Thiếu dữ liệu 10,9% 
Thông niệu 
đạo bàng 
quang 
Có 26,3% 
Không 73,7% 
Thăm trực 
tràng 
Nghi ngờ 36,1% 
Không nghi ngờ 63,9% 
TB±ĐLC: Trung bình ± Độ lệch chuẩn 
Hình 1: Phân bố của PSA huyết thanh 
Nồng độ PSA huyết thanh trung bình: 42,89 
± 39,41 ng/mL, trung vị: 23 ng/mL. Nồng độ PSA 
huyết thanh tập trung chủ yếu ở khoảng từ 4 – 
19,99 ng/mL (44,6%) và ≥100 ng/mL (21,6%). 
Phân phối của PSA huyết thanh không tuân theo 
quy luật phân phối chuẩn (Hình 1). Thể tích TTL 
trung bình 53,73 ± 33,84 mL. 
Bảng 2: Các thể mô học sinh thiết TTL 
 Mô học Số BN Tỷ lệ (%) 
Lành tính 
BPH 596 51,4 
Polyp biểu mô sợi 1 0,1 
 Mô học Số BN Tỷ lệ (%) 
Không điển hình ASAP 13 1,1 
Tiền ác tính 
AAH 3 0,3 
LGPIN 26 2,2 
HGPIN 5 0,4 
Ác tính 
Adenocarcinoma 513 44,2 
Lymphoma 1 0,1 
Leiomyosarcoma 1 0,1 
Carcinoma tế bào gai 1 0,1 
Tổng N = 1160 100 
Hầu hết các bệnh nhân được sinh thiết TTL 
qua ngã trực tràng (89%), chỉ 128 bệnh nhân 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 217 
được sinh thiết TTL qua ngã tầng sinh môn. Số 
lõi sinh thiết đa phần (87,9%) là 12 lõi, còn lại là 
10 lõi (12,1%). Giải phẫu bệnh của 1160 trường 
hợp được thể hiện trong Bảng 2, 3. 
Bảng 3: Biểu hiện viêm TTL trên GPBL 
Tình trạng 
viêm 
Số BN (%) 
PSA trung bình 
(ng/mL) 
Giá trị p 
Không 891 (76,8) 15,1 
< 0,001 
Viêm cấp tính 13 (1,1) 33,96 
Viêm mạn tính 248 (21,4) 30,38 
Viêm dạng hạt 8 (0,7) 17,90 
Tổng N = 1160 (100) 
Hầu hết bệnh nhân có biểu hiện viêm TTL 
thuộc nhóm có kết quả GPB lành tính (259/269). 
Chỉ có 10 trên 516 trường hợp sinh thiết TTL ác 
tính có biểu hiện viêm, chiếm 1,9%. Tỷ lệ bệnh 
nhân có kết quả GPBL lành tính kèm viêm TTL 
chiếm 40,2%. Tỷ lệ viêm TTL theo nhóm PSA 
được thể hiện trong Hình 2. 
Hình 2: Tỷ lệ viêm TTL theo nồng độ PSA huyết thanh 
Bảng 4: Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán 
dương, giá trị tiên đoán âm của các ngưỡng PSA 
huyết thanh với ung thư TTL 
PSA 
(ng/mL) 
Sensitivity 
(%) 
Specificity 
(%) 
PPV 
(%) 
NPV 
(%) 
4,00 99,0 1,7 44,7 68,0 
10,00 95,7 28,4 51,7 89,2 
20,00 81,8 68,6 67,6 82,5 
30,00 75,8 81,1 76,3 80,7 
40,00 68,4 87,1 80,9 77,5 
50,00 62,8 92,2 86,6 75,6 
60,00 58,9 94,6 89,7 74,2 
70,00 55,2 95,7 91,1 72,7 
80,00 51,7 96,6 92,4 71,4 
90,00 48,8 97,2 93,3 70,3 
100,00 45 ... ết thanh hay 
không còn tranh cãi(10,11), tuy nhiên bí tiểu cấp đã 
được chứng minh làm tăng PSA huyết thanh(12). 
Việc chỉ định sinh thiết TTL dựa vào PSA của 
những bệnh nhân bí tiểu cấp được đặt thông 
niệu đạo có thể dẫn đến nhiều bệnh nhân sinh 
thiết TTL không cần thiết. 
Nồng độ PSA huyết thanh trung vị là 23 
ng/mL, trung bình là 42,89 ng/mL. So với các 
nước phát triển, PSA huyết thanh trung vị của 
bệnh nhân Việt Nam tại thời điểm sinh thiết còn 
cao hơn đáng kể(13,14). Nghiên cứu của chúng tôi 
cho thấy, độ nhạy và độ đặc hiệu của PSA huyết 
thanh ở ngưỡng 4 ng/mL lần lượt là 99% và 
1,7%, với giá trị tiên đoán dương chỉ đạt 44,7%. 
Khi chọn PSA là 10 ng/mL, độ nhạy và độ đặc 
hiệu chỉ đạt lần lượt 95,7% và 28,4%, với giá trị 
tiên đoán dương là 51,7%. Trong khi đó, độ nhạy 
và độ đặc hiệu của PSA ở ngưỡng 4 ng/mL là 
71,4% và 91,1%; ở ngưỡng 10 ng/mL là 32,1% và 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 219 
98,2% đối với các nước Âu-Mỹ(15). Khi PSA huyết 
thanh tăng cao, nó trở thành một chất chỉ điểm 
ung thư đáng tin cậy hơn. Heyns CF cho rằng, 
nồng độ PSA huyết thanh rất cao thường do 
nguyên nhân là ung thư TTL hơn bất cứ nguyên 
nhân lành tính nào khác, vì những nguyên nhân 
lành tính thường chỉ làm tăng nhẹ hay vừa nồng 
độ PSA(16). Khi phân tích 716 bệnh nhân có nồng 
độ PSA huyết thanh ≥4 ng/mL, họ ghi nhận giá 
trị tiên đoán dương lên tới 98% đối với nồng độ 
PSA huyết thanh >60 ng/mL. Gerstenbluth RE 
báo cáo rằng, khi tăng >50 ng/mL, PSA huyết 
thanh có độ chính xác trong chẩn đoán ung thư 
TTL lên tới 98,5%(2). Một nghiên cứu khác của 
Partin AW trên 422 bệnh nhân cũng ghi nhận 
khi PSA huyết thanh ≥50 ng/mL không có 
trường hợp nào có kết quả giải phẫu bệnh (GPB) 
lành tính và chỉ 1% bệnh nhân trong nhóm này 
có ung thư TTL ở giai đoạn khu trú, còn lại 99% 
đều ở giai đoạn tiến triển hay di căn(3). Trong 
nghiên cứu của chúng tôi, giá trị tiên đoán 
dương ung thư TTL tăng dần khi nồng độ PSA 
huyết thanh tăng. Khi PSA huyết thanh ≥4 
ng/mL, khả năng bệnh nhân mắc ung thư TTL là 
44,7%. Giá trị nồng độ PSA huyết thanh ≥10 ; 20; 
50 và 100 ng/mL tiên đoán lần lượt 51,7%, 67,6%, 
86,6% và 93,6% bệnh nhân mắc ung thư TTL. So 
với nghiên cứu của Heyns CF và Gerstenbluth 
RE, giá trị tiên đoán dương của PSA huyết thanh 
trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn. Một số 
tác giả châu Á cũng thực hiện nghiên cứu giá trị 
tiên đoán dương của PSA huyết thanh trên các 
bệnh nhân sinh thiết TTL. Năm 2012, Jang JY tại 
Hàn Quốc tiến hành nghiên cứu 1121 bệnh nhân 
được sinh thiết TTL cho thấy 100% bệnh nhân có 
PSA huyết thanh >100 ng/mL mắc ung thư 
TTL(8). Nghiên cứu này đã sàng lọc tất cả các 
trường hợp bí tiểu cấp, hiện diện của nhiễm 
khuẩn đường tiết niệu dưới và sử dụng liệu 
trình kháng sinh 7 ngày cho tất cả các bệnh nhân 
trước khi sinh thiết TTL nhằm giảm tỉ lệ viêm 
TTL do nghiễm khuẩn, tuy nhiên giá trị tiên 
đoán dương của PSA ở ngưỡng 60 ng/mL cũng 
chỉ đạt 75%, thấp hơn nhiều so với các nghiên 
cứu của các tác giả phương Tây. Năm 2014, 
Lojanapiwat B báo cáo 1116 trường hợp sinh 
thiết TTL tại bệnh viện Chiang Mai, Thái Lan và 
ghi nhận 98,6% bệnh nhân có PSA ≥100 ng/mL 
mắc ung thư TTL(17). Nhìn chung, các nghiên cứu 
này cho thấy khi giá trị tiên đoán dương >90% 
khi PSA ≥100 ng/mL. Tuy nhiên, giá trị tiên đoán 
dương 100% của PSA huyết thanh rất khác biệt 
giữa các nghiên cứu. Trong nghiên cứu của 
Gerstenbluth RE, điểm cắt PSA huyết thanh lên 
đến 200 ng/mL thì giá trị tiên đoán dương mới 
đạt 100%. Heyns CF ghi nhận ngưỡng PSA này 
là 500 ng/mL. Thêm vào đó, tại một số bệnh viện 
ở Việt Nam, phòng labo chỉ ghi nhận PSA đến 
ngưỡng 100 ng/mL, nếu vượt quá ngưỡng này 
kết quả chỉ ghi nhận là PSA >100 ng/mL. Do đó, 
khi chỉ dựa vào nồng độ PSA huyết thanh, rất 
khó xác định được ngưỡng mà tỉ lệ ung thư TTL 
đạt 100%. 
Viêm TTL là một trong những nguyên nhân 
khiến PSA huyết thanh tăng mạnh bên cạnh 
tăng sinh lành tính TTL, làm giảm khả năng phát 
hiện ung thư của PSA. Tỉ lệ viêm TTL cao ở các 
bệnh nhân được sinh thiết TTL có thể là một 
trong những nguyên nhân khiến tỉ lệ phát hiện 
ung thư TTL của PSA huyết thanh ở các ngưỡng 
≥20 ng/mL thấp hơn so với các nghiên cứu của 
các nước phát triển. Ở các bệnh nhân có kết quả 
GPB là ung thư TTL, tỉ lệ viêm TTL kèm theo chỉ 
khoảng 1,9%, trong khi tỉ lệ này lên đến 40,2% ở 
các bệnh nhân có kết quả GPB lành tính. Điều 
này khiến tỷ lệ dương giả của PSA cao, nhiều 
bệnh nhân được chỉ định sinh thiết TTL quá tay. 
Cũng vì tỷ lệ viêm TTL cao, các mô hình tiên 
lượng ung thư TTL của các nghiên cứu Âu, Mỹ 
sử dụng PSA huyết thanh khi áp dụng cho các 
bệnh nhân tại Việt Nam có thể không phù hợp. 
Ở các bệnh nhân có PSA huyết thanh từ 10 
ng/mL tới 90 ng/mL, một phần đáng kể bệnh 
nhân có biểu hiện viêm TTL, trong khi tỉ lệ này 
thấp ở các bệnh nhân có nồng độ PSA < 4 ng/mL 
và ≥90 ng/mL. Điều này cho thấy khả năng gây 
thay đổi PSA đa dạng của tình trạng viêm. Tuy 
nhiên khi PSA huyết thanh ≥100 ng/mL, chỉ 5,6% 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 220 
bệnh nhân có biểu hiện viêm TTL, và có tới 
93,6% bệnh nhân mắc ung thư TTL. Trong số 
bệnh nhân mắc ung thư TTL ở nhóm này, chỉ 
2/235 bệnh nhân có kèm viêm TTL mạn tính. 16 
bệnh nhân có kết quả GPB lành tính còn lại có tới 
12/16 bệnh nhân có biểu hiện viêm TTL (cấp và 
mạn tính). Điều này cho thấy PSA huyết thanh 
≥100 ng/mL chủ yếu do ung thư TTL gây ra, nếu 
không ung thư thì đa số kèm theo viêm TTL. 
Hiếm khi nào bệnh nhân chỉ có tăng sinh TTL 
đơn thuần mà PSA tăng cao đến ngưỡng này. 
PSA huyết thanh là xét nghiệm có khả năng 
phát hiện ung thư TTL cao nhất khi chỉ xét riêng 
từng xét nghiệm, giúp tăng giá trị tiên đoán 
dương của thăm khám trực tràng. Năm 1994, 
Catalona WJ nghiên cứu kết quả sinh thiết TTL 
trên 1167 bệnh nhân đã cho thấy rằng, khi kết 
hợp thăm trực tràng và PSA huyết thanh, khả 
năng phát hiện ung thư của DRE tăng 81% và 
khả năng phát hiện ung thư của PSA tăng 
22%(18). Gerstenbluth RE cho thấy khi kết hợp 
thăm khám trực tràng nghi ngờ ác tính và nồng 
độ PSA huyết thanh, giá trị tiên đoán dương ung 
thư TTL tăng ở mọi ngưỡng PSA(2). Do đó, kết 
hợp PSA huyết thanh và DRE sẽ giúp tăng độ 
chính xác trong chẩn đoán ung thư TTL. Chúng 
tôi thấy rằng bệnh nhân có DRE nghi ngờ ác tính 
có nguy cơ ung thư TTL gấp 5,7 lần bệnh nhân 
có DRE bình thường, bất kể các yếu tố khác. 
Khác với một số loại ung thư có đỉnh tuổi 
thường gặp, khả năng mắc ung thư TTL tăng 
dần theo tuổi. Nguy cơ ung thư TTL của một 
người đàn ông 50 tuổi trong suốt quãng đời còn 
lại là 40% (phát hiện qua tử thiết mà nguyên 
nhân chết không do ung thư TTL). Xác xuất ung 
thư TTL của người đàn ông <40 tuổi là 1: 10000, 
từ 40 – 59 tuổi là 1: 103, và từ 60 – 79 tuổi là 1:8(19). 
Nhiều trường hợp ung thư TTL hầu như không 
ảnh hưởng gì đến sức khoẻ người mắc, nhưng 
cũng có thể rất tiến triển, nếu phát hiện muộn có 
thể dẫn đến tử vong. Các yếu tố của lão hoá làm 
tăng khả năng ung thư TTL vẫn còn chưa rõ 
ràng. Trường hợp có người thân mắc ung thư 
TTL, nguy cơ tương đối tăng tỉ lệ nghịch với tuổi 
của người thân lúc chẩn đoán ung thư TTL. Nếu 
tuổi khởi phát của người thân là 70 tuổi, nguy cơ 
ung thư tăng gấp 4 lần; nếu tuổi khởi phát là 60, 
nguy cơ tương đối tăng 5 lần; và nếu tuổi khởi 
phát là 50, nguy cơ ung thư TTL tăng 7 lần(19). 
Chính vì vậy, sự tương quan giữa tuổi và ung 
thư TTL có thể được sử dụng để tiên lượng khả 
năng mắc ung thư TTL. Chúng tôi ghi nhận mỗi 
tuổi già đi, khả năng mắc ung thư TTL tăng 
thêm 3,5%. 
Sự tương quan giữa thể tích TTL và khả 
năng phát hiện ung thư TTL trên mẫu sinh thiết 
tỷ lệ nghịch với nhau. Tuyến tiền liệt càng lớn, 
với cùng số lượng mẫu sinh thiết (10 hoặc 12 lõi), 
khả năng kim sinh thiết hụt vùng tế bào ác tính 
càng lớn. Một số tác gỉả cho thấy rằng, tuyến tiền 
liệt nhỏ có liên hệ với ung thư có độ biệt hoá 
kém, độ ác cao(20). Roobol MJ cho rằng nên tích 
hợp thể tích TTL đo bằng siêu âm qua ngả trực 
tràng (TRUS) hoặc ước lượng bằng DRE vào mô 
hình tiên đoán nguy cơ ung thư TTL trên kết quả 
sinh thiết ban đầu(21). Trong phân tích của chúng 
tôi, mỗi mL TTL tăng, nguy cơ sinh thiết có kết 
quả ung thư TTL giảm khoảng 1,2%. 
Kết hợp các yếu tố PSA huyết thanh, thể tích 
TTL, tuổi, kết quả thăm trực tràng vào mô hình 
hồi quy logistic nhị phân làm tăng độ chính xác 
so với chỉ sử dụng từng yếu tố đơn lẻ. Mô hình 
hồi quy logistic nhị phân có ứng dụng rất mạnh 
trong tiên đoán xác suất, đã được sử dụng trong 
nhiều mô hình tiên đoán và nomogram trong 
nhiều lĩnh vực, trong đó có y tế (vd: mô hình tiên 
lượng trước phẫu thuật cắt TTL tận gốc của 
trung tâm ung thư Memorial Sloan Kettering(6)). 
Với đặc thù riêng của đàn ông Việt Nam, việc sử 
dụng các công cụ dự đoán của nước ngoài (chủ 
yếu của các nước phương Tây) để tính xác xuất 
ung thư TTL có thể không phù hợp hoặc giảm 
độ chính xác. Tuy dữ liệu của chúng tôi còn ít, 
việc xây dựng công cụ riêng cho nam giới Việt 
Nam cũng mang lại một số lợi ích, và với tính 
chất dễ mở rộng, độ chính xác của công cụ này 
sẽ tăng lên khi số lượng bệnh nghiên cứu tăng 
hay khi được bổ sung các yếu tố tương quan 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 221 
mạnh với kết quả GPB sinh thiết TTL. Công cụ 
này mang tính chất dịch tễ cao, độ chính xác có 
thể giảm khi áp dụng cho các quần thể nam giới 
ở các vùng miền khác của Việt Nam. Thêm vào 
đó, công cụ này không tính được khả năng ung 
thư độ cao hay độ thấp như một số công cụ 
khác. Chúng tôi hi vọng trong tương lai có thể có 
thêm các nghiên cứu ứng dụng nhiều tham số 
như f/t PSA, PHI, giúp xây dựng mô hình tiên 
đoán ung thư TTL chính xác hơn, chi tiết hơn. 
KẾT LUẬN 
Do nhiều yếu tố đặc trưng, trong đó có tỷ lệ 
viêm TTL cao, giá trị chẩn đoán ung thư TTL của 
PSA huyết thanh ở dân số Việt Nam thấp so với 
các quốc gia phát triển trên thế giới. Việc xây 
dựng mô hình tiên đoán kết quả sinh thiết TTL 
cho người Việt Nam là cần thiết. Mô hình tiên 
đoán ung thư trên kết quả sinh thiết TTL sử 
dụng PSA huyết thanh, thể tích TTL, tuổi và kết 
quả thăm trực tràng tuy còn nhiều hạn chế 
nhưng cũng phần nào cung cấp thêm thông tin 
hữu ích cho bác sĩ và bệnh nhân trong quá trình 
chẩn đoán và điều trị căn bệnh này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Hoàng Đức, Trần Lê Linh Phương (2009). Vai trò của 
kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) trong chẩn đoán 
sớm ung thư tuyến tiền liệt. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 
13(1):5-9. 
2. Gerstenbluth RE, Seftel AD, Hampel N, et al (2002). The 
accuracy of the increased prostate specific antigen level (greater 
than or equal to 20 ng/mL) in predicting prostate cancer: is 
biopsy always required? Journal of Urology, 168(5):1990-1993. 
3. Partin AW, Carter HB, Chan DW, et al (1990). Prostate specific 
antigen in the staging of localized prostate cancer: influence of 
tumor differentiation, tumor volume and benign hyperplasia. 
Journal of Urology, 143(4):747-752. 
4. Đỗ Anh Toàn, Nguyễn Ngọc Thái, Huỳnh Thị Hoàng Oanh, 
(2019). Đánh giá kết quả sinh thiết tuyến tiền liệt qua ngã trực 
tràng năm 2018 tại bệnh viện Bình Dân. Y học Thành phố Hồ Chí 
Minh, 23(3):270-274. 
5. Ngô Xuân Thái, Nguyễn Ngọc Hà, Thái Minh Sâm, và cs (2016). 
Đặc điểm bệnh ung thư tuyến tiền liệt điều trị tại bệnh viện Chợ 
Rẫy từ 2012-2014. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(4):22-27. 
6. Memorial Sloan Kettering Cancer C (2020). Prediction 
Tools/Prostate Cancer Nomograms. Pre-Radical Prostatectomy. 
Memorial Sloan Kettering Cancer Center. URL: 
https://www.mskcc.org/nomograms/prostate/pre_op. 
7. Kirkwood BR, Sterne J (2003). Essential Medical Statistics, 2nd Ed, 
pp.197. Blackwell Science, Massachusetts, MA. 
8. Jang JY, Kim YS (2012). Is prostate biopsy essential to diagnose 
prostate cancer in the older patient with extremely high 
prostate-specific antigen? Korean Journal of Urology, 53(2):82-86. 
9. Palsdottir T, Nordström T, Aly M, et al (2019). Are Prostate 
Specific-Antigen (PSA) and age associated with the risk of ISUP 
Grade 1 prostate cancer? Results from 72 996 individual biopsy 
cores in 6 083 men from the Stockholm3 study. PLOS ONE, 
14(6):e0218280. 
10. Batislam E, Arik AI, Karakoc A, et al (1997). Effect of 
transurethral indwelling catheter on serum prostate-specific 
antigen level in benign prostatic hyperplasia. Urology, 49(1):50-
54. 
11. Izadpanahi MH, Salimi H, Javid A, et al (2017). The effect of 
urethral catheterization on the level of prostate-specific antigen. 
J Res Med Sci, 22:38. 
12. Kefi A, Koseoglu H, Celebi I, et al (2006). Relation between acute 
urinary retention, chronic prostatic inflammation and 
accompanying elevated prostate-specific antigen. Scand J Urol 
Nephrol, 40(2):155-160. 
13. Offermann A, Hohensteiner S, Kuempers C, et al (2017). 
Prognostic Value of the New Prostate Cancer International 
Society of Urological Pathology Grade Groups. Frontiers in 
Medicine, 4(157):1-7. 
14. Samaratunga H, Delahunt B, Gianduzzo T, et al (2015). The 
prognostic significance of the 2014 International Society of 
Urological Pathology (ISUP) grading system for prostate cancer. 
Pathology, 47(6):515-519. 
15. Labrie F, Dupont A, Suburu R, et al (1992). Serum prostate 
specific antigen as pre-screening test for prostate cancer. Journal 
of Urology, 147(3 Part 2):846-851. 
16. Heyns CF, Naudé AM, Ahmed G, et al (2001). Serum prostate-
specific antigen as surrogate for the histological diagnosis of 
prostate cancer. South African Medical Journal, 91(8):685-689. 
17. Lojanapiwat B, Anutrakulchai W, Chongruksut W, et al (2014). 
Correlation and diagnostic performance of the prostate-specific 
antigen level with the diagnosis, aggressiveness, and bone 
metastasis of prostate cancer in clinical practice. Prostate 
International, 2(3):133-139. 
18. Catalona WJ, Richie JP, Ahmann FR, et al (1994). Comparison of 
Digital Rectal Examination and Serum Prostate Specific Antigen 
in the Early Detection of Prostate Cancer: Results of a 
Multicenter Clinical Trial of 6,630 Men. Journal of Urology, 
151(5):1283-1290. 
19. Cooperberg MR, Presti JCJr, Shinohara K, et al (2012). 
Neoplasms of the Prostate Gland. In: McAninch JW, Lue TF 
(Eds), 8th Ed, 1:357. Smith & Tanagho’s General Urology. 
20. Briganti A, Chun FKH, Suardi N, et al (2007). Prostate volume 
and adverse prostate cancer features: Fact not artifact. European 
Journal of Cancer, 43(18):2669-2677. 
21. Roobol MJ, van Vugt HA, Loeb S, et al (2012). Prediction of 
Prostate Cancer Risk: The Role of Prostate Volume and Digital 
Rectal Examination in the ERSPC Risk Calculators. European 
Urology, 61(3):577-583. 
Ngày nhận bài báo: 30/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_tien_doan_ket_qua_sinh_thiet_tuyen_tien_liet_dua_vao.pdf