Mô hình bệnh lý sơ sinh của một số thai nghén nguy cơ thường gặp tại phòng sơ sinh - khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế

Mục tiêu: Nghiên cứu mô hình bệnh lý sơ sinh thường gặp của một

số thai nghén có nguy cơ.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên

398 trẻ sơ sinh của các bà mẹ được chẩn đoán thai nghén nguy cơ

tại Phòng sơ sinh - Khoa Phụ sản Bệnh viên trung ương Huế từ tháng

01/2017 đến tháng 05/2018.

Kết quả: Trong nhóm thai nghén nguy cơ, bệnh lý tiền sản giật - sản

giật là thường gặp nhất chiếm tỷ lệ 42,1%. Số trẻ non tháng - nhẹ cân

chiếm tỷ lệ cao 36,2% và 37,9%. Bệnh lý sơ sinh thường gặp nhất là suy

hô hấp chiếm tỷ lệ 20,3%, hạ đường huyết chiếm tỷ lệ 18,1 % và nhiễm

trùng sơ sinh là 17,1%. Suy hô hấp - hạ đường máu thường gặp ở trẻ

sơ sinh con của các bà mẹ tiền sản giật - sản giật với tỷ lệ là 46,9% và

41,7%. Nhiễm trùng sơ sinh gặp ở nhóm mẹ có ối vỡ non - ối vỡ sớm

>12 tiếng chiếm tỷ lệ 36,8%.

Kết luận: Thai nghén nguy cơ cần được phát hiện, theo dõi sát và

chăm sóc xử trí kịp thời tại các cơ sở y tế đủ điều kiện. Cần có sự phối

hợp chặt chẽ và liên tục giữa các bác sỹ Sản khoa và Nhi khoa trong

việc theo dõi trẻ khi còn trong bụng mẹ và ngay sau khi ra đời.

pdf 4 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình bệnh lý sơ sinh của một số thai nghén nguy cơ thường gặp tại phòng sơ sinh - khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mô hình bệnh lý sơ sinh của một số thai nghén nguy cơ thường gặp tại phòng sơ sinh - khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế

Mô hình bệnh lý sơ sinh của một số thai nghén nguy cơ thường gặp tại phòng sơ sinh - khoa phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
65
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 65 - 68, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Hoàng Thị Liên Châu, Trần Thị Hoàn, Châu Khắc Tú, Hoàng Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Tịnh Hiếu 
Bệnh viện Trung ương Huế
MÔ HÌNH BỆNH LÝ SƠ SINH
CỦA MỘT SỐ THAI NGHÉN NGUY CƠ THƯỜNG GẶP 
TẠI PHÒNG SƠ SINH – KHOA PHỤ SẢN BỆNH VIỆN 
TRUNG ƯƠNG HUẾ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Hoàng Thị Liên Châu, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu mô hình bệnh lý sơ sinh thường gặp của một 
số thai nghén có nguy cơ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên 
398 trẻ sơ sinh của các bà mẹ được chẩn đoán thai nghén nguy cơ 
tại Phòng sơ sinh - Khoa Phụ sản Bệnh viên trung ương Huế từ tháng 
01/2017 đến tháng 05/2018. 
Kết quả: Trong nhóm thai nghén nguy cơ, bệnh lý tiền sản giật - sản 
giật là thường gặp nhất chiếm tỷ lệ 42,1%. Số trẻ non tháng - nhẹ cân 
chiếm tỷ lệ cao 36,2% và 37,9%. Bệnh lý sơ sinh thường gặp nhất là suy 
hô hấp chiếm tỷ lệ 20,3%, hạ đường huyết chiếm tỷ lệ 18,1 % và nhiễm 
trùng sơ sinh là 17,1%. Suy hô hấp - hạ đường máu thường gặp ở trẻ 
sơ sinh con của các bà mẹ tiền sản giật - sản giật với tỷ lệ là 46,9% và 
41,7%. Nhiễm trùng sơ sinh gặp ở nhóm mẹ có ối vỡ non - ối vỡ sớm 
>12 tiếng chiếm tỷ lệ 36,8%.
Kết luận: Thai nghén nguy cơ cần được phát hiện, theo dõi sát và 
chăm sóc xử trí kịp thời tại các cơ sở y tế đủ điều kiện. Cần có sự phối 
hợp chặt chẽ và liên tục giữa các bác sỹ Sản khoa và Nhi khoa trong 
việc theo dõi trẻ khi còn trong bụng mẹ và ngay sau khi ra đời.
Abstract 
NEONATAL DISEASES OF HIGH RISK PREGNANCY 
IN THE NEONATAL ROOM - DEPARTMENT OF OB/GYN 
AT HUE CENTRAL HOSPITAL
Objectives: To study the common neonatal morbidities of some at-
risk pregnancies.
Materials and methods: The study was conducted on 398 neonates 
of mothers of high risk pregnancy in the neonatal room – the OB/GYN 
department at Hue Central Hospital from January 2017 to May 2018.
Results: The percentage of preeclampsia - eclampsia was highest 
at 42.1%, made it become the most common disease among high risk 
HOÀNG THỊ LIÊN CHÂU, TRẦN THỊ HOÀN, CHÂU KHẮC TÚ, HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC, NGUYỄN THỊ TỊNH HIẾU
66
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
pregnancies. The prevalence of premature and low birthweight neonates were 36.2% and 46.7% 
respectively. The most common neonatal diseases were respiratory distress accounting for 20.3%, 
hypoglycemia (18.1%) and neonatal sepsis (17.1%). The proportion of respiratory distress and 
hypoglycaemia in infants born to women with preeclampsia – eclampsia were 46.9% and 41.7% 
respectively. Neonatal infection in mothers with duration of prelabour rupture of amniotic membranes 
- premature rupture of amniotic membranes over 12hours was accounted for 44.1%.
Conclusion: High risk pregnancy demands early diagnosis, extra monitoring as well as careful 
management in a well-equipped health facilities center. It requires also a close coordination between 
obstetricians and neonatal specialists in the monitoring of fetus during pregnancy and in management 
of newborn infant after birth.
1. Đại cương
Mục tiêu của các nhà sản khoa là đảm bảo mẹ 
an toàn và sinh ra em bé khỏe mạnh sau một quá 
trình thai nghén và chuyển dạ. Phần lớn các thai 
nghén và chuyển dạ là một quá trình sinh lý bình 
thường, chỉ có một số ít là có tai biến cho mẹ và 
con. Các tai biến này thường xảy ra từ những thai 
phụ có những yếu tố bất thường dự báo trước như 
bệnh lý tim mạch, cao huyết áp, đái tháo đường, 
đa thai, đa ối. Các yếu tố này được gọi là những 
yếu tố nguy cơ. Thai nghén đi kèm với những yếu 
tố này gọi là thai nghén nguy cơ [1]. Nếu không 
được phát hiện kịp thời thì tùy theo mức độ mà 
gây ra các tai biến cho mẹ và ảnh hưởng đến tình 
trạng con trước mắt cũng như về lâu dài. Những 
hậu quả thường thấy nhất cho thai là chậm phát 
triển trong tử cung, suy thai cấp, đẻ non hay thai dị 
dạng. Ngoài ra thai nghén nguy cơ còn liên quan 
với một vài bệnh lý sơ sinh khác như thiếu máu, 
rối loạn chuyển hóa, vàng da do tăng bilirubin 
tự do, nhiễm trùng sơ sinh Việc chẩn đoán thai 
nghén có nguy cơ có ý nghĩa quan trọng. Một mặt 
xác định thai nghén nguy cơ là bước đầu của việc 
phòng bệnh, mặt khác, trong nhiều trường hợp nếu 
được điều trị tốt có thể giảm thiểu các nguy cơ đối 
với thai và trẻ sơ sinh.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề 
tài: “Mô hình bệnh lý sơ sinh của một số thai nghén 
nguy cơ tại Phòng sơ sinh - Khoa Phụ sản Bệnh 
viện trung ương Huế” nhằm mục tiêu: nghiên cứu 
bệnh lý sơ sinh thường gặp của một số thai nghén 
có nguy cơ.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Tất cả các trẻ sơ sinh vào điều trị tại Phòng sơ 
sinh - Khoa Phụ sản Bệnh viện trung ương Huế từ 
tháng 1/2017 đến tháng 4/2018 của các sản phụ 
được chẩn đoán thai nghén nguy cơ. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả 
cắt ngang
3. Kết quả nghiên cứu
Trong khoảng thời gian nghiên cứu có 398 trẻ 
sơ sinh sinh ra từ các sản phụ có thai nghén nguy 
cơ tại Bệnh viện Trung Ương Huế. 
Yếu tố nguy cơ Số lượng Tỷ lệ %
Sản giật - Tiền sản giật 155 42,1
Nhau tiền đạo – Nhau bong non 68 18,5
Ôí vỡ non - Ối vỡ sớm >12 giờ 57 15,5
Bệnh lý tim mạch 47 12,8
Đa thai – Đa ối 36 9,8
Bệnh đái đường 5 1,3
Tổng số 368 100
Bảng 1. Phân bố theo các yếu tố nguy cơ.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
67
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 65 - 68, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Phân bố bệnh lý thai kỳ của các sản phụ trong 
nhóm nghiên cứu chủ yếu gồm bệnh lý sản giật - 
tiền sản giật chiếm tỉ lệ cao nhất là 42,1%, tiếp đến 
là nhau tiền đạo - nhau bong non chiếm 18,5% và 
ối vỡ non - ối vỡ sớm trên 12 giờ là 15,5%.
Số trẻ sơ sinh non tháng là 144 bé chiếm tỷ 
lệ 36,2%.
Tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng < 2500gr là 37,9%.
Trong các bệnh lý sơ sinh gặp phải, suy hô hấp 
là bệnh lý sơ sinh hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 20,3%, 
tiếp đến là hạ đường huyết 18,1% và nhiễm trùng 
sơ sinh là 17,1%.
Suy hô hấp hay gặp ở trẻ sơ sinh con của các 
bà mẹ sản giật - tiền sản giật chiếm tỷ lệ 46,9%, 
nhau tiền đạo - nhau bong non 25,9%. 
Hạ đường máu hay gặp ở trẻ sơ sinh con của 
các bà mẹ sản giật - tiền sản giật chiếm tỷ lệ 
41,7%, đa thai đa ối 23,6%.
Nhiễm trùng sơ sinh hay gặp ở trẻ sơ sinh con của 
các bà mẹ ối vỡ non - ối vỡ sớm chiếm tỷ lệ 36,8%.
Tuổi thai Số lượng Tỷ lệ %
≤ 37 tuần 144 36,2
>37 tuần 254 63,8
Tổng số 398 100
Bảng 2. Phân bố theo tuổi thai
Cân nặng Số lượng Tỷ lệ %
< 2500gr 151 37,9
≥ 2500gr 247 62,1
Tổng số 398 100
Bảng 3. Phân bố theo cân nặng lúc sinh của trẻ
Bệnh lý sơ sinh Số lượng Tỷ lệ %
Vàng da 56/398 14.1
Xuất huyết giảm tỷ Prothrombin 38/398 9,5
Thiếu máu 11/398 2,8
Nhiễm trùng sơ sinh 68/398 17,1
Hạ đường huyết 72/398 18,1
Suy hô hấp 81/398 20,3
Bảng 4. Sự phân bố các bệnh lý sơ sinh
Yếu tố nguy cơ
Suy hô hấp Hạ đường huyết
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Bệnh lý tim mạch 3/81 3,7 6/72 8,3
Bệnh đái đường 1/81 1,3 5/72 6,9
Sản giật – tiền sản giật 38/81 46,9 30/72 41,7
Nhau tiền đạo 
Nhau bong non 21/81 25,9 12/72 16,7
Đa thai - Đa ối 10/81 12,4 17/72 23,6
Ối vỡ non - Ối vỡ sớm >12 giờ 8/81 9,8 2/72 2,8
Bảng 5. Suy hô hấp, hạ đường máu với các yếu tố nguy cơ của mẹ
Yếu tố nguy cơ Số lượng Tỷ lệ %
Bệnh lý tim mạch 6/68 8,8
Bệnh đái đường 0/68 0
Sản giật – Tiền sản giật 17/68 25,0
Nhau tiền đạo – Nhau bong non 13/68 19,2
Đa thai – Đa ối 7/68 10,3
ỐI vỡ non - Ối vỡ sớm > 12 giờ 25/68 36,8
Bảng 6. Nhiễm trùng sơ sinh với các yếu tố nguy cơ của mẹ
4. Bàn luận
4.1. Một số đặc điểm trẻ sơ sinh thuộc 
nhóm thai nghén nguy cơ
4.1.1. Phân bố theo các yếu tố nguy cơ
Thai nghén nguy cơ là những trường hợp thai 
nghén có kèm theo một trong những yếu tố nguy cơ 
như bệnh tim và thai nghén, đái đường và thai nghén, 
nhau tiền đạo, nhau bong non, đa thai đa ối.[2]. 
Thai nghén nguy cơ gặp khá phổ biến ở bất kỳ tuổi 
thai nào, là nguyên nhân gây tử vong cho thai và trẻ 
sơ sinh, gây nên các bệnh tật, các loại dị dạng cho 
thai nhi khi còn nằm trong tử cung hay làm cho trẻ bị 
trì trệ, kém phát triển khi đã ra đời. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh lý sản giật – 
tiền sản giật chiếm tỷ lệ cao nhất là 42,1%, rau tiền 
đạo – rau bong non 18,5% vàối vỡ non - ối vỡ sớm 
là 15,5%. Các yếu tố nguy cơ có liên quan đến tiền sử 
bệnh tật chung có tỷ lệ thấp hơn như bệnh lý tim mạch 
chiếm 12,8% và đái đường là 1,3%.
4.1.2. Tuổi thai
Tỷ lệ sinh con non tháng trong nghiên cứu của chúng 
tôi là 36,2%. Tỷ lệ sinh con non tháng ở thai nghén nguy 
cơ cao là do thường phải chấm dứt thai kỳ sớm do đe 
dọa tính mạng mẹ như trong bệnh lý sản giật – tiền sản 
giật nặng, bệnh lý tim mạch có suy tim và đe dọa lên 
cơn phù phổi cấp, bệnh lý nhau bong non. Các bệnh lý 
này yêu cầu phải chấm dứt thai kỳ sớm ở bất kỳ tuổi thai 
nào. Các trường hợp ối vỡ non ối vỡ sớm phần lớn có đi 
kèm với viêm nhiễm niệu sinh dục trước đó. 
Hiện nay nhờ những tiến bộ trong lĩnh vực chăm sóc 
và nuôi dưỡng trẻ đẻ non đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tử 
vong sơ sinh của những trẻ này nên các nhà sản khoa 
đã mạnh dạn hơn trong việc xử trí chấm dứt thai kỳ sớm.
4.1.3. Cân nặng lúc sinh của trẻ
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2 cho thấy trẻ có cân 
nặng dưới 2500gram chiếm tỷ lệ 37,9% trong tổng số 
trẻ con của các bà mẹ có yếu tố nguy cơ. Trong y văn 
chưa có một thống kê tổng hợp nào về tỷ lệ sinh con 
HOÀNG THỊ LIÊN CHÂU, TRẦN THỊ HOÀN, CHÂU KHẮC TÚ, HOÀNG THỊ BÍCH NGỌC, NGUYỄN THỊ TỊNH HIẾU
68
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
non tháng, nhẹ cân trong các thai nghén nguy cơ mà 
chỉ có tỷ lệ sinh con nhẹ cân trong từng bệnh lý cụ thể 
hay trong tổng số trẻ sinh sống. Ví dụ như tỷ lệ sinh con 
thấp cân trên thế giới là 17%, ở châu Á là 21%, ở Việt 
nam là 14%. Tại Bệnh viện trung ương Huế tỷ lệ sinh 
con thấp cân là 12,08% [3]. 
Tỷ lệ sinh con nhẹ cân trong nghiên cứu chúng tôi 
khá cao. Điều này có thể được giải thích là do khi còn 
ở trong tử cung các bào thai này không được cung cấp 
dinh dưỡng đầy đủ, bên cạnh đó việc phải chấm dứt 
thai kỳ sớm cho những trường hợp điều trị nội khoa 
không kết quả đã làm tăng tỷ lệ sinh con nhẹ cân ở các 
thai nghén nguy cơ.
4.2. Mô hình bệnh lý ở trẻ sơ sinh thuộc 
nhóm thai nghén nguy cơ
4.2.1. Phân bố các bệnh lý sơ sinh
Trong nghiên cứu của chúng tôi suy hô hấp trong 
những giờ đầu chiếm tỷ lệ cao nhất là 20,3%, tiếp đến 
là hạ đường huyết chiếm tỷ lệ 18,1%, nhiễm trùng sơ 
sinh chiếm tỷ lệ 17,1%, vàng da sơ sinh 14,1% và giảm 
tỷ prothrombin - thiếu máu chiếm tỷ lệ lần lượt là 9,5% 
và 2,8%. Điều này là phù hợp vì tỷ lệ sơ sinh non tháng 
nhẹ cân trong thai kỳ nguy cơ cao hơn so với thai kỳ 
bình thường và đi kèm với nó là suy hô hấp (do thiếu 
Surfactant), hạ đường máu, vàng da sơ sinh là những 
rối loạn hay gặp ở trẻ đẻ non. Thiếu hụt miễn dịch ở trẻ 
đẻ non dẫn đến dễ bị nhiễm trùng. Nồng độ huyết sắt 
tố giảm ở trẻ đẻ non so với trẻ đủ tháng do tủy xương 
hoạt động chưa tốt dẫn đến tình trạng thiếu máu[4].
4.2.2. Suy hô hấp - hạ đường huyết với các yếu 
tố nguy cơ của mẹ
Kết quả nghiên cứu ở bảng 5 cho thấy suy hô hấp 
chiếm tỷ lệ cao ở nhóm trẻ sơ sinh con của các bà mẹ 
sản giật – tiền sản giật 46,9% và rau tiền đạo – rau 
bong non là 25,9%. Điều này là phù hợp vì nhóm này 
chiếm tỷ lệ cao trong thai nghén nguy cơ và là nguyên 
nhân quan trọng cho kết thúc thai kỳ sớm dẫn đến 
những trẻ sinh ra thường non tháng nhẹ cân, kém phát 
triển và theo tác giả Tô Thanh Hương những vấn đề 
chính ở trẻ này là hạ đường huyết và suy hô hấp do 
phổi non, suy thai mãn trong tử cung và ngạt sơ sinh[5]. 
Ngoài ra những bà mẹ đái đường đang điều trị 
đều cho ra đời những trẻ sơ sinh bị hạ đường huyết và 
một tỷ lệ 23,6% thuộc nhóm đa thai đa ối. Vì vậy nếu 
việc phòng ngừa các biến chứng được thực hiện tốt thì 
có thể làm giảm đi tình trạng suy hô hấp, hạ đường 
huyết ở nhóm trẻ nói trên,
4.2.3. Nhiễm trùng sơ sinh với các yếu tố nguy 
cơ của mẹ
Nhiễm trùng sơ sinh là bệnh nhiễm trùng xảy ra từ 
lúc mới sinh đến 28 ngày tuổi, có nguyên nhân trước, 
trong và sau khi sinh. Có tỷ lệ tử vong cao đứng hàng 
thứ 2 sau suy hô hấp ở trẻ sơ sinh [6]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi nhiễm trùng sơ 
sinh gặp ở những bà mẹ có ối vỡ non - ối vỡ sớm > 
12 giờ, thuộc nhóm yếu tố nguy cơ từ mẹ là 25 trường 
hợp, chiếm tỷ lệ 36,8%. Tiếp đến là nhóm sản giật - 
tiền sản giật chiếm 25,0% và nhau tiền đạo – nhau 
bong non chiếm tỷ lệ 19,2%. Điều này được giải thích 
do trẻ sơ sinh của nhóm thai nghén nguy cơ này đa 
số là trẻ non tháng - nhẹ cân và thuộc nhóm yếu tố 
nguy cơ từ con trong bệnh lý nhiễm trùng sơ sinh.
5. Kết luận 
Kết quả nghiên cứu 398 trẻ sơ sinh của các bà 
mẹ có thai nghén nguy cơ chúng tôi rút ra một số 
kết luận sau:
- Trong các yếu tố nguy cơ thì bệnh lý tiền sản 
giật - sản giật là hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 42,1%
- Số trẻ non tháng - nhẹ cân chiếm tỷ lệ cao 
36,2% và 37,9%
- Bệnh lý sơ sinh hay gặp nhất là suy hô hấp 
chiếm tỷ lệ 20,3%, hạ đường huyết chiếm tỷ lệ 18,1 
% và nhiễm trùng sơ sinh là 17,1%.
- Suy hô hấp - hạ đường máu hay gặp ở trẻ sơ 
sinh con của các bà mẹ tiền sản giật - sản giật với 
tỷ lệ là 46,9% và 41,7%.
- Nhiễm trùng sơ sinh ở nhóm mẹ có ối vỡ non 
- ối vỡ sớm >12 giờ chiếm tỷ lệ 36,8%.
Kiến nghị
Các trường hợp thai nghén nguy cơ cần được 
phát hiện, theo dõi sát và chăm sóc xử trí kịp thời 
tại các cơ sở y tế đủ điều kiện. Cần có sự phối hợp 
chặt chẽ và liên tục giữa các bác sỹ Sản khoa và 
Nhi khoa trong việc theo dõi trẻ khi còn trong bụng 
mẹ và ngay sau khi ra đời.
Tài liệu tham khảo
1. Arias Fernando (2004), “Risiko – schwangerschaft und Geburt”, seit 15-16; 219-248.
2. Thai nghén nguy cơ cao, Bộ y tế - Vụ sức khỏe Bà mẹ trẻ em
3. Nguyễn Tấn Viên, Trần Kiêm Hảo (2000), “ Tìm hiểu các yếu tố phía mẹ ảnh hưởng 
đến cân nặng thấp của trẻ lúc sinh”, Hội thảo Nhi khoa Việt pháp lần thứ 2, tr.99 – 103.
4. Bài giảng Sản phụ khoa (2007), Bộ môn Sản – Đại học y Hà nội, tr. 129-135
5. Tô Thanh Hương (1994), “Đẻ non”, Bách khoa thư bệnh học, tr. 105 – 109.
6. Bệnh viện Nhi đồng 2 (2016), Tài liệu sinh hoạt khoa học kỹ thuật.

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_benh_ly_so_sinh_cua_mot_so_thai_nghen_nguy_co_thuong.pdf