Lựa chọn chiến lược tầm soát và dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do Streptococcus nhóm B

Streptococcus nhóm B (GBS) là tác nhân thường gặp nhất gây ra

nhiễm khuẩn xảy ra ở trẻ trong vòng 7 ngày đầu sau sinh. Việc lây

truyền dọc từ mẹ sang con trong quá trình sinh có thể là nguyên nhân

dẫn đến tình trạng nhiễm khuẩn sơ sinh (NKSS) sớm do GBS. Từ năm

2002, CDC và Hiệp hội sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo nên

tầm soát thường quy GBS trên tất cả các thai phụ ở tuổi thai 35 – 37

tuần. Theo khuyến cáo này, những thai phụ có kết quả tầm soát dương

tính với GBS, hoặc vào chuyển dạ trước thời điểm tầm soát này, nên

được sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) trong quá trình chuyển

dạ. Tuy nhiên, việc áp dụng phác đồ tầm soát thường quy GBS có thể

làm tăng gánh đối với các phòng xét nghiệm, cũng như tăng chi phí y

tế, nhất là đối với các nước có nền kinh tế thấp. Hội đồng đánh giá các

chiến lược tầm soát Vương quốc Anh đã tiến hành xem xét hiệu quả của

chiến lược dự phòng NKSS sớm do GBS trong 2 năm 2016-2017 và đến

tháng 3 năm 2017, đưa ra khuyến cáo không nên áp dụng chương trình

tầm soát thường quy trong thai kỳ với GBS. Với cách tiếp cận này, quyết

định sử dụng KSDP trong chuyển dạ sẽ dựa trên sự hiện diện các yếu

tố nguy cơ của NKSS sớm do GBS. Đối với trường hợp thai non tháng

ối vỡ và chưa vào chuyển dạ thật sự, chưa cần thiết sử dụng KSDP cho

GBS và cũng không khuyến cáo thực hiện xét nghiệm tầm soát GBS.

Cả ACOG và RCOG vẫn đồng thuận với việc sử dụng benzylpenicillin

như phác đồ đầu tay. Cần có thêm các nghiên cứu từ Việt Nam về GBS

để tìm ra mô hình tầm soát và dự phòng phù hợp

pdf 4 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Lựa chọn chiến lược tầm soát và dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do Streptococcus nhóm B", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Lựa chọn chiến lược tầm soát và dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do Streptococcus nhóm B

Lựa chọn chiến lược tầm soát và dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do Streptococcus nhóm B
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
31
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 31 - 34, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Nguyễn Mai An 
Bệnh viện Mỹ Đức, Tp. Hồ Chí Minh
LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC TẦM SOÁT
VÀ DỰ PHÒNG NHIỄM KHUẨN SƠ SINH SỚM
DO STREPTOCOCCUS NHÓM B
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Mai An, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Từ khóa: GBS, NKSS sớm, 
KSDP, tầm soát thường quy, 
benzylpenicillin.
Keywords: GBS, EOGBS, 
IAP, routine screening, 
benzylpenicillin.
Tóm tắt
Streptococcus nhóm B (GBS) là tác nhân thường gặp nhất gây ra 
nhiễm khuẩn xảy ra ở trẻ trong vòng 7 ngày đầu sau sinh. Việc lây 
truyền dọc từ mẹ sang con trong quá trình sinh có thể là nguyên nhân 
dẫn đến tình trạng nhiễm khuẩn sơ sinh (NKSS) sớm do GBS. Từ năm 
2002, CDC và Hiệp hội sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo nên 
tầm soát thường quy GBS trên tất cả các thai phụ ở tuổi thai 35 – 37 
tuần. Theo khuyến cáo này, những thai phụ có kết quả tầm soát dương 
tính với GBS, hoặc vào chuyển dạ trước thời điểm tầm soát này, nên 
được sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) trong quá trình chuyển 
dạ. Tuy nhiên, việc áp dụng phác đồ tầm soát thường quy GBS có thể 
làm tăng gánh đối với các phòng xét nghiệm, cũng như tăng chi phí y 
tế, nhất là đối với các nước có nền kinh tế thấp. Hội đồng đánh giá các 
chiến lược tầm soát Vương quốc Anh đã tiến hành xem xét hiệu quả của 
chiến lược dự phòng NKSS sớm do GBS trong 2 năm 2016-2017 và đến 
tháng 3 năm 2017, đưa ra khuyến cáo không nên áp dụng chương trình 
tầm soát thường quy trong thai kỳ với GBS. Với cách tiếp cận này, quyết 
định sử dụng KSDP trong chuyển dạ sẽ dựa trên sự hiện diện các yếu 
tố nguy cơ của NKSS sớm do GBS. Đối với trường hợp thai non tháng 
ối vỡ và chưa vào chuyển dạ thật sự, chưa cần thiết sử dụng KSDP cho 
GBS và cũng không khuyến cáo thực hiện xét nghiệm tầm soát GBS. 
Cả ACOG và RCOG vẫn đồng thuận với việc sử dụng benzylpenicillin 
như phác đồ đầu tay. Cần có thêm các nghiên cứu từ Việt Nam về GBS 
để tìm ra mô hình tầm soát và dự phòng phù hợp.
Từ khoá: GBS, NKSS sớm, KSDP, tầm soát thường quy, 
benzylpenicillin.
Abstract 
The group B beta-haemolytic streptococcus infection (GBS) is 
recognised as the most frequent cause of severe early-onset less 
than 7 days of age infection in newborn infants. Vertical transmission 
NGUYỄN MAI AN
32
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
from pregnant women to infant during delivery may be the cause of early-onset neonatal group 
B streptococcal (EOGBS) disease. Since 2002, the US guidelines have advised that all pregnant 
women should be offered routine screening for GBS carriage at 35–37 weeks of gestation and those 
found to be colonised with GBS or laboring before this time should be offered intrapartum antibiotic 
prophylaxis (IAP). However, the use of routine GBS screening regimens may increase the burden 
on laboratories, as well as increase medical costs, especially for low-resource countries. The UK 
National Screening Committee examined the issue of strategies for the prevention of EOGBS disease 
in 2016-2017 and in March 2017 recommended that routine screening using bacteriological culture 
or near-patient testing techniques should not be introduced into UK practice. Clinicians should be 
aware of the clinical risk factors that place women at increased risk of having a baby with EOGBS 
disease. There is no evidence that treating GBS colonisation before labor is beneficial in preterm 
labor including preterm rupture of membranes (PROM) to reduce the risk of EOGBS disease and 
bacteriological testing for GBS carriage is not recommended for women with PROM. Both ACOG and 
RCOG consistently suggested that the first-line drug for GBS-specific IAP should be benzylpenicillin. 
More research from Vietnam on GBS should be conduct to discover appropriate screening and 
prevention models.
Key words: GBS, EOGBS, IAP, routine screening, benzylpenicillin.
1. Mở đầu
Nhiễm khuẩn sơ sinh (NKSS) sớm được định nghĩa 
là các trường hợp nhiễm khuẩn xảy ra ở trẻ trong vòng 
7 ngày đầu sau sinh, trong đó tác nhân thường gặp 
nhất là Streptococcus nhóm B (GBS) – là nguyên nhân 
hàng đầu gây NKSS nặng cũng như tử vong chu sinh.
GBS là vi khuẩn Gram dương, có thể hiện diện 
trong phổ vi khuẩn đường tiêu hóa ở 20-40% người 
lớn mà không gây ra bất kỳ triệu chứng gì và được 
xem như “người lành mang trùng”.
Tỷ lệ nhiễm khuẩn do GBS không khác biệt trong 
nhóm phụ nữ mang thai. Việc lây truyền dọc từ mẹ 
sang con trong quá trình sinh có thể là nguyên nhân 
dẫn đến tình trạng NKSS sớm do GBS. Khoảng 25% 
trường hợp nhiễm GBS xảy ra ở sơ sinh non tháng. 
6% nhiễm GBS sớm tử vong. Ở thai phụ: GBS có thể 
gây nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng ối, viêm nội mạc 
tử cung (NMTC), nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM). Do 
đó Việc tầm soát và điều trị dự phòng trước sinh cho 
các thai phụ nhiễm GBS luôn là mối quan tâm của 
cả ngành Sản khoa và Nhi khoa, với mong muốn 
giảm tỷ lệ NKSS sớm do nguyên nhân này.
2. Chiến lược tầm soát của 
Hiệp hội sản phụ khoa Hoa 
Kỳ (ACOG) và CDC
- Từ 2002, tầm soát thường quy GBS trên tất cả 
các thai phụ ở tuổi thai 35 – 37 tuần
- Những thai phụ có kết quả tầm soát dương 
tính với GBS, hoặc vào chuyển dạ trước thời điểm 
tầm soát này, nên được sử dụng kháng sinh dự 
phòng (KSDP) trong quá trình chuyển dạ.
* Ưu điểm khi áp dụng chiến lược tầm soát 
thường quy GBS: việc sử dụng KSDP GBS giúp làm 
giảm đáng kể tỷ lệ NKSS sớm do GBS, tuy không 
có khác biệt đối với các trường hợp nhiễm khuẩn sơ 
sinh muộn (khởi phát sau 7 ngày tuổi)
* Nhược điểm khi áp dụng chiến lược tầm soát 
thường quy GBS:
- Tầm soát thường quy GBS: có thể làm tăng 
gánh đối với các phòng xét nghiệm, cũng như tăng 
chi phí y tế, nhất là đối với các nước có nền kinh tế 
thấp như Việt Nam.
- Kết quả tầm soát dương tính đồng nghĩa với 
việc thai phụ sẽ phải sử dụng kháng sinh trong 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
33
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 31 - 34, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
quá trình chuyển dạ, kéo theo một số nguy cơ cho 
thai phụ và thai nhi. Các nguy cơ này bao gồm 
sốc phản vệ, tăng tỷ lệ can thiệp y khoa trên thai 
phụ và trẻ sơ sinh, và nguy cơ nhiễm các chủng vi 
khuẩn kháng thuốc nếu sử dụng các kháng sinh 
phổ rộng như amoxicillin trong phác đồ dự phòng 
nhất là ở Việt Nam nơi mà kháng sinh đang được 
sử dụng lan tràn và chưa được kiểm soát tốt.
3. Chiến lược tầm soát GBS 
của RCOG 2017
 Không nên áp dụng chương trình tầm soát 
thường quy trong thai kỳ với GBS (khuyến cáo mức 
độ D), lý do:
- Không có bằng chứng rõ ràng cho thấy việc 
tầm soát thường quy GBS đem lại nhiều lợi ích hơn 
những nguy cơ tiềm ẩn của nó
- Phần lớn trẻ sinh ra trong nhóm thai phụ có 
kết quả tầm soát GBS dương tính không bị nhiễm 
trùng sơ sinh
- Việc sử dụng KSDP cho tất cả các thai phụ 
nhóm này đồng nghĩa với một số lượng lớn thai 
phụ nhận được điều trị không cần thiết
- Kết quả tầm soát GBS vào cuối thai kỳ không thể 
giúp dự đoán được những trẻ nào sẽ bị NKSS do GBS
- Hiện tại cũng chưa có xét nghiệm tầm soát 
nào hoàn toàn chính xác:
• Khoảng 17-25% các thai phụ có kết quả tầm 
soát GBS dương tính ở thời điểm 35- 37 tuần sẽ có 
kết quả cấy GBS âm tính tại thời điểm chuyển dạ sinh.
• 5-7% thai phụ có kết quả tầm soát âm tính trước 
đó sẽ có kết quả dương tính khi vào chuyển dạ.
• Đa số trẻ trong nhóm bị NKSS nặng do GBS 
là trẻ sinh non, trước thời điểm người mẹ được tầm 
soát GBS.
Quyết định sử dụng KSDP trong chuyển dạ sẽ 
dựa trên sự hiện diện các yếu tố nguy cơ của nhiễm 
khuẩn sơ sinh sớm do GBS:
- Tiền căn sinh con bị NKSS do GBS, bao gồm 
cả NKSS sớm và muộn;
- Tình cờ được phát hiện có mang GBS trong 
thai kỳ này, có thể qua sự hiện diện của GBS trong 
các xét nghiệm dịch âm đạo hoặc có tình trạng 
nhiễm trùng tiểu do GBS;
- Chuyển dạ sinh non;
- Ối vỡ lâu;
- Mẹ sốt trong chuyển dạ hoặc có các triệu 
chứng nghi ngờ nhiễm trùng trong chuyển dạ, bao 
gồm cả nguy cơ nhiễm trùng ối.
4. Khuyến cáo các trường hợp 
cần sử dụng KSDP cho GBS:
4.1. Tiền sử GBS (+) ở thai kỳ trước:
- ACOG và CDC: thực hiện lại XN tầm soát GBS 
cuối thai kỳ, sử dụng KSDP theo kết quả tầm soát
- RCOG: Thai phụ có thể chọn lựa hoặc chấp 
nhận sử dụng KSDP trong chuyển dạ, hoặc sẽ làm 
lại xét nghiệm tầm soát GBS vào cuối thai kỳ và chỉ 
sử dụng kháng sinh nếu xét nghiệm này dương tính 
(khuyến cáo mức độ B)
4.2. Tiền sử sanh con lần trước bị 
nhiễm trùng sơ sinh do GBS:
ACOG và RCOG đồng thuận: không làm tầm 
soát GBS nữa, sử dụng KSDP trong chuyển dạ 
(khuyến cáo D).
4.3. Nhiễm trùng tiểu do GBS đã được 
điều trị trước đó:
Nếu kết quả cấy nước tiểu >105 cfu/ml: điều trị 
nhiễm trùng tiểu trước, sử dụng KSDP ở thời điểm 
chuyển dạ mà không cần làm XN GBS (khuyến 
cáo mức C)
4.4. Thai ≥ 37 tuần:
- Có ối vỡ, GBS (+): KSDP GBS và chỉ định khởi 
phát chuyển dạ (KPCD) càng sớm càng tốt
- Ối còn, GBS (+): KSDP GBS khi đã vào chuyển 
dạ thật sự
- Có sốt trong chuyển dạ (nhiệt độ >38oC): bất chấp 
kết quả GBS, sử dụng KSDP phổ rộng phủ cả GBS
4.5. Thai < 37 tuần:
- KSDP GBS cho các trường hợp đã vào chuyển 
dạ thật sự hoặc có chỉ định KPCD do nguyên nhân 
khác (ối vỡ non, bệnh lý mẹ, )
- Thai < 37 tuần, ối vỡ non, chưa vào chuyển 
dạ thật sự: 
• RCOG: không khuyến cáo KSDP GBS, chỉ 
khuyến cáo sử dụng KSDP bằng Erythromycin 250 
mg x4 lần/ngày cho đến khi vào chuyển dạ thật sự 
hoặc tối đa 10 ngày.
• ACOG: XN GBS và bắt đầu sử dụng KSDP 
cho đến khi sanh
4.6. Mổ lấy thai chủ động:
ACOG và RCOG: không dùng KSDP GBS cho 
2018: GBS đề kháng với nhóm CoAmoxiclav 
và Cephalosporin tăng, chỉ còn nhạy #60%, đề 
kháng với Clindamycin và Erythromycin # 80%.
7. Đề xuất mô hình áp dụng 
tại Việt Nam:
- Cơ sở có đủ nguồn lực: tầm soát thường quy 
cho các trường hợp có dự định sinh ngả âm đạo và 
sử dụng KS GBS theo KSĐ/khuyến cáo.
- Nguồn lực hạn chế/số lượng BN quá nhiều: mô 
hình sử dụng KSDP GBS theo yếu tố nguy cơ, áp dụng 
thử/Nghiên cứu khả năng áp dụng tầm soát GBS chi 
phí – hiệu quả/ Tầm soát GBS bằng kết quả cấy (+) với 
GBS không làm KSĐ và sử dụng KSDP theo khuyến cáo.
- Trường hợp non tháng + OVN: đề xuất sử dụng 
KSDP GBS (+) ngay khi vào chuyển dạ thật sự.
NGUYỄN MAI AN
34
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
tất cả các trường hợp mổ trước khi vào chuyển dạ 
và màng ối còn nguyên, bất kể tuổi thai và tình 
trạng GBS.
5. Chọn lựa KSDP cho GBS:
- Lựa chọn hàng đầu: benzylpenicillin 3g Tiêm TM 
càng sớm càng tốt khi thai phụ vào chuyển dạ thật sự, 
sau đó 1.5g mỗi 4 giờ cho đến khi sanh.
- Lựa chọn thay thế: nhóm Amoxicillin/Ampicillin
- Nếu BN có tiền căn dị ứng với nhóm β-lactamase 
nhưng không có triệu chứng nặng (shock phản vệ, 
phù mạch máu, nổi mề đay, suy hô hấp): sử dụng 
cephalosporin (ACOG: cefazolin, RCOG: Cefuroxim)
- Dị ứng nặng với nhóm beta-lactamase: dùng 
Vancomycin / Clindamycin nếu còn nhạy
6. Kết quả tầm soát GBS tại BV 
Mỹ Đức năm 2017 và 2018:
2017: Tổng cộng có 30 trường hợp cấy ra GBS 
(+) và được thực hiện KSĐ:
Nhận xét:
2017: GBS đề kháng với Clindamycin #70%, 
vẫn còn nhạy với Amoxicillin (90%)
Năm
Kháng sinh 
2017 2018
Nhạy Kháng Nhạy Kháng
Amoxicillin 27 3 42 32
Cefotaxim 28 2 45 29
Ceftriaxone 27 3 44 30
Clindamycin 9 20 15 59
Cefepim 26 4 44 30
Erythromycin 10 17 13 61
Vancomycin 30 0 74 0
Tài liệu tham khảo
1. Allen VM, Yudin MH, Bouchard C, Boucher M, Caddy S, Castillo 
E, et al.; Infectious Diseases Committee, Society of Obstetricians and 
Gynaecologists of Canada. Management of group B streptococcal 
bacteriuria in pregnancy. J Obstet Gynaecol Can 2012;34:482–6. 
2. American College of Obstetricians and Gynecologists. Prevention 
of early-onset group B streptococcal disease in newborns. Committee 
Opinion No. 485. Obstet Gynecol 2011; 117:1019-27.
3. Bland ML, Vermillion ST, Soper DE. Late third-trimester treatment 
of rectovaginal group B streptococci with benzathine penicillin G. Am J 
Obstet Gynecol 2000;183:372–6. 
4. Hughes RG, Brocklehurst P, Steer PJ, Heath P, Stenson BM on behalf 
of the Royal College of Obstetricians and Gynaecologists. Prevention of 
early-onset neonatal group B streptococcal disease. Green-top Guideline 
No. 36. BJOG 2017; DOI: 10.1111/1471-0528.14821.
5. Melissa K. Van Dyke, Ph.D., Christina R. Phares, Ph.D., Ruth 
Lynfield, M.D., Ann R. Thomas, M.D., Kathryn E. Arnold, M.D., Allen S. 
Craig, M.D., Janet Mohle-Boetani, M.D., Ken Gershman, M.D., William 
Schaffner, M.D., Susan Petit, M.P.H., Shelley M. Zansky, Ph.D., Craig A. 
Morin, M.P.H., Nancy L. Spina, M.P.H., Kathryn Wymore, M.P.H., Lee H. 
Harrison, M.D., Kathleen A. Shutt, M.S., Joseph Bareta, M.P.H., Sandra 
N. Bulens, M.P.H., Elizabeth R. Zell, M.Stat., Anne Schuchat, M.D., and 
Stephanie J. Schrag, D.Phil. Evaluation of Universal Antenatal Screening 
for Group B Streptococcus. N Engl J Med 2009; 360:2626-2636; DOI: 
10.1056/NEJMoa0806820.
6. Morris JM, Roberts CL, Bowen JR, Patterson JA, Bond DM, Algert 
CS, et al.; PPROMT Collaboration. Immediate delivery compared 
with expectant management after preterm pre-labour rupture of the 
membranes close to term (PPROMT trial): a randomised controlled trial. 
Lancet 2016;387:444–52.
7. National Institute of Health Care and Excellence. Preterm Labour and 
Birth. NICE guideline 25. London: NICE; 2015. 
8. Royal College of Obstetricians and Gynaecologists. Audit of Current 
Practice in Preventing Early-Onset Neonatal Group B Streptococcal 
Disease in the UK. First Report. RCOG: London; 2015. 
9. Royal College of Obstetricians and Gynaecologists. Group B 
Streptococcus (GBS) Infection in Newborn Babies. Information for you. 
London: RCOG; 2017. 
10. Turrentine MA, Colicchia LC, Hirsch E, Cheng PJ, Tam T, Ramsey 
PS, et al. Efficiency of screening for the recurrence of antenatal group 
B streptococcus colonization in a subsequent pregnancy: a systematic 
review and meta-analysis with independent patient data. Am J Perinatol 
2016;33:510–17. 
11. UK National Screening Committee. UK NSC Group B Streptococcus 
(GBS) Recommendation. London: UK NSC; 2017. 
12. Verani JR, McGee L, Schrag SJ. Prevention of perinatal group B 
streptococcal disease – revised guidelines from CDC, 2010. Division of 
Bacterial Diseases, National Center for Immunization and Respiratory 
Diseases, Centers for Disease Control and Prevention (CDC). MMWR 
Recomm Rep 2010;59(RR–10):1–36.

File đính kèm:

  • pdflua_chon_chien_luoc_tam_soat_va_du_phong_nhiem_khuan_so_sinh.pdf