Lõm ngực bẩm sinh: cập nhật chẩn đoán và điều trị ngoại khoa

Lõm ngực (Pectus Excavatum) là một dị dạng bẩm sinh của thành ngực trước, trong đó xương ức và một vài sụn sườn hai bên xương ức phát triển bất thường làm cho thành ngực trước lõm xuống. Chẩn đoán lõm ngực dựa vào dấu hiệu lâm sàng; các xét nghiệm cận lâm sàng, từ đó đưa ra phân loại lõm ngực. Chỉ định điều trị phẫu thuật dựa vào triệu chứng cơ năng như mệt và đau ngực khi gắng sức; dựa vào mức độ lõm ngực; dựa vào yếu tố tâm lý và yêu cầu về thẩm mỹ của người bệnh. Điều trị phẫu thuật: Trước đây, những phẫu thuật can thiệp lớn vào thành ngực được thực hiện để lại sẹo mổ dài, xấu, thời gian phẫu thuật lâu, hậu phẫu nặng nề. Ngày nay, Những phương pháp can thiệp tối thiểu như phẫu thuật Nuss đang được ứng dụng rộng rãi, là một phẫu thuật ít xâm lấn, an toàn, hiệu quả và có tính thẩm mỹ cao. Cùng với việc ứng dụng của phẫu thuật nội soi lồng ngực, sự sáng tạo của phẫu thuật viên đã làm cho phẫu thuật Nuss trở nên an toàn, thuận lợi và hiệu quả hơn trong điều trị lõm ngực bẩm sinh

pdf 9 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Lõm ngực bẩm sinh: cập nhật chẩn đoán và điều trị ngoại khoa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Lõm ngực bẩm sinh: cập nhật chẩn đoán và điều trị ngoại khoa

Lõm ngực bẩm sinh: cập nhật chẩn đoán và điều trị ngoại khoa
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 54 
LÕM NGỰC BẨM SINH: CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA 
Nguyễn Thế May* , Đoàn Quốc Hưng* 
TÓM TẮT 
Lõm ngực (Pectus Excavatum) là một dị 
dạng bẩm sinh của thành ngực trước, trong đó 
xương ức và một vài sụn sườn hai bên xương ức 
phát triển bất thường làm cho thành ngực trước 
lõm xuống. Chẩn đoán lõm ngực dựa vào dấu 
hiệu lâm sàng; các xét nghiệm cận lâm sàng, từ 
đó đưa ra phân loại lõm ngực. Chỉ định điều trị 
phẫu thuật dựa vào triệu chứng cơ năng như mệt 
và đau ngực khi gắng sức; dựa vào mức độ lõm 
ngực; dựa vào yếu tố tâm lý và yêu cầu về thẩm 
mỹ của người bệnh... Điều trị phẫu thuật: Trước 
đây, những phẫu thuật can thiệp lớn vào thành 
ngực được thực hiện để lại sẹo mổ dài, xấu, thời 
gian phẫu thuật lâu, hậu phẫu nặng nề. Ngày nay, 
Những phương pháp can thiệp tối thiểu như phẫu 
thuật Nuss đang được ứng dụng rộng rãi, là một 
phẫu thuật ít xâm lấn, an toàn, hiệu quả và có tính 
thẩm mỹ cao. Cùng với việc ứng dụng của phẫu 
thuật nội soi lồng ngực, sự sáng tạo của phẫu 
thuật viên đã làm cho phẫu thuật Nuss trở nên an 
toàn, thuận lợi và hiệu quả hơn trong điều trị lõm 
ngực bẩm sinh. 
Từ khóa: Lõm ngực bẩm sinh; phẫu thuật Nuss 
SUMMARY 
Pectus Excavatum (PE) is a congenital 
deformity of the anterior chest wall, in which the 
sternum and some rib’s cartilage on the sides of 
the breastbone develop abnormally, causing the 
anterior chest wall to depress. Diagnosis of 
Pectus Excavatum based on clinical signs; 
subclinical tests, which provide a chest cavity 
classification. Surgical treatment based on 
symptoms such as fatigue and chest pain; based 
on degree of chest depression; based on the 
psychological problems and the cosmetic 
requirements of the patient ... Surgical treatment: 
Previously, the large intervention surgeries on the 
chest wall was done, which leaved long and bad 
scars, long surgery time, severe postoperation. 
Nowadays, minimally invasive surgical 
procedures such as Nuss procedure is widely 
used, a less invasive, safe, effective and better 
cosmetic procedure. With the use of thoracic 
endoscopic surgery, the surgeon's creativity has 
made Nuss procedure more safe, more 
convenient, and more effective in the treatment of 
pectus excavatum.* 
Keyword: Pectus excavatum; Nuss procedure 
Lõm ngực (Pectus excavatum) là dị tật bẩm 
sinh của thành ngực trước do sự phát triển bất 
thường của xương ức và một số sụn sườn kế cận 
làm cho thành ngực trước bị lõm xuống hoặc tạo 
thành hố. Đặc điểm nổi bật của lõm ngực là sự 
uốn cong ra sau của thân xương ức và mũi ức với 
điểm sâu nhất thường nằm ngay phía trên mũi ức, 
ở vị trí giữa mũi kiếm và thân xương ức, các sụn 
sườn kế cận thì quá phát uốn cong vào trong, đẩy 
xương ức ra sau. Lõm ngực gây ảnh hưởng tâm lý 
– thể chất, ảnh hưởng chức năng tim – phổi của 
người bệnh. Dị tật lõm ngực ít gặp ở chủng tộc da 
đen, thường gặp ở chủng tộc da trắng. Lõm ngực 
chiếm khoảng 90% trong tất cả các dị dạng lồng 
ngực. Theo thống kê ở Mỹ, trong 1000 trẻ sinh ra 
thì có 1 trẻ bị lõm ngực, tỉ lệ nam : nữ là 4 : 1. 
Nguyên nhân gây lõm ngực bẩm sinh chưa được 
xác định. Yếu tố gia đình được ghi nhận trong dị 
tật lõm ngực bẩm sinh. 
* Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng 
** Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, Trường Đại học Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
LÕM NGỰC BẨM SINH: CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA 
 55 
II. CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN LOẠI LÕM 
NGỰC BẨM SINH 
2.1. Lâm sàng: Lâm sàng lõm ngực bẩm 
sinh thường thể hiện ở 3 vấn đề chính: 
2.1.1. Ảnh hưởng tâm lý – thể chất: trẻ nhỏ 
bị lõm ngực do chưa nhận thức rõ về hình thể 
lồng ngực nên thường không thay đổi tâm lý. Tuy 
nhiên, khi đến tuổi dậy thì hay vị thành niên, trẻ 
bị lõm ngực thường mặc cảm, tự ti, hay xa lánh 
bạn bè, né tránh các hoạt động và tình huống lộ 
ngực của mình. Trẻ lõm ngực thường gầy, thể 
chất kém phát triển, sa sút thể lực. Khi bị lõm 
ngực nặng, trẻ gầy yếu, suy nhược, sa sút trí tuệ, 
đôi khi bị trầm cảm, tự kỷ 
2.1.2. Ảnh hưởng chức năng tim - phổi do 
bị chèn ép: khi trẻ bị lõm ngực nhẹ, chức năng 
tim phổi chưa bị ảnh hưởng nhiều. Tuy nhiên, khi 
bị lõm ngực nặng có chèn ép tim phổi hoặc khi 
gắng sức nhiều về thể lực như lao động hoặc chơi 
thể thao thì chèn ép tim phổi thường biểu hiện rõ, 
bệnh nhân thường thấy mệt nhanh và hụt hơi. 
Những biểu hiện thường gặp như: Mệt mỏi, hồi 
hộp; thở nhanh nông khi làm việc, gắng sức; có khi 
nhiễm trùng đường hô hấp kéo dài; nhịp tim nhanh, 
trống ngực, đôi khi nghe tim có tiếng thổi khi tim bị 
đẩy lệch hẳn về bên trái khi lõm ngực nặng. 
2.1.3. Đau ngực: là triệu chứng cũng 
thường thấy ở trẻ lõm ngực, đặc biệt ở những 
trường hợp lõm ngực nặng. Nguyên nhân gây đau 
là do biến dạng xương, do căng cơ, do tư thế gò 
bó, không thoải mái trong sinh hoạt, nghỉ ngơi và 
hoạt động thể lực. 
2.1.4. Triệu chứng thực thể: thành ngực 
trước lõm vào trong, lõm có thể đối xứng hoặc 
không đối xứng. Hình thái của hố lõm thường 
được chia thành hai dạng: dạng chén (hố lõm hẹp 
và sâu) và dạng đĩa (hố lõm nông và rộng – tương 
ứng với dạng ngực dẹt). Ngoài ra, còn có dạng 
kết hợp ngực vừa lồi, vừa lõm. 
2.2. Cận lâm sàng 
2.2.1. X-quang lồng ngực 
- X-quang ngực tiêu chuẩn giúp đánh giá tình trạng nhu mô phổi, sự di lệch của tim, tình trạng 
cột sống có vẹo hay không. 
- X-quang tư thế nghiêng: đánh giá tình trạng lõm ra sau của xương ức, tính chỉ số lõm ngực PI 
(pectus index); tính chỉ số ngực thấp LVI (Low Vertebral index). LVC = BC/AC. 
2.2.2. CT scanner lồng ngực: đánh giá mức độ chèn ép tim và sự di lệch của tim; mức độ chèn 
ép phổi và xẹp phổi; sự mất cân xứng trong lồng ngực. 
- Tính chỉ số lõm của Haller (HI – Haller’s pectus index) là tỉ số giữa đường kính ngang và 
đường kính trước sau ngắn nhất tại nơi lõm nhất: HI ≤ 2,56: bình thường; 2,56 < HI ≤ 3,25: lõm ngực 
nhẹ - trung bình; HI > 3,25: lõm ngực nặng. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 56 
2.2.3. Đo chức năng hô hấp: đa số lõm 
ngực có chức năng hô hấp bình thường lúc nghỉ 
ngơi. Tuy nhiên, khi lõm ngực nặng hoặc khi hoạt 
động thể lực tăng lên thì dung tích sống và thể 
tích thông khí tối đa sẽ giảm. 
2.2.4. Siêu âm tim: siêu âm tim đánh giá 
cung lượng tim, chức năng tâm thất và sự hẹp 
đường ra của thất, đặc biệt là thất phải. Xương ức 
lõm đè ép vào tim từ phía trước có thể gây biến 
dạng vòng van hai lá hoặc buồng thất gây sa van 
hai lá gây hở van; giảm thể tích nhát bóp và giảm 
cung lượng tim. 
2.2.5. Điện tim: những bất thường trên điện 
tim được ghi nhận là do cấu trúc bất thường của 
thành ngực, tim bị lệch và xoay sang bên trái 
khoang lồng ngực. Những biểu hiện trên điện tim 
có thể gặp như: Trục tim lệch phải; ST chênh 
xuống; Rối loạn nhịp tim: Block nhánh phải; block 
nhĩ thất; hội chứng Wolff-Parkinson – White 
2.2.6. Xét nghiệm gene: được thực hiện 
trong một số trường hợp lõm ngực kết hợp với 
bệnh mô liên kết hoặc bất thường bẩm sinh như 
hội chứng Marfan; hội chứng Jeune do đột biến 
gene; bệnh có tính gia đình 
2.2.7. Bài kiểm tra thể lực: được thực hiện 
để theo dõi và đánh giá chức năng tim – phổi 
trong quá trình hoạt động thể lực như đạp xe hay 
các hoạt động hàng ngày. 
2.3. Phân loại lõm ngực bẩm sinh 
2.3.1. Phân loại theo Donald Nuss 
Tác giả Nuss phân loại dựa vào hình dáng 
(lõm hình chén, đáy sâu; lõm hình đĩa, đáy 
nông; hay dạng ngực lép); tính đối xứng (như 
lõm ngực đối xứng hay lõm ngực không đối 
xứng) và dựa vào mức độ lõm ngực (xác định 
bởi sự giảm khoảng cách ức – sống). Cách phân 
loại này ít có ứng dụng trên lâm sàng nên ngày 
nay ít dùng. 
2.3.2. Phân loại theo Hyung Joo Park 
* Loại 1. Lõm đối xứng (lõm đồng tâm) 
- Loại 1A: lõm ngực đồng tâm khu trú, đối 
xứng, sâu ở phần dưới xương ức 
- Loại 1B: lõm ngực đồng tâm dạng phẳng, 
nông, rộng, đối xứng 
* Loại 2: Lõm không đối xứng 
- Loại 2A: lõm lệch tâm, tâm xương ức nằm 
ở đường giữa, nhưng hố lõm nằm ở một bên 
xương ức. 
+ Loại 2A1: lõm ngực lệch tâm khu trú, tâm 
lõm nằm một bên 
+ Loại 2A2: lõm ngực lệch tâm dạng 
phẳng, nông, rộng một bên 
+ Loại 2A3: lõm ngực lệch tâm tạo kênh 
dài, lõm sâu, dài từ xương đòn đến phần dưới 
lồng ngực. 
- Loại 2B: loại lõm ngực hỗn hợp, có lồi và 
lõm, lõm hai bên không cân xứng, tâm lõm nằm ở 
đường giữa, bờ hố lõm bên này thấp hơn bên kia. 
- Loại 2C: phối hợp loại 2A và 2B. 
LÕM NGỰC BẨM SINH: CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA 
 57 
2.3.3. Phân loại theo vị trí, diện lõm và 
độ lõm 
- Theo vị trí: theo trục dọc có 1/3 trên, 1/3 
giữa và 1/3 dưới. Theo trục ngang có chính giữa 
(đối xứng, xương ức là lõm nhất), lệch trái và 
lệch phải. 
- Theo diện lõm có lõm điểm và lõm diện. 
- Theo độ lõm: độ sâu của hố lõm (d) tính từ 
bờ cao nhất của hố lõm đến đáy hố lõm theo đường 
thẳng đứng, có lõm nhẹ (d ≤ 1cm); lõm trung bình 
(1,5 < d < 2,5 cm); lõm nặng (d ≥ 3 cm) và lõm rất 
nặng khi xương ức nằm gần sát cột sống. 
III. ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA LÕM 
NGỰC BẨM SINH 
3.1. Phẫu thuật can thiệp lớn vào thành 
ngực 
* Phẫu thuật Ravitch kinh điển 
- Năm 1949, Ravitch công bố kỹ thuật 
chỉnh sửa dị tật lõm ngực bằng cách lấy bỏ sụn 
sườn quá phát nhưng giữ lại màng sụn và cố định 
xương ức ở vị trí bình thường, các sụn sườn sau 
đó sẽ phát triển theo các màng sụn để lại và tạo 
một khung mới giữ xương ức ở vị trí đã được 
chỉnh sửa và cố định. 
- Mô tả kỹ thuật: Rạch da dọc hoặc ngang 
xương ức, giải phóng chỗ bám của các cơ thành 
ngực trước khỏi xương ức và sụn sườn, cắt 
ngang toàn bộ các xương sườn sụn quanh chỗ 
lõm ở hai bên ngực và ngang xương ức chỗ bắt 
đầu lõm, giải phóng các dây chằng bám 
sau xương ức, lật ngược tấm lõm và khâu cố 
định các đầu sườn lại, phục hồi vết mổ theo 
giải phẫu. 
- Đây là một phẫu thuật lớn và tác động 
nhiều đến cấu trúc và chức năng của thành ngực 
trước, nó cũng có nhiều biến chứng trong và 
sau mổ, mất máu, hậu phẫu nặng nề, thời gian 
thở máy kéo dài hơn các phương pháp khác, 
hiệu quả thẩm mỹ hạn chế, đồng thời có nguy 
cơ hạn chế phát triển thành ngực sau này. Vì 
vậy, ngày nay trên thế giới hầu như không còn 
sử dụng phương pháp này nữa. 
* Phẫu thuật Ravitch cải tiến 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 58 
- Chỉ định: thường cho trẻ trên 6 tuổi. 
- Mô tả kỹ thuật: Rạch da theo đường 
cong nằm ngang giữa núm vú và bờ dưới sụn 
sườn, mở rộng sang hai bên ngực. Lật vạt da 
lên trên qua chỗ bám của cơ ngực, cơ ngực 
được lật sang hai bên một khoảng ngắn từ chỗ 
bám vào xương ức và sụn sườn, cơ thẳng bụng 
được tách khỏi sụn sườn thấp bám vào xương 
ức. Màng xương được rạch dọc giữa mặt trước 
sụn sườn 4 và 5 hai bên và vào trong tới khớp 
ức – sụn sườn. Cắt bỏ những sụn sườn dị dạng 
dưới màng sụn hai bên, khâu lại màng sụn. Cắt 
phần mũi ức khỏi xương ức, tách rời cơ liên 
sườn và màng sụn khỏi xương ức. Phẫu tích 
giải phóng phần thấp khoảng sau xương ức. Cắt 
ngang xương ức hình chêm ở mặt trước, tương 
ứng với vị trí xương ức bắt đầu lõm ở phía sau. 
Phần xương ức sau khi được làm gẫy không lấy 
ra mà nâng lên và xoay về vị trí giải phẫu cần 
chỉnh. Khâu phục hồi xương ức bằng chỉ thép, 
điều chỉnh cho mũi ức tương ứng với xương 
sườn 5 và 6 ở hai bên. Đặt thanh đỡ kim loại 
phía sau xương ức để giữ xương ức đúng vị trí 
mong muốn, cố định thanh đỡ. Khâu mũi ức và 
màng sụn với xương ức, phần màng sụn chỉ cần 
khâu đính lỏng. Đặt dẫn lưu màng phổi và sau 
xương ức (nếu cần), phục hồi thành ngực theo 
các lớp giải phẫu. Thanh đỡ sẽ được phẫu thuật 
gỡ bỏ ra sau 6 tháng. 
Trong gần 50 năm, phẫu thuật Ravitch cải 
tiến được xem là phẫu thuật duy nhất và chuẩn mực 
để sửa chữa dị dạng lõm ngực. Tuy nhiên, đây là 
phẫu thuật gây tàn phá, đau nhiều sau mổ, nguy cơ 
nhiễm trùng xương ức, vết mổ, di lệch thanh đỡ, để 
lại sẹo lớn và lồng ngực tuy không lõm nhưng cũng 
không hoàn hảo về mặt thẩm mỹ do sẹo mổ lớn, lồi 
xương hoặc sụn xấu, mất cân đối 
* Phẫu thuật Bruner 
- Chỉ định: giống như chỉ định của kỹ thuật 
Ravitch 
- Mô tả kỹ thuật: Rạch da dọc mặt trước 
xương ức, phẫu tích nâng vạt da và tổ chức 
dưới da hai bên lên. Cắt rời các sụn sườn dưới 
màng sụn hai bên ngực tại nơi tiếp giáp giữa 
sụn và xương sườn. Xẻ xương ức hình chữ T, 
đặt thanh đỡ kim loại (Kirschner) sau xương ức 
xuyên từ ngực phải sang ngực trái. Đặt dẫn lưu 
màng phổi và sau xương ức (nếu cần). Khâu 
phục hồi xương ức bằng chỉ thép, cố định thanh 
đỡ, đóng vết mổ theo các lớp giải phẫu. Thanh 
đỡ sẽ được rút ra sau 3 - 6 tháng và chỉ cần gây 
tê tại chỗ. 
- Tương tự như phẫu thuật Ravitch, phẫu 
thuật Bruner cũng là một phẫu thuật tàn phá cấu 
trúc lồng ngực, nguy cơ nhiễm trùng xương ức, 
mất máu, sẹo mổ lớn, đau nhiều sau mổ 
3.2. Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu của Nuss 
- Lịch sử: Năm 1987, Donald Nuss nhận 
thấy rằng thành ngực trước của trẻ em rất linh 
hoạt và dễ uốn nắn, đặc biệt thuận lợi ở trẻ nhỏ 
trước dậy thì. Ông đã đưa ra phương pháp 
phẫu thuật xâm lấn tối thiểu điều trị lõm ngực 
bẩm sinh được gọi là kỹ thuật Nuss. Năm 
1998, ông báo cáo kinh nghiệm 10 năm thực 
hiện phẫu thuật này trên 42 bệnh nhân, phẫu 
thuật được thực hiện chủ yếu dành cho trẻ nhỏ 
và cũng chỉ dành cho loại lõm ngực đồng tâm 
(điểm lõm nhất nằm chính giữa xương ức và 
cân xứng 2 bên ngực). Từ sau công trình này, 
nhiều bệnh viện ở Mỹ và Châu Âu thực hiện 
kỹ thuật Nuss. 
- Chỉ định: tác giả Donald Nuss chỉ định 
phẫu thuật cho bệnh nhân từ 6 – 18 tuổi, ông 
không phẫu thuật cho trẻ dưới 6 tuổi vì ông 
cho rằng trẻ không hợp tác và rất hiếu động dễ 
gây di lệch thanh đỡ kim loại, còn bệnh nhân 
trên 18 tuổi thì không nâng lên được vì thành 
ngực cứng. 
LÕM NGỰC BẨM SINH: CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA 
 59 
- Mô tả kỹ thuật: Thực hiện 2 đường rạch 
da nhỏ khoảng 1,5- 2 cm ở đường nách giữa hoặc 
đường nách trước hai bên thành ngực. Phẫu tích 
nâng vạt da cơ tạo phẫu trường rộng quanh nơi 
rạch da. Tạo đường hầm từ khoang màng phổi 
phải qua trung thất trước sát mặt sau xương ức 
sang khoang màng phổi trái và xuyên qua thành 
ngực trái ra vết mổ thành ngực trái. Qua vết rạch 
da bên ngực trái, luồn thanh đỡ kim loại không gỉ 
(đã được uốn cong) từ ngực trái qua đường hầm 
sang bên ngực phải và ra qua vết mổ bên ngực 
phải với chiều cong quay ra sau. Xoay thanh đỡ 
180º để nâng phần ngực lõm lên. Cố định thanh 
đỡ ở hai bên ngực vào các xương sườn cạnh 
thanh đỡ bằng dụng cụ hoặc khâu chỉ thép. Kiểm 
tra cầm máu, đuổi khí khoang màng phổi, đặt 
dẫn lưu màng phổi (nếu cần), đóng vết mổ. 
Thanh đỡ kim loại được đặt trong lồng ngực từ 2 
– 3 năm, sau đó sẽ được phẫu thuật rút ra với 
gây mê toàn thân. 
- Phẫu thuật Nuss khắc phục được những 
hạn chế của các kỹ thuật xâm lấn lớn vào thành 
ngực trước đây, kỹ thuật Nuss ngày càng được áp 
dụng rộng rãi vì những lợi ích mà nó mang lại: 
đường mổ thẩm mỹ, vết mổ nhỏ, ít đau hơn do ít 
xâm lấn, ít mất máu, ít biến chứng, thời gian phục 
hồi nhanh hơn, thời gian nằm viện ngắn và sớm 
trở lại hoạt động bình thường sau phẫu thuật. 
IV. NHỮNG CẢI TIẾN TRONG ỨNG 
DỤNG PHẪU THUẬT NUSS ĐIỀU TRỊ LÕM 
NGỰC BẨM SINH HIỆN NAY 
4.1. Độ tuổi chỉ định phẫu thuật 
- Ban đầu tác giả Donald Nuss chỉ định 
phẫu thuật cho trẻ từ 6 – 18 tuổi và cho trẻ bị 
lõm ngực đồng tâm. Tuy nhiên, có rất nhiều trẻ 
lớn và cả người lớn nữa cũng mắc dị dạng này. 
Dị dạng cũng không chỉ là đồng tâm mà còn có 
cả lệch trái, lệch phải hoặc dạng lưng lạc đà, 
hỗn hợp. Vì vậy phẫu thuật xâm lấn tối thiểu 
được nhiều phẫu thuật viên trên thế giới cải 
tiến để có thể áp dụng trên cả trẻ lớn và người 
lớn, áp dụng cả với những trường hợp lõm 
ngực bất đối xứng. Khi kỹ thuật đã phổ biến 
trên thế giới, nhiều phẫu thuật viên khác ở Mỹ, 
châu Âu, châu Á đã áp dụng cho cả trẻ > 2 
tuổi. Tác giả Hyung Joo Park chỉ định phẫu 
thuật cho tất cả những bệnh nhân từ 3 tuổi trở 
lên, khuyến cáo nên chỉ định cho các em từ 3 
tuổi đến 5 tuổi vì ở lứa tuổi này các em chưa 
đến trường vì vậy sẽ không ảnh hưởng đến 
công việc học tập của các em và khi lớn lên các 
em không còn nhớ đến cuộc phẫu thuật cũng 
như bản thân đã bị dị tật. 
- Theo trường phái Mỹ: các tác giả chủ 
trương chỉ định phẫu thuật cho trẻ từ sau tuổi dậy 
thì. Các tác giả cho rằng, phẫu thuật ở lứa tuổi 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 60 
này đạt được tính thẩm mỹ cao và hầu hết không 
có ảnh hưởng đến hô hấp. Tuy nhiên, sau phẫu 
thuật, chiều trước - sau của lồng ngực sẽ bị dẹt, 
đối tượng lớn xương sẽ bị canxi hóa nhiều, khi 
mổ sẽ đau nhiều hơn. Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu 
của Nuss có thể thực hiện được thành công đối 
với những bệnh nhân 50 tuổi hoặc nhiều tuổi hơn 
với những phẫu thuật viên có kinh nghiệm về 
bệnh lõm ngực bẩm sinh. Một số nghiên cứu lớn 
đã được báo cáo về việc thực hiện phẫu thuật 
Nuss thành công đối với những bệnh nhân lõm 
ngực từ 30 – 70 tuổi. 
- Theo trường phái Hàn Quốc: chỉ định 
phẫu thuật cho trẻ từ 3 tuổi trở lên, có những 
trường hợp 2 tuổi. Ưu điểm khi mổ ở trẻ nhỏ là 
sau phẫu thuật lồng ngực tròn đều, chiều trước 
sau của lồng ngực rộng hơn, không bị dẹt, hình 
thể đẹp, cân đối, làm tăng hô hấp trong lồng ngực 
và mức độ đau sau mổ sẽ giảm hơn. 
4.2. Số lượng thanh đỡ 
Chỉ định đặt 1 thanh hay 2 thanh dựa vào tỉ 
lệ biến dạng của xương ức, nếu xương ức biến 
dạng hơn 50%, diện lõm rộng, lõm không đối 
xứng hoặc lõm ngực phức tạp nên đặt 2 thanh 
kim loại sẽ cho lồng ngực nở nang, đẹp, ít di lệch 
thanh và sau mổ ít đau hơn. Trẻ em trước tuổi dậy 
thì chỉ cần đặt 1 thanh vì thành ngực trẻ rất mềm 
mại và dễ chỉnh sửa. 
4.3. Hình dạng thanh uốn 
- Hình dạng uốn trước của thanh rất quan 
trọng để tạo khuôn và hình dạng cho lồng ngực 
sau mổ. Việc tạo các đường cong, lồi lõm (tạo 
khuôn) cho thanh ngực nhằm đưa vùng ngực 
lõm lên mà không ép bất kỳ xương sườn nào 
lõm xuống. Nếu không xử lý tốt vấn đề này dễ 
gây biến dạng lồng ngực, hoặc tạo một lồng 
ngực có xương ức được nâng lên nhưng méo 
mó, lồi lõm. 
- Với những dạng đối xứng, thanh ngực 
cũng được uốn đối xứng. Những dạng không đối 
xứng, dạng lõm diện, lõm dưới mũi ức là những 
loại cần uốn thanh ngực phù hợp với dạng lõm, 
sao cho lồng ngực được đẩy lên đều, cân đối, 
ngực tạo vòm đẹp, không lồi lõm. 
- Có 2 dạng uốn thanh chính: dạng thanh 
vòm và thanh 2 tầng: Thanh vòm cho độ nâng 
ít hơn, dùng khi điểm đòn bẩy ở cao, nếu nâng 
cao nữa sẽ thành ngực lồi, xấu. Thanh 2 tầng 
(thanh lồi) cho độ nâng cao hơn, dùng khi điểm 
đòn bẩy thấp, cần độ nâng cao mới đưa vùng 
lõm về bình thường được. Kết hợp với lõm đối 
xứng và lõm không đối xứng sẽ có 4 dạng uốn 
thanh chính: thanh vòm đối xứng, thanh vòm 
không đối xứng, thanh 2 tầng đối xứng và 
thanh 2 tầng không đối xứng. Ngoài ra, có thể 
uốn thanh theo dạng kết hợp, tức là một đầu 
thanh uốn theo dạng vòm, một đầu uốn 2 tầng 
(đầu uốn 2 tầng thường cho vùng lõm không 
đối xứng). 
Thanh vòm đối xứng 
Thanh vòm không đối xứng 
Thanh lồi đối xứng 
Thanh lồi không đối xứng 
Thanh uốn phối hợp 
LÕM NGỰC BẨM SINH: CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA 
 61 
4.4. Chọn đường vào lồng ngực 
- Phẫu thuật Nuss kinh điển chọn đường 
vào lồng ngực ở phía thành ngực phải. Tạo đường 
hầm từ khoang màng phổi phải sang khoang 
màng phổi trái, sau đó luồn thanh đỡ kim loại 
không gỉ từ thành ngực trái qua đường hầm sau 
xương ức sang bên thành ngực phải. Tuy nhiên, 
do lõm ngực làm cho tim bị đẩy lệch sang bên 
lồng ngực trái, một số phẫu thuật viên nhận thấy 
việc chọn đường vào từ phía thành ngực trái giúp 
quan sát và kiểm soát việc tạo đường hầm sau 
xương ức thuận lợi và an toàn hơn, tránh gây tổn 
thương đến tim, đặc biệt quan sát thuận lợi khi có 
sự hỗ trợ của nội soi lồng ngực. 
4.5. Ứng dụng nội soi lồng ngực 
- Phẫu thuật Nuss kinh điển không có sự kết 
hợp của nội soi lồng ngực. Để tránh tổn thương 
tim trong quá trình tạo đường hầm sau xương ức 
phẫu thuật viên có thể dùng mũi khâu chỉ thép 
vào xương ức để nâng xương ức lên. 
- Ngày nay, với sự phát triển của phẫu thuật 
nội soi, nhiều trung tâm đã đồng loạt sử dụng nội 
soi lồng ngực hỗ trợ phẫu thuật Nuss trong điều 
trị lõm ngực bẩm sinh. 
- Nội soi lồng ngực hỗ trợ đóng vai trò quan 
trọng trong những trường hợp phẫu thuật ngực 
lõm tái phát, những trường hợp lõm ngực quá sâu 
và phức tạp vì giúp quan sát quá trình bóc tách và 
gỡ dính trước khi tạo đường hầm xuyên qua trung 
thất trước một cách an toàn, tránh tổn thương tim, 
phổi và kiểm soát chảy máu. 
- Hầu hết các phẫu thuật viên đứng bên phải 
bệnh nhân khi sử dụng nội soi hỗ trợ, một số 
trường hợp khác dùng nội soi bên trái tùy thuộc 
vào việc chọn đường vào lồng ngực theo kinh 
nghiệm của phẫu thuật viên. Đôi khi sử dụng nội 
soi cả hai bên khi lõm ngực quá sâu gây cản trở 
tầm nhìn từ một phía. Đặt trocart bên trái trong 
trường hợp tim lệch theo hướng đó đòi hỏi phải 
rất thận trọng. Trocart thường đặt phía dưới so 
với chỗ rạch da (vị trí đưa thanh đỡ vào lồng 
ngực) cho phép quan sát tốt quá trình tạo đường 
hầm qua trung thất và lúc cố định thanh đỡ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Ngô Gia Khánh và cộng sự (2011). 
Đánh giá kết quả phẫu thuật Nuss kết hợp nội 
soi lồng ngực điều trị bệnh ngực lõm bẩm sinh 
tại bệnh viện Việt Đức, Luận văn bác sĩ nội trú, 
Trường Đại học Y Hà Nội. 
2. Lâm Văn Nút và cộng sự (2014). Nghiên 
cứu ứng dụng phẫu thuật Nuss trong điều trị lõm 
ngực bẩm sinh, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại 
học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 
3. Vũ Hữu Vĩnh, Ngô Quốc Hưng, Châu 
Phú Thi (2010). Phẫu thuật can thiệp tối thiểu 
chỉnh sửa lõm ngực bẩm sinh bằng thanh nâng 
ngực. Phẫu thuật lồng ngực, Hội phẫu thuật tim 
mạch và lồng ngực Việt Nam. 
4. Irfaan Abid, MHS, OMS IV; MennatAllah 
M. Ewais, MD; Joseph Marranca, BS; Dawn E. 
Jaroszewski, MD. Pectus Excavatum: A Review of 
Diagnosis and Current Treatment Options. The 
Journal of the American Osteopathic 
Association, February 2017, Vol. 117, 106-
113. doi:10.7556/jaoa.2017.021. 
5. D. Nuss et al. A 10 – years review of a 
minimally invasive technique for the correction of 
Pectus Excavatum. J. Pediatr Surg 33: 545 – 552. 
6. Hyung Joo Park . Technical 
Innovations in the Minimally Invasive 
Approach for Treating Pectus Excavatum: A 
Paradigm Shift Through Six Years' Experience 
With 630 Patients. Innovations • Volume 2, 
Number 1, January 2007 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 22 - THÁNG 6/2018 
 62 
7. Jaroszewski D, Notrica D, McMahon L, 
Steidley DE, Deschamps C. Current management 
of pectus excavatum: a review and update of 
therapy and treatment recommendations. J Am 
Board Fam Med. 2010;23(2):230-239. 
doi:10.3122/jabfm.2010.02.090234 
8. Ravitch MM. The operative treatment of 
pectus excavatum. Ann Surg 1949;129:429–44. 
9. Sigalet DL, Montgomery M, Harder J, 
Wong V, Kravarusic D, Alassiri A. Long term 
cardiopulmonary effects of closed repair of pectus 
excavatum. Pediatr Surg Int. 2007;23(5):493-497. 
doi:10.1007/s00383-006-1861-y 
10. Tanner H, Bischof D, Roten L, et al 
Electrocardiographic characteristics of patients 
with funnel chest before and after surgical 
correction using pectus bar: a new association 
with precordialJ wave pattern. J Electrocardiol. 
2016;49(2):174-181. 

File đính kèm:

  • pdflom_nguc_bam_sinh_cap_nhat_chan_doan_va_dieu_tri_ngoai_khoa.pdf