Liệu GnRH agonist có thể thay thế hcg để gây phóng noãn trong chu kỳ thụ tinh nhân tạo ?

Mục tiêu: Đánh giá tính hiệu quả của GnRHa so với hCG để gây

phóng noãn về các chỉ số nồng độ đỉnh LH, tỉ lệ phóng noãn và tỉ lệ có

thai trong chu kỳ thụ tinh nhân tạo.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu

nhiên so sánh hai loại thuốc gây phóng noãn ở những cặp vợ chồng vô

sinh được chỉ định điều trị bơm tinh trùng vào buồng tử cung tại Trung

tâm Nội tiết – Sinh sản – Vô sinh thuộc khoa Phụ Sản Bệnh viện Trường

Đại học Y Dược Huế trong khoảng thời gian 4/2016 – 6/2017.

Kết quả nghiên cứu: 218 chu kỳ thụ tinh nhân tạo được đưa vào nghiên

cứu. Kết quả phóng noãn sau khi tiêm GnRHa là 87.2% so với hCG là

89.0%. Nồng độ đỉnh LH trung bình là 70.6 ± 44.4 mIU/mL. Tỉ lệ có thai

sinh hóa và thai lâm sang trong nhóm dùng GnRHa lần lượt là 12.8% và

11.9% so với 26.6% và 22.2% ở nhóm hCG. BMI >23, độ tuổi >35, thời

gian vô sinh >2 năm là những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến tỉ lệ phóng

noãn và có thai khi sử dụng GnRHa.

Kết luận: Đồng vận GnRH được nhận thấy có hiệu quả tương tự hCG

trong kích thích phóng noãn tuy vậy kết quả có thai sau sử dụng GnRHa

vẫn còn hạn chế. BMI, thời gian vô sinh và độ tuổi ảnh hưởng đến tỉ lệ

phóng noãn và có thai.

pdf 5 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Liệu GnRH agonist có thể thay thế hcg để gây phóng noãn trong chu kỳ thụ tinh nhân tạo ?", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Liệu GnRH agonist có thể thay thế hcg để gây phóng noãn trong chu kỳ thụ tinh nhân tạo ?

Liệu GnRH agonist có thể thay thế hcg để gây phóng noãn trong chu kỳ thụ tinh nhân tạo ?
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 137 - 141, 2017
137
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Nguyễn Đắc Nguyên, Lê Minh Tâm, Cao Ngọc Thành 
Trường Đại học Y Dược Huế
LIỆU GnRH AGONIST CÓ THỂ THAY THẾ hCG
ĐỂ GÂY PHÓNG NOÃN
TRONG CHU KỲ THỤ TINH NHÂN TẠO?
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Đắc Nguyên, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Từ khóa: GnRH đồng vận, bơm 
tinh trùng vào buồng tử cung, 
kích thích buồng trứng. 
Keyword: GnRH agonist, 
hCG, trigger, Intrauterine 
insemination.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá tính hiệu quả của GnRHa so với hCG để gây 
phóng noãn về các chỉ số nồng độ đỉnh LH, tỉ lệ phóng noãn và tỉ lệ có 
thai trong chu kỳ thụ tinh nhân tạo.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu 
nhiên so sánh hai loại thuốc gây phóng noãn ở những cặp vợ chồng vô 
sinh được chỉ định điều trị bơm tinh trùng vào buồng tử cung tại Trung 
tâm Nội tiết – Sinh sản – Vô sinh thuộc khoa Phụ Sản Bệnh viện Trường 
Đại học Y Dược Huế trong khoảng thời gian 4/2016 – 6/2017.
Kết quả nghiên cứu: 218 chu kỳ thụ tinh nhân tạo được đưa vào nghiên 
cứu. Kết quả phóng noãn sau khi tiêm GnRHa là 87.2% so với hCG là 
89.0%. Nồng độ đỉnh LH trung bình là 70.6 ± 44.4 mIU/mL. Tỉ lệ có thai 
sinh hóa và thai lâm sang trong nhóm dùng GnRHa lần lượt là 12.8% và 
11.9% so với 26.6% và 22.2% ở nhóm hCG. BMI >23, độ tuổi >35, thời 
gian vô sinh >2 năm là những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến tỉ lệ phóng 
noãn và có thai khi sử dụng GnRHa. 
Kết luận: Đồng vận GnRH được nhận thấy có hiệu quả tương tự hCG 
trong kích thích phóng noãn tuy vậy kết quả có thai sau sử dụng GnRHa 
vẫn còn hạn chế. BMI, thời gian vô sinh và độ tuổi ảnh hưởng đến tỉ lệ 
phóng noãn và có thai.
Từ khóa: GnRH đồng vận, bơm tinh trùng vào buồng tử cung, kích 
thích buồng trứng.
Abstract 
CAN GnRH AGONIST BE ANOTHER CHOICE 
FOR OVULATION TRIGGERING IN WOMEN WITH 
INTRAUTERINE INSEMINATON 
Objective: GnRHa can be used for ovulation triggering. This study is 
performed to compare triggering of ovulation by inducing endogenous 
LH surge (GnRHa) or using hCG in intrauterine insemination (IUI) cycles.
Methods: This was a prospective randomized study, conducted 
NGUYỄN ĐẮC NGUYÊN, LÊ MINH TÂM, CAO NGỌC THÀNH
138
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
on patients undergoing intrauterine insemination who were assigned for triggering of ovulation by 
GnRHa (study group) or by hCG (control group) in the Center for Reproductive Endocrinology and 
Infertility, Hue University hospital from 4/2016 to 4/2017.
Results: Total of 218 IUI cycles were recruited in the study. The ovulation rate after triggering by 
GnRHa was 87.2% compared with 89.0% in hCG group. LH concentration 24 hours after triggering 
by GnRHa was 70.6 ± 44.4. Biochemical pregnancy rate was 12.8% and clinical pregnancy rate was 
11.9% compared with 26.6% and 22.2% in hCG group, respectively. BMI > 25, age >23 years, time 
of infertility > 3 years were factors related to the low pregnancy rate and ovulation rate. 
Conclusions: GnRH agonist is as effective as by hCG in triggering ovulation, however, the 
pregnancy rate after being triggered by GnRH agonist is lower significantly. BMI, infertility time and 
maternal age are factors related to the poor outcome in ovulation and pregnancy rate.
Keywords: GnRH agonist, hCG, trigger, Intrauterine insemination
1. Đặt vấn đề
Sử dụng hCG là phương pháp được sử dụng 
hàng đầu và phổ biến nhằm gây phóng noãn. Tuy 
nhiên chính hCG có vai trò then chốt trong việc 
phát sinh hội chứng quá kích buồng trứng và làm 
xuất hiện đỉnh LH sớm đặc biệt trong chu kỳ hỗ 
trợ sinh sản. Gonadotropin-releasing hormone 
agonists (GnRHa) là một giải pháp thay thế cho 
hCG nhằm hạn chế các nhược điểm trên nhưng tỉ 
lệ có thai thành công thấp hơn [8]. Tuy nhiên trong 
những năm gần đây, với sự hỗ trợ hoàng thể tích 
cực trong những trường hợp sử dụng GnRHa thay 
thế cho hCG trong các chu kỳ thụ tinh trong ống 
nghiệm, nhiều nghiên cứu đã nhận thấy tỉ lệ có thai 
đã cải thiện rất nhiều, hầu như không có sự khác 
biệt so với khi sử dụng hCG và ngoài ra, các nhược 
điểm như hội chứng quá kích buồng trứng hay đỉnh 
LH sớm hầu như không xuất hiện [1], [7]
Phương pháp điều trị vô sinh bằng gây phóng 
noãn kết hợp bơm tinh trùng vào buồng tử cung 
(intrauterine insemination – IUI) là phương pháp 
phổ biến, đơn giản, ít nguy hiểm, chi phí thấp 
và đạt hiệu quả cao, thường được lựa chọn đầu 
tiên cho các cặp vợ chồng vô sinh đủ điều kiện. 
Các báo cáo về tỷ lệ có thai lâm sàng của phương 
pháp IUI dao động từ 7.5% - 20% [8], [13], [4]. Sự 
kết hợp giữa kích thích buồng trứng, đặc biệt với 
gonadotropin ngoại sinh và IUI giúp cải thiện rõ tỷ 
lệ có thai lâm sàng. Một trong những yếu tố quyết 
định đến cơ hội thành công của việc bơm tinh trùng 
là khả năng gây phóng noãn vào thời điểm phù 
hợp. Ngoài hCG là lựa chọn kinh điển, chưa có 
nhiều nghiên cứu trên thế giới thử nghiệm GnRHa 
thay thế hCG để gây phóng noãn trong chu kỳ thụ 
tinh nhân tạo.
Đề tài này nhằm mục đích nghiên cứu xác định 
liệu GnRHa có thể thay thế hCG nhằm gây phóng 
noãn ở những cặp vợ chồng được chỉ định hỗ trợ 
sinh sản bằng IUI ở chu kỳ tự nhiên hoặc có kích 
thích buồng trứng hay không, dựa vào tỉ lệ phóng 
noãn và tỉ lệ có thai cũng như xác định một số yếu 
tố ảnh hưởng đến tỉ lệ phóng noãn và tỉ lệ có thai.
2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng 
ngẫu nhiên hai loại thuốc gây phóng noãn GnRHa 
và hCG.
Trong thời gian 4/2016 – 6/2017, chúng tôi 
đã sử dụng đồng vận GnRH nhằm gây phóng noãn 
ở 109 chu kỳ tự nhiên hoặc có kích thích buồng 
trứng của những bệnh nhân được chỉ định hỗ trợ 
sinh sản bằng IUI và so sánh với kết quả của 109 
chu kỳ khác sử dụng hCG.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 137 - 141, 2017
139
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Tiêu chuẩn nhận bệnh: 
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối với vợ: Còn ít nhất 
một vòi tử cung thông; buồng trứng còn hoạt động; 
không mắc các bệnh lý viêm âm đạo, cổ tử cung, 
GnRHa (n=109) hCG (n=109)
Đặc điểm chung
Tuổi trung bình (năm) 31.50±5.38 31.29±4.71 p>0.05
Thời gian vô sinh trung bình (năm) 2.68±1.66 2.42±2.10 p>0.05
BMI 20.02±2.18 20.26±2.71 p>0.05
Loại vô sinh
Vô sinh nguyên phát 63.3% 68.8% p>0.05
Vô sinh thứ phát 36.7% 31.2% p>0.05
Nguyên nhân vô sinh
Bất thường tinh trùng 80.7% 82.6% p>0.05
Buồng trứng đa nang 35.8% 33.0% p>0.05
Giảm dự trữ buồng trứng 20.2% 12.8% p>0.05
Bệnh lí vòi tử cung 5.5% 5.5% p>0.05
Lạc nội mạc tử cung 3.7% 4.6% p>0.05
Xét nghiệm cơ bản
FSH ngày 2(IU/L) 7.14±2.55 7.35±3.96 p>0.05
LH ngày 2(IU/L) 6.38±4.00 7.29±5.09 p>0.05
AMH 5.28±6.27 6.70±6.74 p>0.05
Bảng 1 Đặc điểm bệnh nhân
GnRHa (n=109) hCG (n=109) p
Tỉ lệ phóng noãn
Chu kỳ tự nhiên 88.3% 89.9% p>0.05
Chu kỳ kích thích buồng trứng 84.4% 85% p>0.05
Tỉ lệ chung 87.2% 89.0% p>0.05
Tỉ lệ có thai
Tỉ lệ thai sinh hóa
Tỉ lệ chung 12.8% 26.6% p<0.05
Tự nhiên 13.0% 28.1% p<0.05
Kích thích BT 12.5% 20.0% p>0.05
Tỉ lệ thai lâm sàng
Tỉ lệ chung 11.9% 22.2% p<0.05
Tự nhiên 13.0% 23.6% p>0.05
Kích thích BT 9.4% 15.0% p>0.05
Nồng độ LH
LH trung bình 70.63±44.38
Có phóng noãn 74.36±45.64
p<0.05
Không phóng noãn 48.51±28.34
Bảng 2 Kết quả điều trị
Các yếu tố liên quan (các biến độc lập)
Tỉ lệ phóng noãn nhóm GnRHa
OR Khoảng tin cậy 95% (CI)
Tuổi 0.05≥35
BMI
<23
1.79 0.80 – 3.99P<0.05≥23
Loại vô sinh Nguyên phát 0.99 0.86 – 1.15P>0.05Thứ phát
Thời gian vô sinh 0.05≥2 năm
Kích thích buồng trứng Có 1.05 0.88 – 1.24P>0.05Không
Tổng số ngày sử dụng hMG ≤ 3 ngày 1.12 0.76 – 1.64P>0.05>3 ngày
Bảng 3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phóng noãn phác đồ đồng vận GnRH Các yếu tố liên quan (các biến độc lập)
Tỉ lệ có thai nhóm GnRHa
OR Khoảng tin cậy 95% (CI)
Tuổi 0.05≥35
BMI 0.05≥23
Loại vô sinh Nguyên phát 1.04 0.38 – 2.90p>0.05Thứ phát
Thời gian vô sinh < 2 năm 1.89 0.71 – 5.00 P<0.05≥ 2 năm
Kích thích buồng trứng không 1.04 0.35 – 3.07P>0.05có
Tổng số ngày sử dụng hMG ≤ 3 ngày 0.39 0.07 – 2.37p>0.05>3 ngày
Độ dày niêm mạc tử cung 
ngày trigger
0.05 ≥8mm
Bảng 4 Một số yếu tố ảnh hưởng kết quả có thai của phác đồ đồng vận GnRH
có nang trưởng thành trong chu kỳ tự nhiên hoặc 
sau kích thích buồng trứng.
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối với chồng: Tất cả 
những người chồng có số lượng tinh trùng bình 
thường di động tiến tới sau lọc rửa trên 1 triệu [14].
Phương pháp tiến hành:
- Đối với phụ nữ kinh nguyệt đều, chu kỳ từ 25 
đến dưới 35 ngày và ngày thứ 8-10 của vòng kinh 
có nang vượt trội thì tiếp tục theo dõi đến khi có ít 
nhất 1 nang ≥ 18mm.
- Đối với phụ nữ kinh không đều hoặc kinh thưa 
trên 35 ngày hoặc ngày thứ 8 của vòng kinh không 
có nang trội thì tiến hành kích thích buồng trứng 
bằng hMG 75UI/l mỗi ngày. Đánh giá sự phát 
triển của nang noãn bằng siêu âm đầu dò âm đạo 
mỗi 3 ngày. Tiếp tục quan sát đến khi có ít nhất 1 
nang ≥ 18mm và không quá 3 nang ≥ 18mm thì 
tiếp tục quá trình gây trưởng thành noãn.
- Lựa chọn ngẫu nhiên xen kẽ gây phóng noãn 
bằng hCG (Pregnyl 5000UI tiêm bắp) hoặc GnRHa 
(Fertipeptil 0.1mg x 3 ống tiêm dưới da). 
- Sau khi gây phóng noãn 36 giờ, tiến hành lấy 
tinh dịch, lọc rửa, và bơm tinh trùng vào buồng tử cung. 
- Đánh giá phóng noãn bằng siêu âm đầu dò 
âm đạo vào thời điểm sau khi thực hiện IUI 24 giờ. 
Đánh giá kết quả có thai sinh hóa bằng định lượng 
beta hCG 14 ngày sau IUI. Nếu dương tính xác 
định kết quả có thai lâm sàng bằng siêu âm đầu 
dò âm đạo sau 2 tuần.
3. Kết quả
Từ tháng 4/2016 – 4/2017, có 109 chu kỳ 
NGUYỄN ĐẮC NGUYÊN, LÊ MINH TÂM, CAO NGỌC THÀNH
140
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
được gây trưởng thành noãn bằng đồng vận GnRH 
và so sánh với 109 chu kỳ sử dụng hCG.
Nhận xét: Bảng 1 - Sự khác biệt về đặc điểm 
chung, phân loại vô sinh, chỉ định hỗ trợ sinh sản 
và các xét nghiệm cơ bản giữa hai nhóm nghiên 
không có ý nghĩa thống kê.
Nhận xét: Bảng 2 - Khả năng gây phóng noãn 
của GnRHa và hCG không có sự khác biệt. Tuy 
nhiên, tỷ lệ thai sinh hóa cũng như thai lâm sàng 
ở nhóm GnRHa thấp hơn có ý nghĩa thống kê 
(p<0.05). Nồng độ LH trung bình sau gây phóng 
noãn bằng GnRHa đạt 70.63±44.38 mIU/mL.
Nhận xét: Bảng 3 - BMI≥23 làm giảm khả năng 
phóng noãn bằng GnRHa, sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê (p<0.05).
Nhận xét: Bảng 4 - Độ tuổi dưới 35, BMI<23, 
tổng số ngày sử dụng hMG>3 ngày làm tăng khả 
năng có thai mặc dù chưa có ý nghĩa thống kê 
(p>0.05). Thời gian vô sinh<2 năm làm tăng tỉ lệ có 
thai với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05).
4. Bàn luận
Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2016 – 
6/2017, chúng tôi đã thực hiện gây trưởng thành 
noãn bằng đồng vận GnRH trên 109 chu kỳ những 
bệnh nhân được chỉ định hỗ trợ sinh sản bằng 
phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung so 
sánh với 109 chu kỳ sử dụng hCG.
Độ tuổi trung bình, thời gian vô sinh và chỉ số 
BMI ở hai nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt 
đáng kể và tương tự với một nghiên cứu khác về 
GnRHa của Vương Thị Ngọc Lan, với độ tuổi trung 
bình là 33,76 ± 3,35, chỉ số BMI là 20,54 ± 1,34 
[2]. Đối với phân loại vô sinh, vô sinh nguyên phát 
chiếm tỉ lệ ưu thế ở 2 nhóm nghiên cứu với tỉ lệ lần 
lượt là 63.3% ở nhóm GnRHa và 68.8% ở nhóm 
hCG. So sánh với một nghiên cứu khác của Cao 
Ngọc Thành năm 2011, tỉ lệ vô sinh nguyên phát 
là 72.3% và vô sinh thứ phát là 27.7% [3]. Điều 
này cho thấy khả năng tiếp cận sớm dịch vụ y tế và 
điều trị vô sinh ngày càng phổ biến.
Các xét nghiệm cơ bản như FSH. LH, AMH giữa 
2 nhóm đều có sự tương đồng. Bên cạnh đó, chỉ định 
hỗ trợ sinh sản của các bệnh nhân thuộc 2 nhóm 
nghiên cứu không có sự khác biệt lớn. Với tỉ lệ các 
chỉ định của nhóm GnRHa và hCG lần lượt là: bất 
thường tinh trùng (80.7% so với 82.6%), buồng trứng 
đa nang (35.8% so với 33.0%), giảm dự trữ buồng 
trứng (20.2% so với 12.8%) , bệnh lí vòi tử cung (5.5% 
so với 5.5%), lạc nội mạc tử cung (3.7% so với 4.6%). 
Có thể nhận thấy tỉ lệ bất thường tinh trùng chiếm 
tỉ lệ khá cao khi so với tỉ lệ 42.4% bất thường tinh 
trùng ở một nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan [2]. 
Có thể giải thích do trong nghiên cứu của chúng tôi, 
những trường hợp tinh dịch đồ có ít nhất một yếu tố 
bất thường đều được xếp vào bất thường tinh trùng. 
Bên cạnh đó, một số yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất 
lượng tinh trùng theo thời gian như: lối sống, hút thuốc 
lá, bia rượu [10] đã làm thay đổi đáng kể hình thái và 
chức năng của tinh trùng.
Về hiệu quả tác động gây trưởng thành noãn 
của GnRHa, những ưu điểm hạn chế nguy cơ quá 
kích buồng trứng trong chu kỳ hỗ trợ sinh sản đã 
được nhiều nghiên cứu chứng minh. Theo Mouzon, 
tỉ lệ OHSS trong 2470 chu kỳ IVF sau trưởng thành 
noãn bằng GnRHa chỉ chiếm 0.7% [9]. Theo Cao 
Ngọc Thành, tỉ lệ OHSS ở những chu kỳ IVF được 
kích thích bằng antagonist và trưởng thành noãn 
bằng agonist là 0% [1]. Thời gian hoạt động ngắn 
và hợp sinh lý của LH nội sinh sau kích thích bằng 
GnRHa (24- 36 giờ) khi so với thời gian hoạt động 
kéo dài của hCG (48 giờ) là lí giải vì sao GnRHa 
lại có được ưu điểm này [5]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung đánh 
giá hiệu quả phóng noãn sau khi sử dụng đồng vận 
GnRH và tỉ lệ có thai trên sinh hóa cũng như lâm sàng 
và chủ yếu ở những chu kỳ được hỗ trợ sinh sản bằng 
bơm tinh trùng vào buồng tử cung. Điều quan trọng 
là tác dụng kích hoạt (flare – up) của đồng vận GnRH 
có đủ tạo đỉnh LH để gây phóng noãn hay không? 
[6]. Nồng độ đỉnh trung bình LH sau 24 tiếng gây 
trưởng thành bằng đồng vận GnRH trong nghiên cứu 
chúng tôi đạt mức 70.63±44.38 mIU/ml. Tương tự 
một nghiên cứu khác của Badeea, nồng độ đỉnh LH 
đạt 75.9±8.8 mIU/ml [12]. Những kết quả trên đều 
phù hợp với mức sinh lý gây phóng noãn của đỉnh LH. 
Bên cạnh đó, tỉ lệ phóng noãn trong nghiên cứu chúng 
tôi ở chu kỳ tự nhiên của 2 nhóm GnRHa và hCG lần 
lượt là 88.3% và 89.9%, ở chu kỳ kích thích buồng 
trứng là 84.4% và 85%. Có thể khẳng định rằng tác 
dụng gây phóng noãn của GnRHa là tương tự hCG.
Tuy nhiên, điều chúng tôi quan tâm đến giai 
đoạn hoàng thể với tác dụng tạo đỉnh LH 2 pha 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 137 - 141, 2017
141
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
của đồng vận GnRH khi so với 3 pha của hCG kèm 
theo thời gian hoạt động ngắn như đã phân tích ở 
trên, việc sử dụng GnRHa có thể gây ảnh hưởng 
đến hoạt động nội tiết từ đó có thể làm giảm tỉ lệ 
có thai cũng như những bất thường thai nghén nếu 
có thai. Tỉ lệ có thai sinh hóa ở hai nhóm GnRHa 
và hCG lần lượt là 12.8% và 26.6% với p<0.05, 
trong khi tỉ lệ thai lâm sàng lần lượt là 11.9% và 
22.2% với p<0.05. Những kết quả về khả năng 
có thai sau sử dụng đồng vận GnRH trong nghiên 
cứu chúng tôi hiện khá khiêm tốn khi so sánh với 
một nghiên cứu tương tự của Badeea, tỉ lệ có thai 
sinh hóa đạt đến 19.88% ở nhóm GnRHa so với 
14.77% ở nhóm hCG, và có thai lâm sàng lần lượt 
là 17.61% và 13.06% [12]. Chúng tôi giải thích 
có sự khác biệt lớn giữa hai nghiên cứu có thể do 
phác đồ hỗ trợ hoàng thể khác nhau. Badeea đã 
chỉ định tiêm hCG 1500IU 12 giờ sau khi kích thích 
trưởng thành noãn bằng GnRHa kèm theo hỗ trợ 
bằng Estradiol và Progesterone ngoại sinh trong 
khi chúng tôi chỉ sử dụng Utrogestan 200mg đặt 
âm đạo 1 viên/ngày. Cochrane đã khuyến cáo 
không nên sử dụng GnRHa đơn độc để trưởng 
thành noãn bởi vì khả năng tỉ lệ có thai thấp [15]. 
Điều này càng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc 
hỗ trợ trong giai đoạn hoàng thể.
Tuy vậy, một số nghiên cứu khác lại có kết quả 
ngược lại: Romeu đã nghiên cứu trên 364 phụ 
nữ được chỉ định IUI với 2 phác đồ FSH/GnRHa 
(345 chu kỳ) và FSH/hCG (416 chu kỳ). Tỉ lệ có 
thai nhóm GnRHa đạt đến 27.25% trong khi hCG 
chỉ đạt 17.32% với p=0,007 [11]. Sự ưu thế của 
GnRHa ở đây được giải thích bởi chất lượng của 
nang noãn cũng như nội mạc tử cung tốt hơn và 
sự cân bằng của đỉnh FSH và LH trong giai đoạn 
hoàng thể sau khi sử dụng GnRHa. 
Tóm lại, để hiểu rõ sự ảnh hưởng của giai đoạn 
hoàng thể lên tỉ lệ có thai ở chu kỳ kích thích trưởng 
thành noãn bằng GnRHa, chúng tôi mong muốn 
thực hiện thêm những nghiên cứu về hoạt động nội 
tiết trong pha hoàng thể ở các phác đồ hỗ trợ khác 
nhau trên bệnh nhân được chỉ định GnRHa gây 
phóng noãn kết hợp bơm tinh trùng.
Tóm lại, sử dụng đồng vận GnRH nhằm khởi 
động trưởng thành nang noãn trong chu kỳ thụ tinh 
nhân tạo bằng bơm tinh trùng vào buồng tử cung 
là một giải pháp an toàn, tránh nguy cơ quá kích 
buồng trứng, có thể gây phóng noãn tương đương 
sử dụng hCG. Tuy nhiên, kết quả có thai giảm. Độ 
tuổi, chỉ số BMI, thời gian vô sinh được nhận thấy 
có sự ảnh hưởng đến tỉ lệ phóng noãn và có thai ở 
những chu kỳ được hỗ trợ bằng đồng vận GnRH.
Tài liệu tham khảo
1. Lê Việt Hùng, Cao Ngọc Thành (2013). Khởi động trường thành nang noãn 
trong thụ tinh trong ống nghiệm bằng GnRH đồng vận thay thế hCG ở đơn vị vô 
sinh hiếm muộn bệnh viện Trung Ương Huế. Tạp chí Y dược học 3, 2013, tr.40.
2. Giang Huỳnh Như, Vương Thị Ngọc Lan (2012). Sử dụng GnRH đồng vận 
thay thế hCG trong khởi động trưởng thành noãn ở các chu kỳ kích thích buồng 
trứng bằng phác đồ GnRH đối vận. Nghiên Cứu Học 16(1), tr.176–185.
3. Cao Ngọc Thành, Lê Quốc Anh (2011). Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng 
đến kết quả có thai của phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung. Tạp chí 
Phụ Sản, 2011, tr.91–97.
4. Demir B., Dilbaz B., Cinar O., et al. (2011). Factors affecting pregnancy outcome 
of intrauterine insemination cycles in couples with favourable female characteristics. 
J. Obstet. Gynaecol. 31(5), pp.420–423.
5. Humaidan P., Papanikolaou E.G., Tarlatzis B.C. (2009). GnRHa to trigger final 
oocyte maturation: a time to reconsider. Hum. Reprod. 24(10), pp.2389–2394.
6. Itskovitz J., Boldes R., Levron J., et al. (1991). Induction of preovulatory 
luteinizing hormone surge and prevention of ovarian hyperstimulation syndrome by 
gonadotropin-releasing hormone agonist. Fertil. Steril. 56(2), pp.213–220.
7. Lawrence E., Andrea D., David S., et al. (2008). The use of gonadotropin-
releasing hormone (GnRH) agonist to induce oocyte maturation after cotreatment 
with GnRH antagonist in high-risk patients undergoing in vitro fertilization prevents 
the risk of ovarian hyperstimulation syndrome: a prospective randomized controlled 
study. Fertility and Sterility 89, 2008, pp.84–91.
8. Luco S.M., Agbo C., Behr B., et al. (2014). The evaluation of pre and post 
processing semen analysis parameters at the time of intrauterine insemination 
in couples diagnosed with male factor infertility and pregnancy rates based on 
stimulation agent. A retrospective cohort study. Eur. J. Obstet. Gynecol. Reprod. 
Biol. 179, pp.159–162.
9. Nyboe Andersen A., Goossens V., Bhattacharya S., et al. (2009). Assisted 
reproductive technology and intrauterine inseminations in Europe, 2005: results 
generated from European registers by ESHRE. Hum. Reprod. 24(6), pp.1267–1287.
10. Pacey A.A., Povey A.C., Clyma J.-A., et al. (2014). Modifiable and non-
modifiable risk factors for poor sperm morphology. Hum. Reprod. 29(8), 
pp.1629–1636.
11. Romeu A., Monzo A., Peiro T., et al. (1997). Endogenous LH Surge Versus hCG 
as Ovulation Trigger After Low-Dose Highly Purified FSH in IUI: A Comparison of 
761 Cycles. Journal of Assisted Reproduction and Genetics 14, 1997, pp.518–524.
12. Soliman B.S., Siam S. (2014). Pregnancy rate after ovulation triggering with 
gonadotrophin releasing hormone agonist versus human chorionic gonadotrophin in 
women undergoing controlled ovarian stimulation/intrauterine insemination. Middle 
East Fertil. Soc. J. 19(4), pp.262–267.
13. Souter I., Dimitriadis I., Baltagi L.M., et al. (2014). Elevated day 3 follicle-
stimulating hormone in younger women: is gonadotropin stimulation/intrauterine 
insemination a good option?. Am. J. Obstet. Gynecol. 211(1),pp. 62.e1-62.e8.
14. WHO (2010), Laboratory manual for the examination of Human semen and 
semen-cervical mucus Interaction, .
15. Youssef M.A., Van der Veen F., Al-Inany H.G., et al. (2014). Gonadotropin-
releasing hormone agonist versus HCG for oocyte triggering in antagonist-assisted 
reproductive technology. Cochrane Libr.

File đính kèm:

  • pdflieu_gnrh_agonist_co_the_thay_the_hcg_de_gay_phong_noan_tron.pdf