Liên quan đặc điểm hình thái noãn với kết quả thụ tinh sau ICSI

Mục tiêu: nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan một số đặc điểm

hình thái noãn với kết quả thụ tinh của bệnh nhân thụ tinh trong ống

nghiệm (TTTON).

Phương pháp: mô tả tiến cứu 414 noãn thu được của bệnh nhân tuổi dưới

35 được kích thích buồng trứng bằng phác đồ Antagonist tại khoa Hỗ trợ

sinh sản Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.

Kết quả: thụ tinh ảnh hưởng bởi hình thái thể cực thứ nhât (p=0,031),

sự xuất hiện hạt trong khoảng quanh noãn (p<0,05), hình="" thái="" bào="">

noãn (p=0,034), độ đàn hồi của màng bào tương noãn (p<0,01);>

tượng thoái hóa noãn sau ICSI (Intracytoplasmic Sperm Injection- tiêm

tinh trùng vào bào tương noãn) ảnh hưởng bởi màu sắc màng trong

suốt (p=0,007), hình thái thể cực thứ nhất (p=0,028), xuất hiện hạt trong

khoảng quanh noãn (p<0,05), độ="" đàn="" hồi="" màng="" bào="" tương="" noãn=""><>

hình thái bào tương noãn (p=0,001).

Kết luận: các yếu tố hình thái noãn ảnh hưởng tới kết quả thụ tinh đó

là: thể cực thứ nhất, màng trong suốt, độ đàn mồi màng bào tương, bào

tương noãn.

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Liên quan đặc điểm hình thái noãn với kết quả thụ tinh sau ICSI", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Liên quan đặc điểm hình thái noãn với kết quả thụ tinh sau ICSI

Liên quan đặc điểm hình thái noãn với kết quả thụ tinh sau ICSI
NGUYỄN DUY ÁNH, PHẠM THÚY NGA, NGUYỄN CẢNH CHƯƠNG, ĐÀO LAN HƯƠNG, NGUYỄN THỊ LINH
164
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
Nguyễn Duy Ánh, Phạm Thúy Nga, Nguyễn Cảnh Chương, Đào Lan Hương, Nguyễn Thị Linh 
Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
LIÊN QUAN ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI NOÃN 
VỚI KẾT QUẢ THỤ TINH SAU ICSI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Linh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: Hình thái noãn, ICSI, 
thụ tinh, thoái hóa noãn.
Keywords: oocyte morphology, 
ICSI, fertilization rate, oocyte 
degeneration.
Tóm tắt
Mục tiêu: nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan một số đặc điểm 
hình thái noãn với kết quả thụ tinh của bệnh nhân thụ tinh trong ống 
nghiệm (TTTON). 
Phương pháp: mô tả tiến cứu 414 noãn thu được của bệnh nhân tuổi dưới 
35 được kích thích buồng trứng bằng phác đồ Antagonist tại khoa Hỗ trợ 
sinh sản Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. 
Kết quả: thụ tinh ảnh hưởng bởi hình thái thể cực thứ nhât (p=0,031), 
sự xuất hiện hạt trong khoảng quanh noãn (p<0,05), hình thái bào tương 
noãn (p=0,034), độ đàn hồi của màng bào tương noãn (p<0,01); hiện 
tượng thoái hóa noãn sau ICSI (Intracytoplasmic Sperm Injection- tiêm 
tinh trùng vào bào tương noãn) ảnh hưởng bởi màu sắc màng trong 
suốt (p=0,007), hình thái thể cực thứ nhất (p=0,028), xuất hiện hạt trong 
khoảng quanh noãn (p<0,05), độ đàn hồi màng bào tương noãn (p<0,05), 
hình thái bào tương noãn (p=0,001). 
Kết luận: các yếu tố hình thái noãn ảnh hưởng tới kết quả thụ tinh đó 
là: thể cực thứ nhất, màng trong suốt, độ đàn mồi màng bào tương, bào 
tương noãn.
Từ khóa: Hình thái noãn, ICSI, thụ tinh, thoái hóa noãn.
Abstract 
THE CORRELATION BETWEEN OOCYTE 
MORPHOLOGY AND FERTILIZATION RATE AFTER 
INTRACYTOPLASMIC SPERM INJECTION (ICSI)
Objectives: The aim of this study was to assess the correlation 
between oocyte morphology and fertilization rate after intracytoplasmic 
sperm injection (ICSI). 
Method: this descriptive study carried out in 414 oocytes from women 
at the age under 35 who undergoing ovarian stimulation by antagonist 
protocol in Assissted Reproductive Department of Hà Nội Obstetric and 
Gynecology Hospital. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 164 - 168, 2018
165
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Results: the factors affecting the success rate of ICSI (Intracytoplasmic Sperm Injection) included PB 
(polar body) morphology (p=0.031), coarse granulation in PVS (perivitelline space) (p<0.01), ooplasm 
morphology (p=0.034), the plasticity of oocyte membrane (p<0.01). The oocyte degeneration rate after 
ICSI was affected by colour of ZP (zona pellucida) (p=0.007), coarse granulation in PVS (p<0.01), PB 
morphology (p=0.028), ooplasm morphology (p=0.001), the plasticity of oocyte membrane (p<0.01). 
Conclusion: the morphological features of oocyte that affects the success rate of ICSI are: 1st Polar 
body, zona pelucida, ooplasm, plasticity of oocyte membrane.
Keywords: oocyte morphology, ICSI, fertilization rate, oocyte degeneration.
1. Đặt vấn đề
Noãn có vai trò quan trọng trong sự hình thành và 
phát triển của phôi. Sự hình thành và phát triển của 
noãn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố vi môi trường 
do buồng trứng và nang noãn chứa noãn tiết ra. 
Trong chu kỳ tự nhiên, phần lớn các nang noãn thoái 
triển, chỉ có một nang noãn được chọn lọc phát triển 
vượt trội và gây phóng noãn hàng tháng. Chính vì 
thế, việc sử dụng FSH (Follicle Stimulating Hormone-
hormon kích nang trứng) để kích thích buồng trứng, 
gây trưởng thành nhiều nang noãn hơn thay vì bị 
thoái triển có thể ảnh hưởng tới chất lượng nang 
noãn, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng noãn.
Chất lượng noãn được đánh giá trên nhiều 
khía cạnh: hình thái, cấu trúc di truyền, cấu trúc 
phân tử, sự chuyển hóa.. Tại các trung tâm thụ 
tinh trong ống nghiệm (TTTON) việc đánh giá chất 
lượng noãn chủ yếu dựa trên hình thái được quan 
sát trên kính hiển vi quang học, không can thiệp 
không ảnh hưởng tới noãn. 
Trong kỹ thuật IVF (Invitro Fertilization) cổ điển, 
việc đánh giá hình thái noãn gặp nhiều khó khăn 
do có sự bao phủ của tế bào hạt quanh noãn. 
Năm 1992, với sự ra đời của kỹ thuật ICSI (Intra 
cytoplasmic sperm injection- tiêm tinh trùng vào 
bào tương noãn), nhờ tách bỏ tế bào hạt mà nhiều 
yếu tố hình thái noãn được đánh giá chi tiết hơn: sự 
trưởng thành của nhân, bào quan, hình thái màng 
trong suốt, thể cực thứ nhất, thoi vô sắc. Cùng 
trong năm này, lần đầu tiên Van Blerkom và Henry 
đề cập tới khái niệm “cytoplasmic dysmorphisms”- 
những mô tả bất thường về bào tương hoặc một số 
khiếm khuyết của hình thái noãn [1]. 
Các bất thường của noãn được phân loại thành 
nhóm bất thường trong bào tương noãn như: sự 
thay đổi mật độ hạt của bào tương, xuất hiện các 
dạng thể vùi,... và các bất thường ngoài bào tương: 
hình thái thể cực thứ nhất, màng trong suốt, khoảng 
quanh noãn. Hơn 50% số noãn thu được sau chu kỳ 
kích thích buồng trứng có 1 hoặc nhiều hơn các đặc 
điểm bất thường, tuy nhiên cơ chế gây ra những 
đặc điểm này vẫn chưa thực sự sáng tỏ [2]. 
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về mối liên 
quan giữa hình thái noãn và kết quả thụ tinh sau 
ICSI; tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu này 
vẫn còn chưa thống nhất. Vì vậy, chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu đánh giá về những yếu tố hình 
thái ảnh hưởng đến sự thụ tinh của kỹ thuật ICSI và 
mức độ ảnh hưởng của những yếu tố này.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ noãn MII được thụ tinh với tinh trùng 
bằng phương pháp ICSI từ tháng 9 năm 2016 đến 
tháng 3 năm 2017 của các cặp vợ chồng thỏa mãn 
điều kiện sau:
• Vợ kích thích buồng trứng bằng phác đồ 
Antagonist.
• Tuổi vợ dưới 35 tuổi.
• Chồng có tinh dịch đồ bình thường theo tiêu 
chuẩn của WHO 2010.
NGUYỄN DUY ÁNH, PHẠM THÚY NGA, NGUYỄN CẢNH CHƯƠNG, ĐÀO LAN HƯƠNG, NGUYỄN THỊ LINH
166
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu thực hiện trên 414 
noãn đủ điều kiện trên. Đánh giá chất lượng noãn, 
thụ tinh, phôi theo tiêu chuẩn đồng thuận của 
Alpha/ESHRE và chi hội Y học sinh sản Việt Nam.
• Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)
Bệnh nhân được chọc hút noãn vào thời điểm 36 
-40 giờ sau khi tiêm hCG, Noãn sau khi thu nhận sẽ 
được nuôi tiếp trong môi trường G-IVF (vitrolife). Sau 
3 giờ tiến hành tách noãn và nuôi tiếp tục noãn sau 
tách trong môi trường G-IVF. Sau 2 giờ tiến hành 
ICSI. Mỗi noãn được đưa vào 1 giọt 5 µl môi trường 
G-Gamete (Vitrolife) có phủ dầu. Đánh giá chất 
lượng noãn: hình dạng, màu sắc màng trong suốt, 
hình thái khoảng quanh noãn, thể cực thứ nhất, tính 
chất bào tương, độ đàn hồi màng bào tương. 
Giữ noãn bằng 1 vi kim ở vị trí 9 giờ so với thể 
cực. Dùng 1 vi kim khác bắt giữ tinh trùng và tiêm vào 
bào tương noãn ở vị trí 3 giờ so với thể cực. Mỗi noãn 
sau khi ICSI được nuôi cấy trong 1 giọt môi trường 
G1 (Vitrolife) có phủ dầu theo đúng thứ tự vừa ICSI. 
• Đánh giá thụ tinh
Thụ tinh được đánh giá 16- 18 giờ sau khi ICSI. 
Noãn được đánh giá là thụ tinh khi xuất hiện hai tiền 
nhân và 2 thể cực. Trường hợp noãn có ba tiền nhân 
và noãn thoái hóa thì loại bỏ. Chuyển noãn sang đĩa 
nuôi mới, là đĩa Falcon BD Ø 60 chứa giọt môi trường 
G1(Vitrolife- Thụy Điển) có phủ dầu Ovoil, mỗi giọt 
môi trường có thể tích 10 µL có đánh số thứ tự, hợp tử 
vẫn được giữ nguyên thứ tự như ở đĩa sau ICSI, nuôi 
tiếp tục trong tủ cấy CO2 6% và nhiệt độ 37
o C.
2.3. Đạo đức nghiên cứu
Đây là nghiên cứu mô tả không can thiệp nên 
không ảnh hưởng tới kết quả. Noãn được nghiên 
cứu thu được từ các cặp vợ chồng làm TTTON đã 
có cam kết giữa bệnh nhân và cơ quan chủ quản 
là khoa Hỗ trợ sinh sản bệnh viện Phụ sản Hà Nội. 
Các bệnh nhân có noãn đồng ý tham gia nghiên 
cứu. Các thông tin cá nhân do bệnh nhân cung cấp 
được đảm bảo bí mật.
3. Kết quả
Theo bảng 1, tỷ lệ thụ tinh giữa các nhóm màu 
sắc màng trong suốt khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê (p=0,175). Tuy nhiên tỷ lệ noãn thoái 
hóa sau ICSI cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm 
màng ZP (Zona pellucida- màng trong suốt) sẫm 
màu so với nhóm màng ZP bình thường (27% so 
với 11,4%, p=0,007); noãn có màng ZP sẫm màu 
có nguy cơ thoái hóa cao gấp 2.9 lần so với nhóm 
bình thường. 
Bảng 2 cho thấy liên quan giữa hình thái thể 
cực thứ nhất (PB-Polar Body) với kết quả thụ tinh và 
thoái hóa noãn sau ICSI. Tỷ lệ thụ tinh cao nhất ở 
nhóm noãn có thể cực độ 2 (thể cực kích thước bình 
thường, bề mặt nhăn), và thấp nhất ở nhóm thể cực 
độ 4 (thể cực thoái hóa hoặc to bất thường), sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,031). Tỷ lệ noãn thoái 
hóa sau ICSI cao nhất ở nhóm thể cực độ 4 (42,9%), 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (0,028).
Bảng 3 cho thấy liên quan giữa sự xuất hiện hạt 
trong khoảng quanh noãn (PVS-Periviteline Space) 
với kết quả ICSI. Nhóm noãn có xuất hiện hạt trong 
khoảng quanh noãn có tỷ lệ thụ tinh thấp hơn và tỷ 
lệ thoái hóa cao hơn so với nhóm có khoảng quanh 
noãn bình thường (45,5% so với 78,3%, p<0,001; 
40,9% so với 11,2%, p<0,001). Sự xuất hiện hạt 
Kết quả ZP bình thường ZP sẫm màu
N 334 27
Thụ tinh
n 292 25
% 77,5 67,6
p 0,175
Thoái hóa
n 43 10
% 11,4 27
p 0,007
OR (95%CI) 2,9 (1,3-6,4)
Bảng 1. Liên quan hình thái màng trong suốt và kết quả ICSI
Kết quả PVS bình thường PVS có hạt
N 392 22
Thụ tinh
n 307 10
% 78,3 45,5
p 0,000
Thoái hóa
n 44 9
% 11,2 40,9
p 0,000
OR (95%CI) 5,5 (2,2- 13,5)
Bảng 3. Liên quan sự xuất hiện hạt trong khoảng quanh noãn và kết quả ICSI
Kết quả PB độ 1 PB độ 2 PB độ 3 PB độ 4
N 137 175 95 7
Thụ tinh
n 107 141 66 3
% 78,1 80,6 69,5 42,9
p 0,031
Thoái hóa
n 12 22 16 3
% 8,8 12,6 16,8 42,9
p 0,028
Bảng 2. Liên quan hình thái thể cực thứ nhất và kết quả ICSI
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 164 - 168, 2018
167
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
trong khoảng quanh noãn làm tăng nguy cơ thoái 
hóa noãn sau ICSI lên 5,5 lần.
Theo bảng 4, nhóm noãn có màng bào tương 
kém đàn hồi có tỷ lệ thụ tinh thấp hơn và tỷ lệ thoái 
hóa noãn cao hơn so với nhóm noãn có màng bào 
tương bình thường (13,3% so với 78,9%, p<0,001; 
86,7% so với 10,0%, <0,001). Màng bào tương 
kém đàn hồi làm tăng nguy cơ thoái hóa noãn lên 
gấp 58,3 lần.
Bảng 5 cho thấy mối liên quan giữa hình thái 
bào tương noãn với kết quả ICSI. Nhóm bào tương 
có ít nhất 1 đặc điểm độ 2 có tỷ lệ thụ tinh thấp hơn 
(74,7% và 87,1%, p=0,034) và tỷ lệ thoái hóa cao 
hơn (15,1% và 0%, p=0,001) so với nhóm nhóm 
bào tương tất cả đặc điểm độ 1.
4. Bàn luận
Trong kỹ thuật ICSI tinh trùng được đưa xuyên 
qua màng trong suốt vào thẳng bào tương noãn, 
nên màng trong suốt không còn vai trò chọn lọc tinh 
trùng cho thụ tinh. Nghiên cứu của chúng tôi không 
tìm thấy mối liên quan giữa hình thái màng trong 
suốt với kết quả thụ tinh, giống với kết quả một số 
nghiên cứu trước đó [3]. Tuy nhiên theo kết quả của 
chúng tôi, màu sắc màng có ảnh hưởng tới thoái 
hóa noãn sau ICSI. Khi quan sát noãn có màng 
trong suốt sẫm màu trên kính hiển vi điện tử quét, 
tác giả Wei Shi nhận thấy tỷ lệ ti thể bất thường tăng 
Kết quả Màng bình thường Màng kém đàn hồi
N 399 15
Thụ tinh
n 315 2
% 78,9 13,3
p 0,000
Thoái hóa
n 40 13
% 10,0 86,7
p 0,000
OR (95%CI) 58,3 (12,7- 267,8)
Bảng 4. Liên quan giữa độ đàn hồi màng bào tương noãn và kết quả ICSI
Kết quả Tất cả các đặc điểm thuộc bào tương độ 1
Ít nhất 1 đặc điểm thuộc 
bào tương độ 2
N 62 352
Thụ tinh
n 54 263
% 87,1 74,7
p 0,034
Thoái hóa
n 0 53
% 0 15,1
p 0,001
Bảng 5. Liên quan hình thái bào tương với kết quả ICSI
có ý nghĩa thống kê so với nhóm còn lại (38,7% so 
với 16,4%) [4]. Vì thế màng trong suốt sẫm màu có 
thể là 1 biểu hiện phản ánh sự bất thường trong bào 
tương noãn, những noãn quá trưởng thành, đang 
bắt đầu chết theo chu trình, vì thể dễ tổn thương bởi 
các tác động lực khi tách noãn và ICSI.
Kết quả của chúng tôi tương tự với kết quả 
nghiên cứu của tác giả Ebner: mối liên quan rõ 
rệt giữa hình thái thể cực thứ nhất với kết quả thụ 
tinh (p< 0,025). Trong buồng trứng tốc độ phát 
triển của nang noãn khác nhau nên mức độ trưởng 
thành của các noãn bào chứa trong đó cũng có thể 
khác nhau. Dưới tác dụng của đỉnh LH (Luteinizing 
Hormone- hormone hoàng thể hóa), các noãn bào 
hoàn thành giảm phân 1 giải phóng ra thể cực thứ 
nhất. Hình thái thể cực thứ nhất có thể phản ánh 
mức độ trưởng thành về nhân của noãn [3]. Thể 
cực thứ phân mảnh và thoái hóa (độ 3 và độ 4) là 
dấu hiệu cho thấy noãn quá trưởng thành. Noãn 
quá trưởng trưởng thành giảm khả năng thụ tinh do 
bị tổn thương thoi vô sắc, đồng thời dễ thoái hóa 
khi có lực tác động của kỹ thuật ICSI [5]. 
Chúng tôi nhận thấy sự xuất hiện hạt trong 
khoảng quanh noãn làm tỷ lệ thoái hóa noãn sau 
ICSI rất cao, tỷ lệ thụ tinh theo đó cũng giảm mạnh. 
Có thể sự xuất hiện hạt trong khoảng quanh noãn 
là biểu hiện của sự quá trưởng thành của noãn 
giống giả thuyết trong nghiên cứu của Hassan và 
cộng sự (1998) [6]. Những noãn quá trưởng thành 
có xu hướng thoái hóa cao hơn.
Ở nghiên cứu của chúng tôi chỉ gặp 2 hình thái 
màng bào tương là màng bình thường và màng 
kém đàn hồi. Chỉ có 15/414 noãn thu được có 
hình thái màng bào tương kém đàn hồi, tuy nhiên 
chỉ 2 noãn thụ tinh, còn lại thoái hóa toàn bộ (thoái 
hóa 86,7%). Những noãn này thoái hóa ngay khi 
vừa rút kim ICSI ra khỏi noãn, có thể quan sát thấy 
hiện tượng bào tương noãn trào ra ngoài ngay 
vị trí kim ICSI vừa rút ra. Trong nghiên cứu của 
Parlemo tỷ lệ thụ tinh của nhóm vỡ đột ngột thấp 
hơn (57,4% so với 59% và 64,3%, p<0,004) và tỷ 
lệ thoái hóa cao hơn có ý nghĩa thống kê so với 2 
nhóm màng còn lại (13,9% so với 2,9% và 4,3%, 
p<0,01) [7]. Do cỡ mẫu của chúng tôi tương đối 
nhỏ và chỉ 2 noãn không thoái hóa sau ICSI nên 
khi làm phép thống kê nguy cơ noãn thoái hóa ở 
nhóm màng bào tương kém đàn hồi tăng rất cao 
NGUYỄN DUY ÁNH, PHẠM THÚY NGA, NGUYỄN CẢNH CHƯƠNG, ĐÀO LAN HƯƠNG, NGUYỄN THỊ LINH
168
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
 V
À
 H
Ỗ
 T
R
Ợ
 S
IN
H
 S
Ả
N
(OR=58,3%, 95%CI: 12,7- 267,8). Nếu làm một 
nghiên cứu có cỡ mẫu lớn hơn, có thể sẽ gặp nhiều 
noãn có màng bào tương kém đàn hồi thụ tinh hơn, 
có thể chỉ số OR sẽ thay đổi tương đối.
Theo đồng thuận của VinaGopa công bố 
năm 2012, hình thái bào tương phân thành các 
đặc điểm: độ mịn của bào tương, xuất hiện bào 
quan: thể vùi, xuất hiện không bào và lưới nội bào 
không hạt, theo đó mỗi đặc điểm phân thành 4 độ. 
Nghiên cứu của chúng tôi phân loại hình thái bào 
tương thành 2 nhóm: nhóm có tất cả các đặc điểm 
thuộc bào tương độ 1 (bào tương mịn sáng, không 
xuất hiện các dạng bào quan), và nhóm có ít nhất 
1 trong các đặc điểm độ 2 (bào tương sẫm màu có 
hạt hoặc có quầng hạt thô và/ hoặc xuất hiện 1 
trong các bào quan), nhóm thứ 2 có tỷ lệ thụ tinh 
thấp hơn và tỷ lệ thoái hóa noãn cao hơn nhóm 1.
Bào tương noãn chứa toàn bộ các yếu tố cần 
thiết cho sự thụ tinh và phát triển của phôi sau này. 
Sự không đồng bộ giữa trưởng thành về nhân và 
bào tương của noãn có thể ảnh hưởng tới kết quả 
ICSI. Theo Kahraman và cộng sự (2000), noãn 
xuất hiện quầng hạt thô (tương ứng với độ mịn 
bào tương độ 4) có thể là biểu hiện sự chưa trưởng 
thành về tế bào chất, theo đó làm giảm khả năng 
thụ tinh của noãn [8]. Các dạng bào quan xuất 
hiện có thể là biểu hiện hoạt động bất thường trong 
bào tương noãn có thể ảnh hưởng tới kết quả thụ 
tinh. Otsuki khi quan sát trên kính hiển vi điện tử 
quét nhận thấy thể vùi là 1 dạng cấu trúc hỗn hợp 
lipid và các hạt đặc giống lipofuscin [9]. Lipofucsin 
là sản phẩm của sự tích tụ tế bào do tổn thương 
hoặc các hoạt động chuyển hóa bất thường của 
tế bào [9]. Sự xuất hiên thể vùi (thể vùi độ 2-4) có 
thể là biểu hiện của noãn đang chết theo chu trình, 
nên dễ thoái hóa khi có tác động can thiệp của 
ICSI. Sự hiện diện của không bào lớn hoặc nhiều 
không bào nhỏ (không bào độ 3,4) có thể làm sai 
lệch khung xương tế bào, sai lệch vị trí thoi vô sắc 
có thể dẫn đến tinh trùng tiêm vào vị trí thoi vô sắc 
dẫn đến bất thường thụ tinh hoặc tổn thương cấu 
trúc noãn gây ra hiện tượng thoái hóa noãn. 
5. Kết luận
Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả thụ tinh đó 
là: màu sắc màng trong suốt, hình thái thể cực thứ 
nhất, hình thái khoảng quanh noãn, hình thái bào 
tương noãn. Tuy nhiên đây mới chỉ là nghiên cứu 
trên từng đặc điểm riêng lẻcủa noãn với cỡ mẫu 
tương đối nhỏ. Cần làm thêm những nghiên cứu 
với cỡ mẫu lớn hơn và đánh giá phối hợp các đặc 
điểm hình thái noãn tới kết quả ICSI và hình thái 
phôi; đồng thời tìm các mối liên quan giữa các yếu 
tố lâm sàng của bệnh nhân với hình thái noãn.
Lời cảm ơn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các bác sĩ, điều 
dưỡng, kỹ thuật viên của khoa Hỗ trợ sinh sản Bệnh 
viện Phụ Sản Hà Nội đã giúp đỡ trong quá trình 
thực hiện nghiên cứu. 
Tài liệu tham khảo
1. Van Blerkom J., Henry G., Oocyte dysmorphisms and aneuploidy in 
meotically mature human oocyte after ovarian stimulation. Hum Reprod 
1992. Vol.7: p. 379-390
2. Ebner T., MoSER M., Gernot Tews, Is oocyte morphology prognostic 
of embryo developmental potential after ICSI? Reproductive BioMedicine 
Online, 2006. Vol.12 No.4: pp.507-512.
3. Rienzi L., Vajta G., and Ubaldi F., Predictive value of oocyte morphology 
in human IVF: a systematic review of the literature. Hum Reprod Update, 
2011. 17(1): p. 34-45.
4. Wei Shi, BoXu, Li-MinWu et al, Oocytes with a Dark Zona Pellucida 
Demonstrate Lower Fertilization, Implantation and Clinical Pregnancy 
Rates in IVF/ICSI Cycles. PLoS One, 9(2), e89409
5. Johnny S Younis, Orit Radin, Nitsa Mirsky, Ido Izhaki, Tatyana Majara, 
Shalom Barmi, Moshe Ben-ami, First polar body and nucleolar precursor 
body morphology is related to the ovarian reserve of infertile women. 
Reproductive BioMedicine Online, Vol. 16, No. 6, pp.851-858.
6. Hassan-Ali H., Hisham-Saleh A., El-Gezeiry D., Baghdady I., Ismaeil 
I. and Mandelbaum J., Perivitelline space granularity: a sign of human 
menopausal gonadotrophin overdose in intracytoplasmic sperm injection. 
Human Reproduction vol.13 no.12 pp.3425–3430
7. Palermo Gianpiero D., Mina Alikani, Massimo Bertoli, Liliana 
T.Colombero, Fred Moy, Jacques Cohen and Zev Rosenwaks, Oolemma 
characteristics in relation to survival and fertilization patterns of oocytes 
treated by intracytoplasmic sperm injection. Human Reproduction vol.11, 
no.l, pp. 172-176.
8. Kahraman S., Yakın K., Domez E., Samli H., Bahce M., Cengiz G., 
SERtyel S., Samli M., Imirzalioglu N., Relationship between granular 
cytoplasm of oocytes and pregnancy outcome following intracytoplasmic 
sperm injection. Human Reproduction, 2000. vol.15 no.11: pp.2390–2393.
9. Otsuki J, Nagai Y, Chiba K, Lipofuscin bodies in human oocytes as an 
indicator of oocyte quality. J Assist Reprod Genet, 24(7), 263-270

File đính kèm:

  • pdflien_quan_dac_diem_hinh_thai_noan_voi_ket_qua_thu_tinh_sau_i.pdf