Liên hệ giữa động học của phôi giai đoạn phân chia với tiềm năng phát triển phôi nang

Mục tiêu: Xác định mối liên hệ giữa động học của phôi giai đoạn

phân chia với tiềm năng phát triển phôi nang

Phương pháp: Phân tích hồi cứu trên hình thái động học của phôi

được theo dõi với hệ thống nuôi cấy phôi kết hợp camera quan sát

liên tục Primo Vision. Các chu kỳ điều trị trong nghiên cứu được

thực hiện theo phác đồ chuẩn tại IVFAS và nuôi cấy phôi nang.

Các thông số động học của phôi ở giai đoạn phân chia (t1, t2, t3,

t4, t5, t8, cc2, s2 và s3) được phân loại theo tứ phân vị. Khả năng

phát triển thành phôi nang được đánh giá theo từng nhóm phân loại

để xác định khoảng thời gian tối ưu cho mỗi thông số động học của

phôi ở giai đoạn phân chia. Phân tích hồi quy đa biến được thực hiện

nhằm tìm ra thông số động học có giá trị tiên lượng cho tiềm năng

phát triển thành phôi nang.

 

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Liên hệ giữa động học của phôi giai đoạn phân chia với tiềm năng phát triển phôi nang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Liên hệ giữa động học của phôi giai đoạn phân chia với tiềm năng phát triển phôi nang

Liên hệ giữa động học của phôi giai đoạn phân chia với tiềm năng phát triển phôi nang
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG, NGUYỄN HUYỀN MINH THỤY, LÊ THỊ BÍCH TRÂM, NGUYỄN THỊ THU LAN, HỒ MẠNH TƯỜNG
86
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Thị Phương Dung(1), Nguyễn Huyền Minh Thụy(1), Lê Thị Bích Trâm(1), Nguyễn Thị Thu Lan(1),(2), Hồ Mạnh Tường (1),(2) 
(1) Bệnh viện An Sinh, TP.HCM, (2) Khoa Y - Đại học quốc gia Tp.HCM
LIÊN HỆ GIỮA ĐỘNG HỌC CỦA PHÔI GIAI ĐOẠN
PHÂN CHIA VỚI TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN PHÔI NANG 
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định mối liên hệ giữa động học của phôi giai đoạn 
phân chia với tiềm năng phát triển phôi nang
Phương pháp: Phân tích hồi cứu trên hình thái động học của phôi 
được theo dõi với hệ thống nuôi cấy phôi kết hợp camera quan sát 
liên tục Primo Vision. Các chu kỳ điều trị trong nghiên cứu được 
thực hiện theo phác đồ chuẩn tại IVFAS và nuôi cấy phôi nang. 
Các thông số động học của phôi ở giai đoạn phân chia (t1, t2, t3, 
t4, t5, t8, cc2, s2 và s3) được phân loại theo tứ phân vị. Khả năng 
phát triển thành phôi nang được đánh giá theo từng nhóm phân loại 
để xác định khoảng thời gian tối ưu cho mỗi thông số động học của 
phôi ở giai đoạn phân chia. Phân tích hồi quy đa biến được thực hiện 
nhằm tìm ra thông số động học có giá trị tiên lượng cho tiềm năng 
phát triển thành phôi nang.
Kết quả: 568 phôi được đưa vào phân tích. Trong đó, 109 phôi có 
tiến trình phân chia bất thường (19,19%). Dựa trên khả năng phát 
triển thành phôi nang, khoảng thời gian tối ưu cho mỗi thông số động 
học ở giai đoạn phân chia được xác định: t1 (<22,95 giờ), t2 (<25,57 
giờ), t3 (33,52-39,63 giờ), t4 (35,27-41,43 giờ), t5 (45,82-54,93 giờ), 
t8 (<57,57 giờ), cc2 (10,33-11,90 giờ), s2 (<0,83 giờ) và s3 (<6,17 
giờ). Thông số có giá trị tiên lượng cho khả năng hình thành phôi 
nang là t4 OR=2,641 (95%CI 1,033–6,750), cc2 OR=3,353 (95%CI 
1,409-7,981) và s3 OR=3,330 (95%CI 1,277–8,685). 
Kết luận: Đây là nghiên cứu với cỡ mẫu lớn đầu tiên ở Việt Nam 
về vấn đề này. Động học của phôi ở giai đoạn phân chia có liên hệ 
với tiềm năng phát triển thành phôi nang. Kết quả nghiên cứu là 
tiền đề để phát triển mô hình tiên lượng tiềm năng phát triển thành 
phôi nang trong quá trình ứng dụng hệ thống TLM Primo Vision tại 
IVFAS.
Từ khoá: Camera quan sát phôi liên tục (time-lapse monitoring _TLM), 
động học, hình thái động học, phôi giai đoạn phân chia, phôi nang.
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Phương Dung, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 05/04/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):25/04/2016
Từ khoá: Camera quan sát phôi 
liên tục (time-lapse monitoring _
TLM), động học, hình thái động 
học, phôi giai đoạn phân chia, 
phôi nang. 
Keywords: Time-lapse 
monitoring (TLM), kinetic, 
morphokinetic, cleavage stage 
embryo, blastocyst.
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 86 - 92, 2016
87
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Abstract 
RELATIONSHIP BETWEEN CLEAVAGE STAGE EMBRYO KINETICS AND 
BLASTOCYST DEVELOPMENT POTENTIAL 
Objective: To determine the relationship between cleavage stage embryo kinetics and blastocyst 
development potential 
Methods: This is a retrospective analysis of embryo morphokinetics monitored in Primo Vision. 
All treatment cycles in this study were followed by the standard procedure at IVFAS and blastocyst 
culture. Cleavage embryo morphokinetics (t1, t2, t3, t4, t5, t8, cc2, s2) were categorized into four 
quatiles. Blastocyst development potential were valuated in groups to determine the favourable time 
ranges for each cleavage embryo morphokinetic. A multivariate regression analysis was performed 
to determine which morphokinetics could be used to predict blastocyst development potential. 
Results: 568 embryos were analysied. There were 109 embryos with abnormal cleavage 
(19.19%). According to blastocyst development potential, the favourable time ranges for each 
cleavage embryo morphokinetic were identified: t1 (<22.95 h), t2 (<25.57 h), t3 (33.52-39.63 h), t4 
(35.27-41.43 h), t5 (45.82-54.93 h), t8 (<57.57 h), cc2 (10.33-11.90 h), s2 (<0.83 h) and s3 (<6.17 
h). Three morphokinetic parameters which could be used as predictors for blastocyst development 
potential were determined: t4 OR=2.641 (95%CI 1.033–6.750), cc2 OR=3.353 (95%CI 1.409-
7.981) and s3 OR=3.330 (95%CI 1.277–8.685).
Conclusions: This is the first study with large sample in Vietnam regarding the use of TLM in 
IVF. The cleavage stage embryo kinetics were related to blastocyst development potential. The 
results could be used to develop a suitable blastocyst prediction model when using Primo Vision 
for embryo selection at IVFAS.
Key words: Time-lapse monitoring (TLM), kinetic, morphokinetic, cleavage stage embryo, blastocyst.
1. Đặt vấn đề
Việc phân loại phôi và lựa chọn chính xác 
phôi có tiềm năng phát triển tốt là một trong 
những yếu tố tiên quyết góp phần thành công của 
một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON). 
Vì vậy, nhiều phương pháp đánh giá chất lượng 
phôi đã được xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả 
điều trị. Đến nay, các phương pháp đánh giá 
chất lượng phôi chủ yếu dựa trên các tiêu chuẩn 
về hình thái, di truyền hoặc khả năng chuyển 
hóa của phôi. Trong đó, phân loại và lựa chọn 
phôi dựa vào tiêu chuẩn hình thái là phương 
pháp được sử dụng đầu tiên, gắn liền với lịch sử 
phát triển của lĩnh vực TTTON nhờ tính đơn giản, 
chi phí thấp và hiện vẫn có giá trị tiên lượng cho 
tiềm năng phát triển của phôi. 
Gần đây, sự phát triển của hệ thống nuôi cấy 
phôi kết hợp với camera quan sát liên tục (time-
lapse monitoring_TLM) đã tạo bước ngoặt mới 
trong lĩnh vực TTTON. TLM ghi nhận đầy đủ tiến 
trình phát triển của phôi, cung cấp dữ liệu về động 
học phát triển của phôi. Nhờ đó, TLM trở thành 
công cụ giúp chuyên viên phôi học có nhận định 
chính xác hơn về chất lượng phôi, những phôi có 
hình thái tốt theo tiêu chuẩn phân loại thường quy 
có thể tiềm ẩn nguy cơ phân chia bất thường. Từ 
đó, tiêu chuẩn hình thái động học (morphokinetic), 
sự kết hợp giữa tiêu chuẩn đánh giá hình thái 
truyền thống và động học của phôi ghi nhận từ 
TLM, đã hình thành giúp cho việc phân loại và lựa 
chọn phôi chính xác hơn. Đến nay, nhiều mô hình 
phân loại và chọn lọc phôi dựa trên tiềm năng phát 
triển và làm tổ của phôi cũng đã được xây dựng và 
phát huy hiệu quả trong ứng dụng lâm sàng. Trong 
đó, các thông số động học của phôi ở giai đoạn 
đầu phát triển (ngày 1 đến ngày 3) được chứng 
minh có tương quan với tiềm năng phát triển và 
làm tổ của phôi [1], [2], [3], [4].
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG, NGUYỄN HUYỀN MINH THỤY, LÊ THỊ BÍCH TRÂM, NGUYỄN THỊ THU LAN, HỒ MẠNH TƯỜNG
88
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Tuy nhiên, động học phát triển của phôi trong 
thực tế chịu sự tác động của nhiều yếu tố như điều 
kiện nuôi cấy phôi, phác đồ điều trị TTTON, đối 
tượng bệnh nhân [5], [6]. Do đó, việc áp dụng 
mô hình chọn lựa phôi với TLM được xây dựng 
từ một trung tâm TTTON này cho các trung tâm 
TTTON khác có thể không phát huy hiệu quả. Vì 
vậy, việc xác định các thông số động học chuẩn 
của phôi qua các giai đoạn phát triển cũng như 
xây dựng mô hình chọn phôi tiềm năng là mục 
tiêu hàng đầu khi ứng dụng TLM vào quy trình 
điều trị tại một trung tâm TTTON. Tại Việt Nam, 
đơn vị hỗ trợ sinh sản thuộc bệnh viện An Sinh 
(IVFAS) là một trong những nơi đầu tiên áp dụng 
hệ thống TLM Primo Vision vào quy trình nuôi cấy 
phôi TTTON. Bước đầu, các thông số động học của 
phôi được ghi nhận để làm cơ sở cho việc xác định 
chuẩn tham khảo và xây dựng mô hình chọn phôi 
tiềm năng. Trên cơ sở đó, việc phân tích mối tương 
quan giữa động học của phôi giai đoạn phân chia 
với tiềm năng phát triển phôi nang trong điều kiện 
hiện tại là một bước trong quá trình xây dựng mô 
hình tiên lượng phôi tiềm năng với hệ thống TLM 
Primo Vision. 
2. Mục tiêu nghiên cứu 
Xác định mối liên hệ giữa động học của phôi 
giai đoạn phân chia với tiềm năng phát triển 
phôi nang.
3. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: hồi cứu
Phương pháp chọn mẫu
Tiêu chuẩn nhận: 
- Tuổi vợ hoặc người cho noãn < 38 tuổi
- Số noãn chọc hút/chu kỳ ≥ 12 noãn
- Nuôi cấy phôi ngày 5 với hệ thống TLM 
Primo Vision
Tiêu chuẩn loại:
- Sử dụng tinh trùng từ phẫu thuật hoặc tinh 
trùng yếu, dị dạng nặng.
- Sử dụng kỹ thuật hỗ trợ hoạt hóa noãn (AOA) 
sau ICSI
- Chu kỳ trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IVM)
Địa điểm và thời gian tiến hành
Nghiên cứu do trung tâm Nghiên cứu Di truyền & 
Sức khỏe Sinh sản (CGRH), Khoa Y ĐHQG TP.HCM 
quản lý. Số liệu được thu thập tại IVFAS, bệnh viện An 
Sinh từ tháng 8/2014 đến tháng 6/2015.
Các bước tiến hành
Thu nhận noãn, ICSI và nuôi cấy phôi
Bệnh nhân được kích thích buồng trứng bằng 
phác đồ GnRH antagonist và chọc hút noãn 
vào thời điểm 36 ± 1 giờ sau khi tiêm thuốc 
kích trưởng thành noãn. Sau đó, noãn được cấy 
3-4 giờ trong môi trường G-IVFplus (Vitrolife) ở 
điều kiện 37oC, 7%CO2, 5% O2. Sau khi được 
tách khỏi khối tế bào hạt (cumulus) nhờ Hyase 
(Vitrolife), noãn trưởng thành được tiêm tinh 
trùng vào bào tương noãn (ICSI). Noãn sau 
ICSI được chuyển vào vi giọt 20µl môi trường 
G1plus (Vitrolife) của đĩa cấy phôi thường quy và 
nuôi cấy ở điều kiện 37oC, 7%CO2, 5% O2. Đĩa 
WOW (Vitrolife) được chuẩn bị với môi trường 
G1plus (Vitrolife) sau thời điểm ICSI và được cân 
bằng qua đêm ở điều kiện 37oC, 7%CO2, 5% O2 
để sử dụng cho nuôi cấy hợp tử sau khi kiểm tra 
thụ tinh. 
Noãn được kiểm tra thụ tinh vào thời điểm 
16-18 giờ sau ICSI và chuyển vào đĩa WOW (đã 
chuẩn bị ngày trước). Sau đó, đĩa WOW được đưa 
vào hệ thống Primo Vision EVO, đặt cố định trong 
tủ cấy Galaxy 170R ở điều kiện 37oC, 7%CO2, 5% 
O2. Vào thời điểm phôi ngày 3, khoảng 2/3 lượng 
môi trường G1plus (Vitrolife) của giọt nuôi cấy phôi 
được thay mới bởi môi trường G2plus (Vitrolife) (đã 
được cân bằng trước).
Ghi nhận thông số động học của phôi 
Hình ảnh phôi được ghi nhận liên tục mỗi 10 
phút. Chuyên viên phôi học sử dụng phần mềm 
phân tích để đánh dấu các thời điểm phát triển 
của phôi. Các thông số được ghi nhận và phân tích 
bao gồm: thời điểm 2 tiền nhân biến mất (t1), thời 
điểm phôi phân chia lần lượt thành 2 tế bào (t2), 3 
tế bào (t3), 4 tế bào (t4), 5 tế bào (t5) và 8 tế bào 
(t8). Trên cơ sở đó, các khoảng thời gian thể hiện 
tiến trình phát triển của phôi cũng được xác định: 
chu kỳ phân bào thứ 2 (cc2=t3-t2), sự đồng bộ khi 
phân chia phôi bào (s2=t4-t3 và s3=t8-t5). Đồng 
thời, hình thái phôi (xuất hiện không bào, mảnh 
vỡ tế bào, phôi bào đa nhân) cũng như cách thức 
phân bào (phân chia không đều, phân chia trực 
tiếp từ 1 tế bào thành 3 tế bào, phân chia ngược) 
được ghi nhận. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 86 - 92, 2016
89
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Đánh giá chất lượng phôi nang và lựa chọn phôi
Chất lượng phôi nang được đánh giá vào 
thời điểm ngày 5 (116±2 giờ) hoặc ngày 6 (140 
± 2 giờ) sau khi ICSI theo tiêu chuẩn thường quy 
của labo IVFAS (dựa trên đồng thuận đánh giá 
và phân loại phôi của tổ chức Alpha vào năm 
2012). Theo đó, chất lượng phôi nang được 
đánh giá dựa trên độ nở rộng của khoang phôi, 
hình thái của khối tế bào nội mô (inner cell mass 
_ ICM) và lớp tế bào lá nuôi phôi (trophectoderm 
_ TE). Phôi nang có chất lượng khá (loại 1 hoặc 
loại 2) thỏa mãn: khoang phôi đầy hoặc nở 
rộng, khối ICM rõ và nén, lớp TE có nhiều tế 
bào xếp đều đặn.
Phôi không có khả năng phát triển đến giai 
đoạn tạo khoang phôi cho đến thời điểm 140 
giờ sau ICSI được xem là phôi ngưng tiến triển 
đến giai đoạn phôi nang. Chọn lựa phôi dựa 
trên tiêu chuẩn hình thái và không ưu tiên sử 
dụng phôi nang phát triển từ phôi có tiến trình 
phân chia bất thường.
Phân tích số liệu
Phôi có tiến trình phân chia bất thường (phân 
chia trực tiếp hoặc phân chia ngược) ở bất kỳ 
giai đoạn nào trong tiến trình phát triển của 
phôi bị loại khỏi phân tích. Phân tích được thực 
hiện trên động học của phôi xuất phát từ noãn 
thụ tinh bình thường (2PN) vào thời điểm kiểm 
tra thụ tinh. Phôi được chia thành 2 nhóm: (1) 
nhóm phôi nang và (2) nhóm phôi ngưng tiến 
triển đến giai đoạn phôi nang. Các thông số 
động học của phôi (t1, t2, t3, t4, t5, t8, cc2, s2 
và s3) được phân loại thành từng nhóm Q1, Q2, 
Q3, Q4 theo các khoảng tứ phân vị.
Dùng phép thống kê T-test để đánh giá sự 
khác biệt về tiến trình phát triển giữa 2 nhóm 
phôi (1) và (2). Đồng thời, sử dụng Chi-squared 
test để so sánh tỉ lệ tạo phôi nang ở từng nhóm 
của mỗi thông số động học. Khác biệt có ý nghĩa 
thống khi giá trị p <0,05. Khoảng thời gian tối 
ưu cho các thời điểm phát triển của phôi là 2 
khoảng tứ phân vị có tỉ lệ tạo phôi nang cao 
nhất. Sau đó, phân tích hồi quy đa biến được 
thực hiện để xác định thông số động học của 
phôi ở giai đoạn phân chia có tác động đến 
tiềm năng tạo phôi nang. Số liệu được phân tích 
bằng phần mềm SPSS 20.0
4. Kết quả
Tổng cộng 61 chu kỳ TTTON, với 568 hợp tử 
được nuôi cấy với hệ thống TLM Primo Vision đến 
ngày 5 hoặc ngày 6, được đưa vào phân tích. Đặc 
điểm chu kỳ điều trị và quần thể mẫu trong nghiên 
cứu được thể hiện ở Bảng 1
Hình thái động học của phôi và tỉ lệ 
tạo phôi nang
Trong 568 phôi, có 151 phôi biểu hiện ít nhất 
1 dấu hiệu bất thường trong tiến trình phát triển, 
bao gồm: 100 phôi phân chia trực tiếp (17,61%), 
9 phôi phân bào ngược (1,58%), 54 phôi có hiện 
diện đa nhân (9,51%), 15 phôi phân chia không 
đều ở giai đoạn 2 tế bào (2,64%).
Trong nghiên cứu này, phôi có tiến trình phân 
chia phôi bào trực tiếp hoặc phân chia ngược tại 
bất kỳ giai đoạn nào trong tiến trình phát triển 
được xem là phôi phân chia bất thường, chiếm tỉ 
lệ 19,19% (109/568). Khả năng phát triển thành 
phôi nang dựa trên đặc điểm phôi phân chia thể 
hiện ở Bảng 2.
Thời điểm phát triển của phôi và tỷ lệ 
tạo phôi nang
Số chu kỳ 61
Tuổi vợ (người cho trứng) 31,2 ± 3,6 (21-38)
Số hợp tử 2PN 568
Số phôi nang 402 (69,91%)
Số phôi nang khá 156 (38,81%)
Số phôi nang khả dụng (chuyển phôi hoặc trữ lạnh) 277 (68,91%)
Tỷ lệ thai lâm sàng (chuyển phôi tươi) 45,45% (10/22)
Tỷ lệ thai lâm sàng (chuyển phôi trữ) 84,21% (16/19)
Bảng 1. Đặc điểm chu kỳ điều trị 
Bình thường Bất thường p
Số phôi quan sát 459 109
Phôi nang 355 (77,34%) 47 (43,12%) 0,000
Phôi nang khá 154 (43,38%) 2 (4,25%) 0,000
Phôi nang khả dụng 258 (72,68%) 19 (19,15%) 0,000
Bảng 2. Kết quả hình thành phôi nang theo đặc điểm phân chia của phôi
Thông số (giờ) Tạo phôi nang Không tạo phôi nang p
t1 22,87 ± 3,30 25,30 ± 6,36 0,000
t2 25,53 ± 3,27 28,64 ± 6,85 0,000
t3 36,01 ± 4,50 38,43 ± 8,82 0,014
t4 37,92 ± 4,27 43,00 ± 9,88 0,000
t5 50,04 ± 6,74 53,76 ± 10,77 0,007
t8 59,14 ± 9,88 69,33 ± 12,43 0,000
cc2 10,49 ± 3,08 9,81 ± 5,43 0,265
s2 1,91 ± 2,99 4,84 ± 5,24 0,000
s3 9,07 ± 8,18 14,67 ± 10,55 0,002
Bảng 3. Thời điểm phát triển của phôi dựa trên khả năng hình thành phôi nang
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG, NGUYỄN HUYỀN MINH THỤY, LÊ THỊ BÍCH TRÂM, NGUYỄN THỊ THU LAN, HỒ MẠNH TƯỜNG
90
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Kết quả phân tích trên 459 phôi chia bình 
thường cho thấy các thời điểm phát triển của phôi 
(t1, t2, t3, t4,t5, t8) và sự đồng bộ trong quá trình 
phân chia phôi bào (s2, s3) có sự khác biệt giữa 
nhóm phôi nang và nhóm phôi không phát triển 
đến phôi nang (p<0,05) (Bảng 3).
Khoảng tham khảo chuẩn cho từng 
thông số động học
Hai khoảng tứ phân vị có tỉ lệ tạo phôi nang 
cao nhất được chọn làm khoảng thời gian tối ưu 
cho mỗi thông số động học (in đậm) (Bảng 4). 
Kết quả phân tích hồi quy đa biến 
Kết quả phân tích xác định 3 thông số động 
học của phôi ở giai đoạn phân chia có tác động 
đến khả năng hình thành phôi nang là t4, cc2 và 
s3 (Bảng 5).
5. Bàn luận
Tiềm năng của phôi thể hiện khả năng phôi 
phát triển qua các giai đoạn phân chia, tạo phôi 
nang, làm tổ và tạo thai diễn tiến. Bên cạnh tiềm 
năng của phôi, để phôi làm tổ thành công còn 
đòi hỏi nội mạc tử cung phù hợp và sự tương 
thích giữa cơ thể mẹ và phôi, yếu tố liên quan 
đến các tương tác nội tiết, cận tiết và tự tiết [7]. 
Thông 
số
Q1 Q2 Q3 Q4
pT %blas. T %blas. T %blas. T %blas.
t1 25,15 63,4 0,000
t2 27,95 60,5 0,000
t3 39,63 63,6 0,000
t4 41,43 62,9 0,000
t5 54,93 65,4 0,000
t8 65,70 79,6 0,000
cc2 11,90 69,7 0,000
s2 2,17 66,0 0,000
s3 15,7 81,6 0,001
Chú thích: Q_Quartile; T _ khoảng thời gian; %blas. _ % tạo phôi nang
Bảng 4. Khả năng hình thành phôi nang theo các khoảng tứ phân vị
Thông số OR (95%CI)
t1 1,336 (0,329 – 5,433)
t2 2,851 (0,643 – 12,644)
t3 0,537 (0,200 – 1,443)
t4 2,641 (1,033 – 6,750)
t5 1,889 (0,719 – 4,961)
t8 1,687 (0,548 – 5,190)
cc2 3,353 (1,409 – 7,981)
s2 0,495 (0,224 – 1,095)
s3 3,330 (1,277 – 8,685)
Chú thích: OR: odds ratio; CI: confidence interval
Bảng 5. Kết quả phân tích hồi quy đa biến dựa trên khả năng hình thành phôi nang
Do đó, việc nuôi cấy phôi dài ngày và chuyển 
phôi nang là một chiến lược nâng cao tỉ lệ thành 
công dựa trên 2 cơ sở: (1) phôi nang đã vượt 
qua giai đoạn tự hoạt hóa vật chất di truyền của 
phôi nên phôi có cơ hội tồn tại và phát triển tốt 
hơn khi đến tử cung và (2) phôi được chuyển 
vào tử cung đúng điều kiện sinh lý trong tự nhiên 
[8]. Tuy nhiên, hiện nay việc chuyển phôi ở giai 
đoạn phân chia vẫn được thực hiện thường quy 
tại nhiều trung tâm TTTON do e ngại những bất 
lợi của việc nuôi cấy phôi dài ngày như giảm 
số phôi khả dụng hoặc nguy cơ không có phôi 
chuyển, ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy nhân 
tạo đến phôi (epigenetic changes), tăng áp lực 
về khối lượng công việc cho nhân viên y tế, tăng 
chi phí cho bệnh nhân Do đó, việc tiên lượng 
tiềm năng phát triển thành phôi nang trong giai 
đoạn 3 ngày phát triển đầu tiên của phôi là yếu 
tố giúp nâng cao hiệu quả chuyển phôi ở giai 
đoạn phân chia. 
Nghiên cứu này nhằm xác định mối liên hệ 
giữa động học của phôi giai đoạn phân chia với 
khả năng hình thành phôi nang trên bệnh nhân 
Việt Nam điều trị tại IVFAS. Theo đó, cách thức 
phôi phân chia có ảnh hưởng đến khả năng hình 
thành phôi nang. Nhóm phôi có tiến trình phân 
chia bất thường (chiếm tỉ lệ 19,19%) cho kết quả 
hình thành phôi nang thấp hơn đáng kể so với 
nhóm phôi phân chia bình thường (43,12% so 
với 77,34%, p<0,05) (Bảng 2). Theo thống kê 
của một số nghiên cứu tương tự trên thế giới, tỉ 
lệ phôi phân chia bất thường ghi nhận là 19,4% 
[1], 33% (7% phôi phân chia ngược và 26% phôi 
phân chia trực tiếp) [9] hay 24,5% [3]. Đặc biệt, 
trong các nghiên cứu này, phôi được xem là 
phân chia trực tiếp nếu 1 phôi bào phân chia 
thành 3 phôi bào trong thời gian ngắn hơn 5 giờ 
[2]. Tỉ lệ tạo phôi nang khi phôi có dấu hiệu bất 
thường lần lượt là 40% ở nhóm phôi phân chia 
trực tiếp, 56% hoặc 48% ở nhóm phôi đa nhân 
có 2 hoặc ≥ 3 nhân ở mỗi phôi bào [9]. Kết quả 
này chứng tỏ những phôi phân chia bất thường 
vẫn có khả năng phát triển đến giai đoạn phôi 
nang. Như vậy, việc nuôi cấy phôi nang để chọn 
lọc phôi như thường quy vẫn tồn tại nguy cơ sử 
dụng phôi nang có nguồn gốc từ phôi phân chia 
bất thường. Do đó, TLM là một hướng tiếp cận 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 86 - 92, 2016
91
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
mới để sàng lọc phôi có nguy cơ bất thường về 
di truyền liên quan đến động học của phôi [4].
Ngoài ra, trong nghiên cứu hiện tại, tỉ lệ tạo 
phôi nang chất lượng khá ở nhóm phôi phân 
chia bất thường thấp hơn so với nhóm phôi phát 
triển bình thường (4,25% so với 43,38%). Khả 
năng sử dụng phôi nang có nguồn gốc từ phôi 
phân chia bất thường tùy thuộc vào số lượng 
phôi nang thu nhận và thời điểm xảy ra phân 
chia bất thường của phôi. Theo nghiên cứu của 
Rubio và cộng sự vào năm 2012 thì tỉ lệ làm tổ 
của phôi phân chia trực tiếp giảm đáng kể so 
với phôi phân chia bình thường (1% so với 13%, 
p<0,05) [2].
Trong nghiên cứu này, giá trị trung bình của 
các thông số t1, t2, t3, t4, t5, t8, s2 và s3 có 
khác biệt giữa 2 nhóm phôi (p<0,05) (Bảng 3). 
Theo đó, nhóm phôi nang có tiến trình phát triển 
nhanh hơn và phân chia đồng bộ hơn so với 
nhóm phôi không tạo phôi nang. Sự dao động 
về thời điểm phát triển của phôi liên quan trực 
tiếp đến tiến trình của tế bào trong quá trình 
phân chia. Điều kiện nuôi cấy tác động đến sự 
chuyển hóa của các nhân tố xuất phát từ noãn 
như độ trưởng thành của noãn (Escrich và cs., 
2010) kết hợp với ảnh hưởng của nhân tố thuộc 
về tinh trùng có thể gây thay đổi khoảng thời 
gian giữa các lần phân chia phôi bào (pha S). 
Ngoài ra, sự sai lệch trong bộ máy di truyền của 
phôi cũng có thể trì hoãn sự sao chép vật chất di 
truyền (DNA) (Lechniak và cs., 2008), làm thay 
đổi độ dài của chu kỳ phân bào và cách thức 
phân chia phôi bào [1]. Trong khi đó, các yếu 
này đều liên quan trực tiếp đến khả năng phát 
triển của phôi đến giai đoạn phôi nang.
Kết quả phân tích đã xác định được khoảng 
giá trị tham khảo cho các thông số động học 
của phôi ở giai đoạn phôi phân chia trong điều 
kiện tại IVFAS là t1 (<22,95 giờ), t2 (<25,57 
giờ), t3 (33,52-39,63 giờ), t4 (35,27-41,43 
giờ), t5 (45,82-54,93 giờ), t8 (<57,57 giờ), cc2 
(10,33-1,90 giờ), s2 (<0,83 giờ) và s3 (<6,17 
giờ) (Bảng 4). Trong khi đó, các khoảng tham 
khảo được xác định trong nghiên cứu tương tự 
của Mario Cruz và cộng sự vào năm 2012 là t2 
(<25,3 giờ), t3 (<39,6 giờ), t4 (<40,1 giờ), t5 
(48,5–57,9 giờ), cc2 (<11,6 giờ) [8]. Ngoài ra, 
một số nghiên cứu khác dựa trên khả năng làm 
tổ của phôi để xác định khoảng thời gian tham 
khảo cho từng thông số động học như: t3 (35,4–
40,3 giờ), t4 (36,4–41,6 giờ), t5 (48,8–56,6 
giờ), s2 (<0,76 giờ) [1] hay t3 (34 – 40 giờ), 
t5 (45 – 55 giờ) [2]. Sự khác nhau trong chuẩn 
tham khảo về động học của phôi giai đoạn phân 
chia ở các nghiên cứu trên thể hiện tác động của 
điều kiện khảo sát và quần thể mẫu nghiên cứu, 
tương ứng với phác đồ điều trị tại mỗi trung tâm 
TTTON. Do vậy, không thể áp dụng một chuẩn 
tham khảo về động học của phôi nhất định cho 
các trung tâm TTTON không có sự tương đồng 
về điều kiện nuôi cấy phôi và phác đồ điều trị.
Trong nghiên cứu hiện tại, các thông số t4 
(35,27-41,43 giờ), cc2 (10,33-11,90 giờ) 
và s3 (<6,17 giờ) có tác động đến khả năng 
hình thành phôi nang (Bảng 5). Những phôi có 
thông số động học t4, cc2 và s3 nằm trong các 
khoảng tham khảo trên thì khả năng hình thành 
phôi nang cao hơn. Do vậy, các thông số t4, 
cc2 và s3 có thể được sử dụng để tiên lượng 
tiềm năng phát triển thành phôi nang trong 
điều kiện tại IVFAS. Trong khi đó, tùy thuộc vào 
chỉ tiêu tiên lượng và điều kiện của từng trung 
tâm, các nghiên cứu khác trên thế giới đã đưa 
ra các thông số tiên lượng khác nhau. Cụ thể, 
thông số tiên lượng cho khả năng phôi làm tổ 
theo Mesueger và cộng sự vào năm 2011 là t5 
(48,8–56,6 giờ), s2 (<0,76 giờ) và cc2 (<11,9 
giờ) hay t3 (34–40 giờ), cc2 (<10,5 giờ) và t5 
(45–55 giờ) theo Basile và cộng sự vào năm 
2015 Hạn chế của nghiên cứu hiện tại là cỡ 
mẫu chưa lớn và mới chỉ dừng lại ở việc đánh 
giá tiềm năng tạo phôi nang. Do vậy, động học 
của phôi cần tiếp tục được khảo sát trong mối 
liên hệ với khả năng làm tổ của phôi.
TLM được xem là một hướng tiếp cận mới, 
an toàn để đánh giá tiềm năng của phôi, cải 
thiện kết quả và chất lượng của chương trình 
TTTON [10]. Tại Việt Nam, TLM mới được thử 
nghiệm và áp dụng tại một vài trung tâm nên 
thông tin về TLM vẫn còn mới mẻ với cả nhân 
viên y tế và bệnh nhân. Việc thiết lập và xây 
dựng thành công mô hình sử dụng TLM tại các 
trung tâm TTTON trong nước sẽ khẳng định bước 
tiến mới nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng 
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG, NGUYỄN HUYỀN MINH THỤY, LÊ THỊ BÍCH TRÂM, NGUYỄN THỊ THU LAN, HỒ MẠNH TƯỜNG
92
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
dịch vụ điều trị. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị lâm 
sàng của việc ứng dụng TLM không thể khẳng 
định trong thời gian ngắn mà cần trải qua 
nhiều nghiên cứu, khảo sát nhằm xác định mô 
hình phù hợp với điều kiện của từng trung tâm. 
Nghiên cứu hiện tại là bước khởi đầu, cơ sở cho 
việc phát triển các mô hình chọn phôi dựa trên 
tiêu chuẩn hình thái động học tại IVFAS. 
6. Kết luận
Đây là nghiên cứu đầu tiên với cỡ mẫu lớn 
ở Việt Nam về vấn đề này. Động học của phôi 
ở giai đoạn phân chia có liên hệ với tiềm năng 
phát triển thành phôi nang. Kết quả nghiên cứu 
là tiền đề cho việc xây dựng mô hình chọn lựa 
phôi tiềm năng với sự hỗ trợ của hệ thống TLM 
Primo Vision tại IVFAS.
Tài liệu tham khảo
1. Marcos Meseguer, Javier H, Alberto T, Karen MH, Niels BR, and 
Jose R. The use of morphokinetics as a predictor of embryo implantation. 
Human Reproduction. 2011; 26(10): 2658–2671. 
2. Irene Rubio, Reidun K, Inge A, John K, Javier H, María J, Escrib, Jos 
B and Marcos M. Limited implantation success of direct-cleaved human 
zygotes:a time-lapse study. Fertility and Sterility. 2012; 98(6):1458-63.
3. Basile, Vime, Florensa, Aparicio Ruiz, Garcıa V, Remoh and Marcos 
M. The use of morphokinetics as a predictor of implantation: a multicentric 
study to define and validate an algorithmfor embryo selection. Human 
Reproduction. 2015; 30(2): 276–283.
4. Alison Campbell, Simon F, Natalie B, Samantha D, Mark S, Cristina F 
and Lindemann H. Modelling a risk classification of aneuploidy in human 
embryos using non-invasive morphokinetics. Reproductive BioMedicine 
Online. 2013; 26: 477– 485.
5. Daniel JK and Catherine R. Clinical outcomes following selection of 
human preimplantation embryos with time-lapse monitoring: a systematic 
Review. Human Reproduction Update. 2014; 0(0): 1–15.
6. Kirstine Kirkegaard, Aishling A, Hans JI and Thorir H. Choosing the 
best embryo by time lapse versus standard morphology. Fertility and 
Sterility®. 2015; 103(2):323-30.
7. Murat Cetinkaya, Caroline P, Hakan Y, Yesim KC, Zafer A and Semra 
K. Relative kinetic expressions defining cleavage synchronicity are better 
predictors of blastocyst formation and quality than absolute time points. J 
Assist Reprod Genet. 2015; 32:27–35.
8. Marıa Cruz, Nicolas G, Javier H, Inmaculada PC, Manuel M, Marcos 
M. Timing of cell division in human cleavage-stage embryos is linked with 
blastocyst formation and quality. Reproductive BioMedicine Online. 2012; 
25:371-81.
9. Nina Desai, Stephanie P, Linnea RG, Cynthia A, Jeffrey G and 
Tommaso F. Analysis of embryo morphokinetics, multinucleation and 
cleavage anomalies using continuous time-lapse monitoring in blastocyst 
transfer cycles. Reproductive Biology and Endocrinology. 2014; 12:54.
10. Kirstine Kirkegaard, Inge EA and Hans JI. Time-lapse monitoring as a 
tool for clinical embryo assessment. Human Reproduction. 2012;0(0): 1–9.

File đính kèm:

  • pdflien_he_giua_dong_hoc_cua_phoi_giai_doan_phan_chia_voi_tiem.pdf