Kỹ thuật chuyển vị động mạch đốt sống vào động mạch cảnh gốc trong phẫu thuật Hybrid - Chỉ định và kỹ thuật

Đặt vấn đề: Bắc cầu hoặc chuyển vị các

động mạch xuất phát từ quai động mạch chủ

(cảnh, dưới đòn) là kỹ thuật thường qui trong

phẫu thuật Hybrid cho các tổn thương phức tạp

của động mạch chủ ngực. Động mạch đốt sống là

nhánh bên đầu tiên của động mạch dưới đòn trái,

tuy nhỏ nhưng được khuyến cáo bảo tồn trong

các phẫu thuật Hybrid. Trường hợp có bất thường

giải phẫu – như động mạch đốt sống trái xuất

phát thẳng từ quai động mạch chủ , thì nên điều

trị theo cách nào. Mục tiêu của báo cáo là đề xuất

chỉ định và kỹ thuật tái lập tuần hoàn động mạch

đốt sống khi có bất thường giải phẫu (hoặc hẹp do

xơ vữa) trong phẫu thuật Hybrid điều trị bệnh lý

động mạch chủ ngực

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kỹ thuật chuyển vị động mạch đốt sống vào động mạch cảnh gốc trong phẫu thuật Hybrid - Chỉ định và kỹ thuật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kỹ thuật chuyển vị động mạch đốt sống vào động mạch cảnh gốc trong phẫu thuật Hybrid - Chỉ định và kỹ thuật

Kỹ thuật chuyển vị động mạch đốt sống vào động mạch cảnh gốc trong phẫu thuật Hybrid - Chỉ định và kỹ thuật
KỸ THUẬT CHUYỂN VỊ ĐỘNG MẠCH ĐỐT SỐNG VÀO ĐỘNG MẠCH CẢNH GỐC TRONG PHẪU THUẬT HYBRID... 
 47
KỸ THUẬT CHUYỂN VỊ ĐỘNG MẠCH ĐỐT SỐNG VÀO ĐỘNG MẠCH CẢNH 
GỐC TRONG PHẪU THUẬT HYBRID - CHỈ ĐỊNH VÀ KỸ THUẬT 
Dương Ngọc Thắng*, Nguyễn Hữu Ước*, Nguyễn Tùng Sơn*, Nguyễn Kim Dần*, Phạm Tiến Quân*, 
Lê Nhật Tiên*, Lê Đại Thạch*, Nguyễn Văn Đạt*, Nguyễn Xuân Đạt* 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Bắc cầu hoặc chuyển vị các 
động mạch xuất phát từ quai động mạch chủ 
(cảnh, dưới đòn) là kỹ thuật thường qui trong 
phẫu thuật Hybrid cho các tổn thương phức tạp 
của động mạch chủ ngực. Động mạch đốt sống là 
nhánh bên đầu tiên của động mạch dưới đòn trái, 
tuy nhỏ nhưng được khuyến cáo bảo tồn trong 
các phẫu thuật Hybrid. Trường hợp có bất thường 
giải phẫu – như động mạch đốt sống trái xuất 
phát thẳng từ quai động mạch chủ , thì nên điều 
trị theo cách nào. Mục tiêu của báo cáo là đề xuất 
chỉ định và kỹ thuật tái lập tuần hoàn động mạch 
đốt sống khi có bất thường giải phẫu (hoặc hẹp do 
xơ vữa) trong phẫu thuật Hybrid điều trị bệnh lý 
động mạch chủ ngực. 
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô 
tả ba trường hợp lâm sàng bệnh lý – chấn thương 
vùng quai động mạch chủ có bất thường vị trí 
xuất phát động mạch đốt sống trái được điều trị 
bằng can thiệp nội mạch và tái lưu thông động 
mạch đốt sống vào động mạch cảnh chúng trái. 
Kết quả: Không quan sát thấy biến chứng 
liên quan đến phẫu thuật và tái lập tuần hoàn 
động mạch đốt sống rất tốt trên phim chụp kiểm 
tra sau mổ. 
Kết luận: Mặc dù chỉ định còn gây tranh 
cãi, tái thông động mạch đốt sống trái bất thường 
vào động mạch cảnh trái là kỹ thuật an toàn, đem 
lại lợi ích cho bệnh nhân, có thể thực hiện thường 
quy tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. 
Từ khóa: Hybrid, động mạch đốt sống, 
quai động mạch chủ, Việt Đức. 
ABSTRACT 
Background: Bypass or displacement of 
the supra-aortic (carotid, subclavicular) arteries is 
a routine technique in hybrid surgery for complex 
lesions of the thoracic aorta. The vertebral artery 
is the first lateral branch of the left subclavicular 
artery, small but recommended for conservation 
in hybrid surgery. In the event of a anatomical 
abnormality - such as the left vertebral artery 
stemming directly from the cross of the aorta, 
how should it be treated. The objective of the 
report is to propose an indication and technique to 
re-establish vertebral artery circulation if having 
anatomic abnormality in hybrid surgery for 
thoracic aortic pathology.1 
Method: The study describes three clinical 
cases - aortic cross injury and pathology with an 
abnormality of the left vertebral origin location 
treated with endovascular intervention and 
revascularization of the vertebral artery into the 
left carotid artery. 
Results: No complications related to 
surgery and very good circulation of the vertebral 
artery were observed on postoperative screening 
CT-scan. 
* Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
Ngày nhận bài: 31/12/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 26/01/2021 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 48
Conclusion: Although the indication is 
controversial, revascularization of the left 
vertebral artery into the left carotid artery is a safe 
and beneficial technique for patients, and can be 
routinely performed at Viet Duc University 
Hospital. 
Keywords: Hybrid, vertebral artery, aortic 
cross, Viet Duc. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Động mạch đốt sống (ĐMĐS) bên trái là 
nhánh bên đầu tiên của động mạch (ĐM) dưới 
đòn trái, được khuyến cáo bảo tồn trong các kỹ 
thuật Hybrid vùng quai ĐM chủ do chức năng hỗ 
trợ cấp máu não ở người cao tuổi [1]. Kỹ thuật 
Hybrid thông thường là tái thông ĐM dưới đòn 
trái vào ĐM cảnh chung trái + thắt (bít) gốc ĐM 
dưới đòn. Như vậy ĐMĐS trái tiếp tục được cấp 
máu qua ĐM dưới đòn, không cần phải tái thông 
riêng cho ĐMĐS. Tuy nhiên, khi có bất thường 
giải phẫu – ĐMĐS trái xuất phát trực tiếp từ quai 
ĐM chủ, hoặc hẹp khít ĐMĐS có kích thước lớn 
do xơ vữa, thì cần phải tái thông riêng ĐMĐS 
vào 1 ĐM nền cổ, mà thông thường là ĐM cảnh 
chung trái. Đoạn gần của ĐMĐS là đoạn dễ phẫu 
tích và bộc lộ nhất, và cũng là đoạn hay xuất hiện 
thương tổn xơ vữa gây hẹp lòng mạch. Trên thế 
giới, phẫu thuật tái thông ĐMĐS đã được thực 
hiện từ nhiều năm trước với số lượng đáng kể, ví 
dụ tại Pháp - nghiên cứu của Koskas trong vòng 
12 năm với số lượng bệnh nhân (BN) là 610 [1]. 
Tuy nhiên ở Việt Nam, hiện chưa thấy có nghiên 
cứu hay tài liệu mô tả về kỹ thuật cũng như chỉ 
định phẫu thuật đối với ĐMĐS. Nhân ba trường 
hợp phẫu thuật chuyển vị ĐMĐS vào ĐM cảnh 
chung trái trên BN lóc ĐM chủ type B, chúng tôi 
muốn đưa ra cái nhìn tổng quát về mặt kỹ thuật 
cũng như đóng góp thêm về chỉ định của phẫu 
thuật tái lập tuần hoàn ĐMĐS. 
II. TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG 
Ca lâm sàng thứ nhất 
BN nam 70 tuổi, làm ruộng, sống cùng vợ 
và em trai, không rõ tiền sử tăng huyết áp, không 
đái tháo đường, hút thuốc lá và thuốc lào nhiều 
năm. BN nhập viện ngày 23/10/2019 vì lý do đau 
ngực trái - khởi phát cách 1 tuần, trong tình trạng 
tỉnh, không đau ngực, mạch 83 lần/phút, huyết áp 
(HA) 140/80mmHg. Các xét nghiệm lâm sàng, 
siêu âm tim, điện tâm đồ tại thời điểm nhập viện 
không thấy bất thường. Phim chụp cắt lớp vi tính 
đa dãy (MSCT) hệ mạch máu cho thấy: hình ảnh 
lóc ĐM chủ (ĐMC) từ sau chỗ xuất phát ĐM 
dưới đòn trái, ĐM thận trái xuất phát từ lòng giả, 
ĐM cảnh trong trái tắc hoàn toàn, ĐMĐS trái 
xuất phát từ quai ĐMC. BN được chẩn đoán lóc 
ĐMC type B/Tắc hoàn toàn ĐM cảnh trong trái, 
ĐMĐS trái xuất phát từ quai ĐMC. Can thiệp bằng 
phẫu thuật Hybrid ngày 5/11/2019: Bắc cầu ĐM 
cảnh phải – trái và bắc cầu ĐM cảnh trái – ĐM 
dưới đòn trái bằng mạch nhân tạo PTFE đường 
kính 7mm, tái lưu thông ĐMĐS trái bằng kỹ thuật 
chuyển vị vào ĐM cảnh chung trái; đặt stentgraft 
Valiant 36x32x200mm và 32x32x200mm ĐMC từ 
sau chỗ chia ra thân ĐM cánh tay đầu phải đến 
trên chỗ chia ra ĐM thân tạng 3cm. 
Kết quả: Chụp mạch khi tiến hành đặt 
stentgraft cho thấy các cầu nối lưu thông tốt, 
không có hiện tượng rò (endoleak) sau khi đặt 
stentgraft vào vị trí. Về mặt lâm sàng BN ổn định, 
rút ống nội khí quản ngay sau mổ, không có biểu 
hiện thiếu máu não sau mổ. Phim chụp MSCT 
ngày thứ 7 sau phẫu thuật cho thấy các cầu nối 
thông tốt, không có rò quanh stentgraft. BN được 
ra viện vào ngày thứ 11 sau mổ. 
KỸ THUẬT CHUYỂN VỊ ĐỘNG MẠCH ĐỐT SỐNG VÀO ĐỘNG MẠCH CẢNH GỐC TRONG PHẪU THUẬT HYBRID... 
 49
Hình 1. ĐMĐS trái xuất phát từ quai ĐMC (1); Tổn thương lóc ĐMC (2) trên phim MSCT 
Ca lâm sàng thứ hai 
BN nam 51 tuổi, làm ruộng, tiền sử tăng 
huyết áp 1 năm điều trị không thường xuyên. BN 
được chuyển đến từ bệnh viện tỉnh Thái Nguyên 
vào ngày 21/12/2019 do tình trạng đau ngực 5 
ngày trước. Tại thời điểm vào viện, BN tỉnh, 
mạch 110 lần/phút, HA 170/100 mmHg, không 
có dấu hiệu thần kinh khu trú, mạch ngoại vi rõ. 
Xét nghiệm khi vào viện thấy tình trạng hạ natri 
máu 126,3 mmol/l, các thăm dò chức năng khác 
không thấy bất thường. Kết quả MSCT hệ mạch 
máu cho thấy hình ảnh lóc tách ĐMC với lỗ rách 
lớn ngay sát chân ĐM dưới đòn trái lan lên quai 
ĐMC và lan xuống ĐM chậu gốc hai bên kèm 
theo nhiều ổ loét xuyên thành ĐMC xuống, 
ĐMĐS trái xuất phát từ quai ĐMC. BN được 
chẩn đoán lóc tách ĐM chủ type B/bất thường vị 
trí xuất phát ĐMĐS trái/ tăng HA. Can thiệp bằng 
phẫu thuật Hybrid ngày 02/01/2020: Bắc cầu ĐM 
cảnh phải – trái bằng mạch nhân tạo PTFE đường 
kính 7mm, tái lưu thông ĐMĐS trái và ĐM dưới 
đòn trái bằng kỹ thuật chuyển vị vào ĐM cảnh 
chung trái, đặt stentgraft Relay plus 
36x32x250mm ĐMC ngực từ sau chỗ chia ra 
thân ĐM cánh tay đầu phải đến trên chỗ chia ra 
ĐM thân tạng 3cm. 
Kết quả: Chụp MSCT kiểm tra ngày thứ 5 
sau mổ cho thấy các cầu nối thông tốt, không có 
hiện tượng rò đối với stentgraft. BN được ra viện 
ngày thứ 7 sau mổ. 
Ca lâm sàng thứ ba 
BN nam 42 tuổi, tiền sử khỏe mạnh, tai nạn 
ngã cao 2m ngày 02/03/2020, đã nhập viện Bãi 
Cháy - Quảng Ninh với chẩn đoán đa chấn 
thương: chấn thương ngực kín xử trí dẫn lưu 
màng phổi hai bên, chấn thương cột sống vỡ T12, 
L1, L2, chấn thương bụng kín tụ máu khoang sau 
phúc mạc. Ngày 12/03/2020, BN đau ngực tăng, 
khó thở nhiều được đặt ống nội khí quản, chụp 
MSCT lồng ngực phát hiện tổn thương vỡ eo 
ĐMC, ĐMĐS trái xuất phát từ quai ĐMC. BN 
được chuyển đến bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. 
Can thiệp phẫu thuật Hybrid ngày 13/03/2020: 
phẫu thuật chuyển vị ĐM dưới đòn trái và ĐMĐS 
trái vào ĐM cảnh gốc trái, đặt stent graft ĐMC 
ngực Valiant 28x28x150mm vào vị trí sau ĐM 
cảnh gốc trái. 
Kết quả: Chụp kiểm tra trong mổ cho thấy 
các mạch máu thông tốt, không có rò từ 
stentgraft. BN được chuyển khoa phẫu thuật cột 
sống điều trị tiếp ngày thứ 5 sau phẫu thuật. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 50
Hình 2. Tư thế BN và vị trí rạch da (A) - ĐM dưới đòn và ĐMĐS được nối với ĐM cảnh gốc 
Kỹ thuật chuyển vị ĐMĐS vào ĐM cảnh 
chung trái: 
BN nằm ngửa, kê gối dưới vai, cổ ngửa 
tối đa và cố định đầu quay phải tối đa (Hình 
2A). Đường rạch song song bờ trước cơ ức đòn 
chũm trái, bộc lộ ĐM cảnh chung trái đoạn 
trước khi chia ra ĐM cảnh trong và cảnh ngoài. 
Để bộc lộ ĐM đốt sống đoạn V1, vén ĐM cảnh 
chung và thần kinh X vào trong, tĩnh mạch 
cảnh trong ra ngoài, mở cân cổ sâu, thắt và cắt 
rời tĩnh mạch đốt sống bắt chéo trước ĐMĐS. 
Phẫu tích ĐM đốt sống trên đoạn dài khoảng 
4cm từ sát chỗ ĐM chui vào lỗ mỏm ngang đốt 
sống cổ C6 về phía nguyên ủy. Tiêm heparin 
tĩnh mạch liều 50UI/kg cân nặng, kẹp bên ĐM 
cảnh chung trái, mở mạch khoảng 1cm, kẹp và 
cắt rời đầu gần ĐM đốt sống trái, đóng đầu 
dưới, làm miệng nối giữa ĐM đốt sống trái và 
ĐM cảnh chung trái kiểu tận bên bằng chỉ 
prolene 6.0 mũi vắt (Hình 2B). Thời gian kẹp 
ĐM cảnh gốc trái và ĐMĐS trái để làm miệng 
nối cho 3 ca lâm sàng của chúng tôi lần lượt là 
11,12 và 11 phút. 
III. BÀN LUẬN 
Giải phẫu ĐMĐS (Hình 3): ĐMĐS có 
đường kính khoảng 3-5mm, được phân chia thành 
4 đoạn: Đoạn V1 - ĐM đốt sống tách ra từ ĐM 
dưới đòn đi lên trên rồi chui vào lỗ đốt sống của 
đốt sống cổ C6; đoạn V2 - tính từ vị trí đi vào lỗ 
đốt sống C6 đến lỗ đốt sống C2; đoạn V3 - đoạn 
dưới xương chẩm tính từ vị trí đi ra khỏi lỗ đốt 
sống C2 đến vị trí ĐM xuyên qua màng cứng ở lỗ 
chẩm; đoạn V4 - đoạn trong sọ từ lỗ chẩm đến 
chỗ hợp lưu với ĐM đốt sống bên đối diện. 
Hình 3. Giải phẫu ĐMĐS [8] 
KỸ THUẬT CHUYỂN VỊ ĐỘNG MẠCH ĐỐT SỐNG VÀO ĐỘNG MẠCH CẢNH GỐC TRONG PHẪU THUẬT HYBRID... 
 51
Bất thường nguyên ủy ĐMĐS trái là hình 
thái bất thường quai ĐMC ít gặp, chiếm khoảng 
2,4% đến 5,8% dân số [2]. ĐMC được hình thành 
từ mầm ĐMC bụng và mầm ĐMC lưng ở tuần thứ 
3, từ đó chia ra 6 nhánh quai ĐMC [3]. Quá trình 
quay của rễ ĐMC lưng phải và ống động mạch 
phải hình thành quai ĐMC bình thường. Tất cả 
những sai lệch trong quá trình này sẽ gây ra các 
biến đổi giải phẫu của quai ĐMC. Hay gặp nhất là 
quai ĐMC kiểu “bovine” với thân chung ĐM cảnh 
chiếm 10-22%, hẹp eo ĐMC chiếm 5-7% và 
ĐMĐS trái xuất phát từ quai chiếm 2-6% [4]. Mặc 
dù bất thường giải phẫu của ĐMĐS trái không gây 
ra bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào, nhưng biến đổi 
này có thể liên quan đến nguy cơ lóc ĐMC. Tapia 
và cộng sự [5] quan sát thấy liên quan có ý nghĩa 
thống kê giữa bất thường vị trí xuất phát của 
ĐMĐS trái với tổn thương lóc ĐMC type B. 
Nghiên cứu trên chỉ ra rằng hình thái của quai 
ĐMC quyết định vị trí lỗ vào của thương tổn lóc 
ĐMC. Tuy nhiên cần có thêm các nghiên cứu về 
huyết động để khẳng định kết quả trên. 
Việc nắm vững các biến đổi giải phẫu của 
mạch máu xuất phát từ quai ĐMC rất quan trọng 
trong các trường hợp điều trị bệnh lý ĐMC. Có 
khoảng 40% các trường hợp đặt stentgraft ĐMC 
cần che lỗ xuất phát của ĐM dưới đòn trái [6]. 
Tái lập tuần hoàn ĐMĐS khi đặt stentgraft ĐMC 
ngực cho phép duy trì tưới máu cho vùng não 
sau. Đối với các trường hợp ĐMĐS xuất phát từ 
quai ĐMC, Mitchell và cộng sự [7] sử dụng phân 
loại cải tiến cho vị trí bắt đầu của stentgraft, trong 
đó vùng 2 được chia thành 2 vùng: 2a (stentgraft 
đặt ở vị trí phía xa lỗ vào ĐM cảnh trái qua hết 
phía gần ĐMĐS trái); và 2b (stentgraft che vị trí 
phía xa lỗ vào ĐMĐS trái qua hết phía gần ĐM 
dưới đòn trái). Các tác giả Trung Quốc [8] 
khuyến cáo thực hiện tái thông ĐMĐS trái khi 
stentgraft ở vùng 1 và vùng 2a nếu ĐMĐS trái ưu 
thế hoặc không ưu thế nhưng tuần hoàn đa giác 
Willis không hoàn thiện. Theo nghiên cứu của 
Rizvi và cộng sự, trên BN được đặt stentgraft 
ĐMC ngực và che lỗ vào ĐM dưới đòn trái, có 
6% thiếu máu tay trái, 4% thiếu máu tủy, 2% 
thiếu máu não vùng sống nền [9]. Hướng dẫn của 
Hội phẫu thuật mạch máu thế giới (SVS) cũng chỉ 
khuyến cáo tái lưu thông ĐMĐS trái và ĐM dưới 
đòn trái trong một số trường hợp nhất định [10]. 
Tuy nhiên tại Trung tâm Tim mạch và Lồng 
ngực, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, trong những 
năm gần đây đã thực hiện tái thông ĐMĐS 
và/hoặc ĐM dưới đòn trái cho tất cả các BN được 
điều trị bằng kỹ thuật đặt stentgraft ĐMC ngực có 
che lỗ vào ĐM dưới đòn trái. Theo quan điểm của 
chúng tôi, việc tái lập tuần hoàn ĐMĐS trái 
và/hoặc ĐM dưới đòn trái đem lại các lợi ích sau: 
thứ nhất, duy trì tưới máu cho vùng não sau và 
tủy sống nhất là trong trường hợp có kèm theo 
thiểu sản ĐMĐS bên phải hoặc đa giác mạch 
Willis được hình thành chủ yếu từ ĐMĐS trái 
hoặc stentgraft che lấp ĐM tủy sống (ĐM 
Adamkiewicz); thứ hai, duy trì tình trạng tưới 
máu cho tay trái rất quan trọng với các BN thuận 
tay trái, những BN có nghề nghiệp đặc biệt cần sử 
dụng cả hai tay như vận động viên, nhạc công...; 
thứ ba, với những BN trẻ tuổi, thời gian sống 
thêm dài, việc tái lập tuần hoàn ĐM dưới đòn 
giúp duy trì lưu lượng tuần hoàn của ĐM ngực 
trong để sử dụng trong phẫu thuật bắc cầu chủ 
vành hoặc tạo thông động tĩnh mạch tay trái nếu 
BN có suy thận trong tương lai; thứ tư, trong khi 
thực hiện phẫu thuật, chúng tôi tiến hành thắt gốc 
của ĐMĐS và ĐM dưới đòn trái, làm giảm nguy 
cơ rò (endoleak) type 2 sau đặt stentgraft, không 
cần tiến hành thủ thuật nút ĐMĐS trái hoặc ĐM 
dưới đòn trái. 
Về mặt kĩ thuật tái lập tuần hoàn ĐMĐS, có 
thể sử dụng kĩ thuật chuyển vị ĐMĐS trực tiếp 
vào ĐM cảnh gốc trái hoặc tạo cầu nối giữa ĐM 
đốt sống trái và ĐM dưới đòn trái bằng tĩnh mạch 
hiển hoặc đoạn mạch nhân tạo. Theo Blumberg 
và cộng sự [11], các phẫu thuật tái lập tuần hoàn 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 52
ở đoạn đầu của ĐM đốt sống có tỉ lệ tai biến 
mạch não và tử vong sau mổ chỉ khoảng 0,9% 
trong khi đó các phẫu thuật tái lập tuần hoàn ở 
đoạn xa có tỉ lệ tai biến mạch não và tử vong cao 
gấp 3 lần. Do số lượng BN trong nghiên cứu của 
chúng tôi còn ít, không quan sát thấy các tai biến 
liên quan đến phẫu thuật như: tụ dịch, rò bạch 
huyết, tắc cầu nối, chảy máu, giả phồng miệng 
nối mạch máu, tai biến mạch não, tử vong. 
Nhưng qua kết quả của 3 ca lâm sàng cho thấy 
phẫu thuật tái lập tuần hoàn ĐMĐS là phẫu thuật 
khá an toàn với thời gian phẫu thuật ngắn, vết mổ 
nhỏ, thời gian thiếu máu não ngắn, thời gian kẹp 
ĐM cảnh gốc trái và ĐMĐS trái để làm miệng 
nối đều dưới 15 phút - trong giới hạn cho phép về 
ngoại khoa. 
IV. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật tái lập tuần hoàn ĐMĐS trong 
điều trị bệnh lý - chấn thương tại vùng quai ĐMC 
và ĐMC xuống bằng can thiệp nội mạch vẫn còn 
là vấn đề gây tranh cãi. Tuy nhiên tại Trung tâm 
Tim mạch và Lồng ngực, bệnh viện Hữu nghị 
Việt Đức, chúng tôi tiến hành một cách thường 
quy do những lợi ích của phẫu thuật, đồng thời nó 
cũng không gây thêm biến chứng hay ảnh hưởng 
đến kết quả can thiệp nội mạch điều trị bệnh lý 
ĐMC. Trong tương lai, chúng tôi dự kiến sẽ tiếp 
tục tiến hành các phẫu thuật này và nghiên cứu 
kết quả lâu dài của phẫu thuật. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Koskas et al. (1995). Direct transposition 
of the distal cervical vertebral artery into the 
internal carotid artery. Annals of Vascular 
Surgery, 9(6), 515-524. 
2. Lemke AJ, Benndorf G, Liebig T et al. 
(1999). Anomalous origin of the right vertebral 
artery: review of the literature and case report of 
right vertebral artery origin distal to the left 
subclavian artery. AJNR Am J Neuroradiol, 
20,1318-1321. 
3. Kau T, Sinzig M, Gasser J et al. (2007). 
Aortic development and anomalies. Semin 
Intervent Radiol, 24,141-152. 
4. Layton K, Kallmes DF, Cloft HJ et al. 
(2006). Bovine aortic arch variant in humans: 
clarification of a common misnomer. AJNR Am J 
Neuroradiol, 27,1541-1542. 
5. Tapia G.P., Zhu X., Xu J. et al. (2015). 
Incidence of branching patterns variations of the 
arch in aortic dissection in Chinese patients. 
Medicine (Baltimore), 94,795. 
6. Feezor RJ, Martin TD, Hess PJ et al. 
(2007). Risk factors for perioperative stroke 
during thoracic endovascular aortic repairs 
(TEVAR). J Endovasc Ther, 14, 568-573. 
7. Mitchell R.S., Ishimaru S., Ehrlich M.P. 
et al. (2002). First International Summit on 
Thoracic aortic endografting: roundtable on 
thoracic aortic dissection as an indication for 
endografting. J Endovasc Ther, 9,98-105. 
8. Huanyu Ding, Yi Zhu, Huiyong Wang et 
al. (2019). Management of type B aortic 
dissection with an isolated left vertebral artery. 
Journal of vascular surgery, 70(4), 1065-1071. 
9. Rizvi AZ, Murad MH, Fairman RM et al. 
(2009). The effect of left subclavian artery 
coverage on morbidity and mortality in patients 
undergoing endovascular thoracic aortic 
interventions: a systematic review and meta-
analysis. J Vasc Surg, 50,1159-1169. 
10. Matsumura JS, Lee WA, Mitchell RS et 
al. (2009). The Society for Vascular Surgery 
Practice Guidelines: management of the left 
subclavian artery with thoracic endovascular 
aortic repair. J Vasc Surg, 50,1155-1158. 
11. Sheila N. Blumberg, Mark A. Adelman, 
Thomas S. Maldonado (2017). Aberrant left vertebral 
artery transposition and concomitant carotid-
subclavian bypass for treatment of acute intramural 
hematoma with thoracic endovascular aortic repair. 
Journal of vascular surgery, 65(3), 860-864. 

File đính kèm:

  • pdfky_thuat_chuyen_vi_dong_mach_dot_song_vao_dong_mach_canh_goc.pdf