Kiến thức về vệ sinh tay của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2019

Nghiên cứu mô tả dựa vào cuộc điều tra cắt ngang được tiến hành nhằm đánh giá và so sánh kiến thức về vệ sinh tay giữa các nhóm nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2019. Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 125 nhân viên y tế (NVYT) với bộ phiếu điều tra gồm 30 câu hỏi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận được mức độ nhận thức ở cả 3 nhóm đối tượng nghiên cứu (bác sỹ, điều dưỡng viên/ nữ hộ sinh, hộ lý) còn thấp ở nhiều nội dung phỏng vấn như: đường truyền chính của vi sinh vật gây bệnh tại cơ sở y tế, nguồn gây ra nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuyên nhất, thời gian tối thiểu để chà tay bằng dung dịch chứa cồn (<30%), và="" phương="" pháp="" vst="" phù="" hợp="" cho="" một="" số="" trường="" hợp="" cụ="" thể="" như="" “sau="" khi="" trải="" giường="" cho="" bệnh="" nhân”=""><40%), “trước="" khi="" đeo="" găng="" tay=""><50%). tỷ="" lệ="" nhân="" viên="" y="" tế="" có="" kiến="" thức="" đạt="" tại="" bệnh="" viện="" đa="" khoa="" kiến="" xương="" chỉ="" chiếm="" 47,2%.="" đdv/nhs="" là="" nhóm="" có="" kiến="" thức="" tốt="" hơn="" so="" với="" bác="" sỹ,="" hộ="" lý="" nhưng="" sự="" khác="" biệt="" này="" là="" không="" có="" ý="" nghĩa="" thống="" kê="" (p="">005)

pdf 5 trang phuongnguyen 40
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức về vệ sinh tay của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kiến thức về vệ sinh tay của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2019

Kiến thức về vệ sinh tay của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2019
SỐ 4 (51) - Tháng 07-08/2019
Website: yhoccongdong.vn96
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
TÓM TẮT
Nghiên cứu mô tả dựa vào cuộc điều tra cắt ngang được 
tiến hành nhằm đánh giá và so sánh kiến thức về vệ sinh tay 
giữa các nhóm nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Kiến 
Xương, tỉnh Thái Bình năm 2019. Nghiên cứu đã tiến hành 
phỏng vấn 125 nhân viên y tế (NVYT) với bộ phiếu điều tra 
gồm 30 câu hỏi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận 
được mức độ nhận thức ở cả 3 nhóm đối tượng nghiên cứu 
(bác sỹ, điều dưỡng viên/ nữ hộ sinh, hộ lý) còn thấp ở nhiều 
nội dung phỏng vấn như: đường truyền chính của vi sinh vật 
gây bệnh tại cơ sở y tế, nguồn gây ra nhiễm khuẩn bệnh viện 
thường xuyên nhất, thời gian tối thiểu để chà tay bằng dung 
dịch chứa cồn (<30%), và phương pháp VST phù hợp cho 
một số trường hợp cụ thể như “sau khi trải giường cho bệnh 
nhân” (<40%), “trước khi đeo găng tay sạch”(<50%). Tỷ lệ 
nhân viên y tế có kiến thức đạt tại bệnh viện đa khoa Kiến 
Xương chỉ chiếm 47,2%. ĐDV/NHS là nhóm có kiến thức 
tốt hơn so với bác sỹ, hộ lý nhưng sự khác biệt này là không 
có ý nghĩa thống kê (p>005).
Từ khoá: Vệ sinh tay, NVYT, kiến thức, bệnh viện 
tuyến huyện.
SUMMARY
KNOWLEDGE ON HAND HYGIENE OF HEALTH 
CARE WORKERS IN KIEN XUONG GENERAL 
HOSPITAL, THAI BINH PROVINCE IN 2019
The descriptive, cross-sectional study was 
implemented to evaluate and compare the knowledge on 
hand hygiene among healthcare workers in Kien Xuong 
district hospital in Thai Binh province in 2019. The study 
included interviews with 125 healthcare workers with a 
questionnaire consisting of 30 questions. In this study, 
we documented a poor knowledge level with regard to 
the sources and transmission of germs, the minimum time 
required for effective alcohol-based hand rub (<30%), 
and type of hand hygiene methods required to be used in 
certain situations such as “after making a patients bed” 
(<40%), “before wearing clean gloves” (<50%) in all the 
three groups.The proportion of qualified health workers 
was quiet low (only 47.2%). Hand hygiene knowledge 
of nurses/midwives was higher than that of doctors and 
care assistants however the difference was no statistical 
significant (p>0.05).
Keywords: Hand hygiene, healthcare workers, 
knowledge, district hospital.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) đang là một trong 
những vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay. Nhiều 
nghiên cứu đã chứng minh NKBV làm gia tăng tỷ lệ biến 
chứng, kéo dài thời gian nằm viện, gây ra gánh nặng về 
kinh tế và tăng tỷ lệ tử vong [7], [8].Tình trạng NKBV 
cũng như những gánh nặng trên ở các quốc gia đang phát 
triển thậm chí còn phổ biến hơn trong đó có Việt Nam [8].
Vệ sinh tay (VST) là biện pháp đơn giản và hiệu quả 
giúp giảm tỷ lệ NKBV và tình trạng kháng kháng sinh ở các 
cơ sở y tế. Tuy nhiên, việc thực hiện VST của NVYT còn 
chưa được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Tại Việt Nam, 
tỷ lệ NVYT tuân thủ VST còn thấp [6]. Bên cạnh đó những 
nghiên cứu đánh giá về kiến thức, thực hành VST tại các 
bệnh viện tuyến huyện còn hạn chế và không đầy đủ.
Vì vậy nhằm góp phần vào nâng cao nhận thức, thực 
hành của NVYT về tuân thủ vệ sinh tay trong các hoạt 
động chăm sóc người bệnh, chúng tôi tiến hành thực hiện 
nghiên cứu với mục tiêu: “Đánh giá và so sánh kiến thức 
của nhân viên y tế về vệ sinh tay tại Bệnh viện đa khoa 
Kiến Xương tỉnh Thái Bình năm 2019”.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
2.1. Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại 
các khoa lâm sàng của Bệnh viện đa khoa Kiến Xương, 
Ngày nhận bài: 28/05/2019 Ngày phản biện: 06/06/2019 Ngày duyệt đăng: 20/06/2019
KIẾN THỨC VỀ VỆ SINH TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH 
VIỆN ĐA KHOA KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2019
Đặng Thị Ngọc Anh1 
1. Trường Đại học Y Dược Thái Bình 
Email: [email protected], SĐT:0369696014
SỐ 4 (51) - Tháng 07-08/2019
Website: yhoccongdong.vn 97
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
tỉnh Thái Bình.
Đối tượng nghiên cứu: NVYT trực tiếp chăm sóc 
người bệnh tại các khoa Lâm sàng của Bệnh viện. 
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ 
tháng 2 năm 2019 đến tháng 6 năm 2019.
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả dựa vào cuộc 
điều tra cắt ngang.
Cỡ mẫu: Toàn bộ NVYT trực tiếp tham gia công tác 
khám chữa bệnh tại các khoa lâm sàng của bệnh viện được 
điều tra cụ thể chức danh NVYT là: Bác sĩ, điều dưỡng, nữ 
hộ sinh và hộ lý. Tổng số NVYT được phỏng vấn là 125 mẫu. 
Chọn mẫu: Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu 
toàn bộ bao gồm tất cả toàn bộ NVYT với chức danh là: 
Bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh và hộ lý đang công tác tại các 
khoa Lâm sàng của Bệnh viện được chọn vào nghiên cứu. 
2.3. Phân tích số liệu
Số liệu của đề tài nghiên cứu được nhập trên phần 
mềm EpiData Entry 3.1. Phân tích kết quả trên phần mềm 
SPSS 20.0. Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng 
bảng và biểu đồ.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Đặc tính mẫu nghiên cứu
Trong tổng số 125 nhân viên y tế tham gia nghiên 
cứu, có 23 bác sỹ (18,4%); 91 điều dưỡng viên/nữ hộ sinh 
(72,8%) và 11 hộ lý (8,8%), trong đó có 22 nam (17,6%) 
và 103 nữ (82,4%). Đa số nhân viên y tế ở độ tuổi 30 – 40 
tuổi (52.0%), thâm niên công tác từ 5 – 10 năm (38,4%). 
Về nơi công tác, số nhân viên y tế công tác tại khối nội 
đông nhất chiếm 71,2%. Tỷ lệ ĐDV/NHS được tập huấn 
về NKBV/VST đạt 91,2% (83/91), trong khi tỷ lệ này ở 
bác sỹ, hộ lý là 65,2% và 72,7%. 
2. Kiến thức
Bảng 1. Kiến thức của NVYT về nhiễm khuẩn bệnh viện
Nội dung
Bác sỹ (n = 23) ĐDV/NHS (n = 91) Hộ lý (n = 11)
SL % SL % SL %
Đường truyền chính của vi sinh vật gây bệnh giữa các 
bệnh nhân tại cơ sở y tế
10 43,5 51 56,0 1 9,1
Nguồn gây ra nhiễm khuẩn bệnh viện thường 
xuyên nhất
8 34,8 28 30,8 6 54,5
Tuân thủ đúng quy trình vệ sinh tay sẽ làm giảm nguy cơ 
mắc nhiễm khuẩn ở người bệnh và chính bản thân mình
23 100 91 100 11 100
Biểu đồ 1. Kiến thức về thời điểm cần vệ sinh tay để ngăn ngừa lan truyền mầm bệnh giữa các người bệnh
Kết quả bảng 1 cho thấy 56% ĐDV/NHS biết bàn 
tay nhiễm bẩn của NVYT là đường truyền chính của vi 
sinh vật gây bệnh tại cơ sở y tế trong khi 43,5% bác sỹ và 
9,1% hộ lý nhận thức đúng điều này. Sự khác biệt là có 
ý nghĩa thống kê (p < 0.05). Tỷ lệ NVYT biết nguồn gây 
ra nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuyên nhất của bác sỹ, 
ĐDV/NHS, hộ lý lần lượt là 34,8%; 30,8% và 54,5%. Tuy 
nhiên, so sánh giữa 3 nhóm NVYT, chúng tôi không thấy 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tất cả NVYT (100%) 
nhận thức được tuân thủ đúng quy trình vệ sinh tay sẽ làm 
giảm nguy cơ mắc nhiễm khuẩn ở người bệnh và chính 
bản thân mình.
SỐ 4 (51) - Tháng 07-08/2019
Website: yhoccongdong.vn98
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Bảng 2. Kiến thức đúng của NVYT về quy trình vệ sinh tay 
Nội dung
Bác sỹ (n = 23) ĐDV/NHS (n = 91) Hộ lý (n = 11)
SL % SL % SL %
Số bước trong quy trình VST thường quy 16 69,6 62 68,1 11 100
Thời gian tối thiểu cần thiết để chà tay bằng dung 
dịch chứa cồn
3 13,0 25 27,5 1 9,1
Bảng 3. Kiến thức của NVYT về lựa chọn phương pháp vệ sinh tay thích hợp 
Nội dung
Bác sỹ (n = 23) ĐDV/NHS (n = 91) Hộ lý (n = 11)
SL % SL % SL %
Sau khi trải giường cho bệnh nhân 7 30,4 32 35,2 0 0
Trước khi khám bụng 12 52,2 59 64,8 3 27,3
Khi tay không nhìn thấy vết bẩn 10 43,5 46 50,5 6 54,5
Trước khi đeo găng tay sạch 4 17,4 32 35,2 5 45,5
Sau khi bàn tay bị rủi ro do vật sắc nhọn 15 65,2 78 85,7 10 90,9
Khi chuyển từ chăm sóc bẩn sang chăm sóc 
sạch trên cùng người bệnh
10 43,5 49 53,8 5 45,5
Bảng 4. Kết quả đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về vệ sinh tay
Mức độ
kiến thức
Tổng (n=125) Bác sỹ (n = 23) ĐDV/NHS (n = 91) Hộ lý (n = 11)
SL % SL % SL % SL %
Không đạt 66 52,8 34 56,5 44 48,4 9 81,8
Đạt 59 47,2 53 43,5 47 51,6 2 18,2
Đa số NVYT nhận thức được cần phải vệ sinh tay 
tại thời điểm trước khi tiếp xúc với bệnh nhân và trước 
khi thực hiện tiêm truyền cho bệnh nhân. Chỉ 60,9% bác 
sỹ và 73,6% ĐDV/NHS biết vệ sinh tay sau khi tiếp xúc 
với dịch cơ thể của bệnh nhân là biện pháp ngăn ngừa lan 
truyền mầm bệnh giữa các người bệnh trong khi tỷ lệ này 
của hộ lý là 90,9%. Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý 
nghĩa thống kê.
Đa số NVYT nhận thức được trong quy trình vệ sinh 
tay thường quy bao gồm 6 bước trong đó nhóm hộ lý có 
tỷ lệ trả lời đúng là 100%. Tỷ lệ NVYT biết về thời gian 
tối thiểu cần thiết để phương pháp chà tay bằng dung dịch 
chứa cồn có tác dụng còn thấp (bác sỹ :13,0%; ĐDV/
NHS: 27,5%; hộ lý: 9,1%). Tuy nhiên, so sánh giữa 3 
nhóm NVYT, chúng tôi không thấy sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê.
Bảng 3 cho thấy hầu hết NVYT lựa chọn đúng 
phương pháp VST thích hợp tại thời điểm “Sau khi bàn 
tay bị rủi ro do vật sắc nhọn” với 65,2% bác sỹ; 85,7% 
ĐDV/NHS và 90,9% hộ lý). Với thời điểm “khi tay 
không nhìn thấy vết bẩn”, “Khi chuyển từ chăm sóc bẩn 
sang chăm sóc sạch trên cùng người bệnh”, tỷ lệ NVYT 
lựa chọn đúng phương pháp chà tay bằng dung dịch chứa 
cồn dưới 55%. Ngoài ra, NVYT chưa nhận thức được 
những trường hợp phương pháp chà tay bằng dung dịch 
chứa cồn có thể thay thế phương pháp rửa tay bằng xà 
phòng và nước như “sau khi trải giường cho bệnh nhân”, 
“trước khi đeo găng tay sạch”.
SỐ 4 (51) - Tháng 07-08/2019
Website: yhoccongdong.vn 99
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 5. So sánh điểm kiến thức giữa các nhóm đối tượng
Điểm 
kiến thức
Bác sỹ (n = 23) ĐDV/NHS (n = 91) Hộ lý (n = 11) p
 18.57 ± 2.86 19.45 ± 2.53 19 ± 0.89 0,303>0,05
Kiến thức chung về vệ sinh tay của NVYT tại Bệnh 
viện đa khoa Kiến Xương đạt 47,2% (59/125). ĐDV/NHS 
là nhóm đối tượng có kiến thức đạt chiếm tỷ lệ cao nhất 
(51,6%) trong khi tỷ lệ này ở hộ lý chỉ đạt 18,2%.
Qua số liệu bảng 5 cho thấy điểm trung bình về kiến 
thức của bác sỹ, ĐDV/NHS và hộ lý lần lượt là 18.57 ± 2.86, 
19.45 ± 2.53, 19 ± 0.89. Tuy nhiên sự khác biệt giữa điểm 
trung bình của 3 nhóm không có ý nghĩa thống kê (p<0.05).
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu tiến hành trên 125 cán bộ y tế đang công 
tác tại các khoa Lâm sàng của Bệnh viện đa khoa Kiến 
Xương, tỉnh Thái Bình. Tuổi trung bình của đối tượng 
nghiên cứu là 33.14 ± 7.4, trong đó chủ yếu là nhóm tuổi 
30 – 40 với 65 cán bộ chiếm 52,0%; kết quả này cũng 
tương đồng với nghiên cứu của nghiên cứu của Hoàng Thị 
Hiền và Phùng Văn Thủy [2], [5]. Đa phần các NVYT là 
nữ giới (chiếm 82,4%). Số NVYT là điều dưỡng viên/nữ 
hộ sinh chiếm tỷ lệ cao (72,8%). 
100% NVYT tại bệnh viện nhận thức được tuân thủ 
đúng quy trình VST sẽ làm giảm nguy cơ mắc nhiễm 
khuẩn ở người bệnh và chính bản thân mình. Tỷ lệ này cao 
hơn trong các nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền và Nguyễn 
Việt Hùng (96,6% và 97,6%) [2], [3].
Đa số NVYT nhận thức được cần phải VST tại thời 
điểm trước khi tiếp xúc với bệnh nhân và trước khi thực 
hiện tiêm truyền cho bệnh nhân. Chỉ 60,9% bác sỹ và 
73,6% ĐDV/NHS biết vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với dịch 
cơ thể của bệnh nhân là biện pháp ngăn ngừa lan truyền 
mầm bệnh giữa các người bệnh trong khi tỷ lệ này của 
hộ lý là 90,9%. Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê.
Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về số bước trong quy 
trình VST thường quy (6 bước) đạt tỷ lệ cao từ 68,1% 
đến 100%. Tuy nhiên, nhận thức của NVYT về thời gian 
tối thiểu của phương pháp chà tay bằng dung dịch chứa 
cồn khá cao. Tỷ lệ bác sỹ, ĐDV/NHS, hộ lý cho rằng thời 
gian tối thiểu của phương pháp này cần trên 20s lần lượt 
là 87%; 72,5% và 90,9%. Điều này cho thấy NVYT vẫn 
chưa có kiến thức đầy đủ về phương pháp chà tay bằng 
dung dịch chứa cồn, mặc dù đây cũng là một phương pháp 
VST có hiệu quả và nhanh. Tuân thủ VST bằng nước và 
xà phòng rất khó đạt tỷ lệ cao vì đòi hỏi nhiều phương tiện 
và yêu cầu thời gian dài hơn. Trên thực tế, khi thực hành 
chăm sóc người bệnh, lavabo nước và xà phòng có thể 
không sẵn có để thực hiện việc VST. Ngay cả khi có đầy 
đủ trang thiết bị thì việc đến lavabo vệ sinh tay sau mỗi lần 
cứ khám hoặc tiêm truyền xong một người bệnh đem lại 
bất tiện cho NVYT và có thể là một trong những nguyên 
nhân khiến NVYT bỏ qua việc VST.
Khi được hỏi về phương pháp VST thích hợp với tính 
chất công việc và hoạt động thăm khám, điều trị, phục vụ 
người bệnh, kết quả cho thấy: hầu hết NVYT lựa chọn 
đúng phương pháp VST thích hợp tại thời điểm “Sau khi 
bàn tay bị rủi ro do vật sắc nhọn” với 65,2% bác sỹ; 85,7% 
ĐDV/NHS và 90,9% hộ lý. Với thời điểm “khi tay không 
nhìn thấy vết bẩn”, “Khi chuyển từ chăm sóc bẩn sang 
chăm sóc sạch trên cùng người bệnh”, tỷ lệ NVYT lựa 
chọn đúng phương pháp chà tay bằng dung dịch chứa cồn 
dưới 55%. Ngoài ra, NVYT chưa nhận thức được những 
trường hợp phương pháp chà tay bằng dung dịch chứa cồn 
có thể thay thế phương pháp rửa tay bằng xà phòng và 
nước như “sau khi trải giường cho bệnh nhân”, “trước khi 
đeo găng tay sạch”. Kết quả này cũng được chỉ ra trong 
nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền [2].
Do vậy, nội dung tập huấn về kiểm soát nhiễm khuẩn 
cũng như tập huấn tuân thủ VST của bệnh viện thời gian 
tới cần nhấn mạnh và dành nhiều thời lượng hơn nhằm 
nâng cao nhận thức của NVYT về phương pháp chà tay 
bằng dung dịch chứa cồn, lựa chọn hóa chất VST phù hợp 
cho từng thời điểm nhằm đạt tỷ lệ cao theo quy định việc 
vệ sinh tay trong thực hành lâm sàng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức chung về vệ 
sinh tay của NVYT tại Bệnh viện đa khoa Kiến Xương 
đạt 47,2% (59/125). ĐDV/NHS là nhóm đối tượng có kiến 
thức đạt chiếm tỷ lệ cao nhất (51,6%) trong khi tỷ lệ này 
ở hộ lý chỉ đạt 18,2%. Kết quả này tương tự nghiên cứu 
của Nguyễn Việt Hùng năm 2005 tại 10 bệnh viện khu 
vực phía Bắc (43,5%) [3] và nghiên cứu của Nguyễn Nam 
Thắng và Lê Đức Cường ở Bệnh viện đa khoa Nam Tiền 
SỐ 4 (51) - Tháng 07-08/2019
Website: yhoccongdong.vn100
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Hải (50,5%) [4]. So với các nghiên cứu của Phùng Văn 
Thủy [5], kết quả này thấp hơn nhưng lại cao hơn nghiên 
cứu của Nguyễn Văn Hà tại một số bệnh viện thuộc tỉnh 
Hưng Yên (36,7%) [1]. Tuy nhiên, sự so sánh này chỉ 
mang tính chất tương đối vì mỗi nghiên cứu sử dụng một 
bộ phiếu phỏng vấn khác nhau và có tiêu chuẩn đạt về kiến 
thức khác nhau.
V. KẾT LUẬN
Kiến thức chung đạt yêu cầu của NVYT về vệ sinh 
tay còn chưa cao (47,2%). ĐDV/NHS là nhóm đối tượng 
có kiến thức đạt chiếm tỷ lệ cao nhất (51,6%) trong khi tỷ 
lệ này ở hộ lý chỉ đạt 18,2%. Trong nghiên cứu này, chúng 
tôi ghi nhận được mức độ nhận thức ở cả 3 nhóm đối tượng 
nghiên cứu (bác sỹ, điều dưỡng viên/ nữ hộ sinh, hộ lý) 
còn thấp ở nhiều nội dung phỏng vấn như: đường truyền 
chính của vi sinh vật gây bệnh tại cơ sở y tế , nguồn gây 
ra nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuyên nhất, thời gian 
tối thiểu để chà tay bằng dung dịch chứa cồn (<30%), và 
phương pháp VST phù hợp cho một số trường hợp cụ thể 
như “sau khi trải giường cho bệnh nhân” (<40%), “trước 
khi đeo găng tay sạch”(<50%). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Hà (2012), “Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả tăng cường vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm 
khuẩn bệnh viện tại một số bệnh viện thuộc tỉnh Hưng Yên, 2009 - 2011, 2012”, Luận án Tiến sĩ Y học, Viện Vệ sinh 
Dịch tễ Trung ương.
2. Hoàng Thị Hiền và cs (2016), “Kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh tay thường quy và một số yếu tố liên 
quan của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Hòe Nhai năm 2015”. Tạp chí Y tế Công cộng, 40, 109-116.
3. Nguyễn Việt Hùng (2005), “Thực trạng phương tiện vệ sinh bàn tay, nhận thức và thực hành vệ sinh bàn tay 
của nhân viên y tế tại một số bệnh viện khu vực phía Bắc, 2005”. Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai, 6/2008, 
136-141.
4. Nguyễn Nam Thắng, Lê Đức Cường (2017), “Kiến thức về rửa tay thường quy của điều dưỡng viên tại hai Bệnh 
viện đa khoa huyện Tiền Hải Thái Bình năm 2017». Tạp chí Y học Dự phòng, 6(27):223 - 229.
5. Phùng Văn Thủy (2014), “Đánh giá thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy và các yếu tố liên quan của nhân 
viên y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014”, Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ quản lý bệnh viện, Trường Đại 
học Y tế Công cộng.
6. Cam Dung Le et al (2019), “Hand Hygiene Compliance Study at a Large Central Hospital in Vietnam”. Int J 
Environ Res Public Health, 16(4).
7. E. I. Kritsotakis et al (2017), “Prevalence, incidence burden, and clinical impact of healthcare-associated 
infections and antimicrobial resistance: a national prevalent cohort study in acute care hospitals in Greece”. Infect Drug 
Resist, 10: 317-328.
8. M. L. Ling et al(2015), “The Burden of Healthcare-Associated Infections in Southeast Asia: A Systematic 
Literature Review and Meta-analysis”. Clin Infect Dis, 60(11): 1690-9.

File đính kèm:

  • pdfkien_thuc_ve_ve_sinh_tay_cua_nhan_vien_y_te_tai_benh_vien_da.pdf